Đang tải...

Máy công nghiệp Cách sử dụng máy cắt tôn thủy (qc12y - 6)

Thảo luận trong 'Cơ khí chế tạo' bắt đầu bởi Ctrl+C, 31/10/10.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. Ctrl+C
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    19/12/09
    Số km:
    1,513
    Được đổ xăng:
    43
    Mã lực:
    186
    Xăng dự trữ:
    -53 lít xăng
    I- ÁP DỤNG CHÍNH, VẬN HÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA MÁY Máy này được sử dụng để cắt các tấm tôn với độ dày từ 0.5 - 6mm và áp lực s b = 450N/mm2, d 5 = 15%. Nếu bạn muốn cắt một tấm tôn dày hơn bạn nên giảm độ cắt dày theo công thức :
    h = (3078/(s b + d 5))1/2 ( Trong đó: s b – N/mm2; d 5%; h - độ dày)
    Máy được hàn ghép từ các tấm thép và thông qua hệ thống chạy bằng nước với độ bền và cứng cao, hoạt động chính xác, độ ồn nhỏ.
    Độ hở của lưỡi cắt được điều chỉnh một cách nhanh chóng và dễ dàng. Máy cắt có hệ thống chia tỷ lệ ở phía trước rầm chia và hệ thống chạy máy ở phía sau máy đo. Độ hở có thể được điều chỉnh bằng tay quay và trị số được chỉ rõ trên máy đếm. Trong lúc đó, máy được trang bị đèn kiểm tra giới hạn để xúc tiến quá trình làm việc hiệu quả của máy. Nó cũng có lá chắn bảo vệ để đảm bảo hoạt động an toàn.
    II- HỆ THỐNG CHẠY NƯỚC
    1- Bản giới thiệu ngắn gọn:
    Hệ thống chạy nước của máy cắt gồm có bơm bánh răng NT3-G25F, van điều chỉnh áp lực, van không quay ngược, van từ và van đầu máy quay.
    Áp lực dầu được sử dụng trong hệ thống cung cấp bởi bơm dầu. Áp lực làm việc lớn nhất được điều chỉnh là 16 Mpa bởi van điều chỉnh áp lực. Áp lực N2 trong xilanh đảo chiều là 4.5 ~ 5.5 Mpa.
    2. Nguyên tắc hoạt động của hệ thống chạy nước
    2.1 Khi YV1 được cắt, lượng dầu của bơm quay trở lại thùng chứa dầu thông qua bơm đầu máy quay và lưỡi dao không hoạt động.
    2.2 Khi lưỡi dao bắt đầu cắt, YV1 được nhiễm điện, lượng dầu sẽ được đi vào 3 luồng thông qua một đường van (3): Luồng thứ nhất sẽ được đi vào để kết hợp với van (4) để điều chỉnh áp lực làm việc của hệ thống, luồng thứ hai sẽ được đi vào xilanh (11) để nén xuống tấm kim loại. Trong suốt quá trình, áp lực dầu sẽ tiếp tục tăng lên, xilanh thắng lực phụ của lò xo và bắt đầu đi xuống. Sau đó xilanh (10) vẫn tiếp tục thắng lực cản trở nó, lưỡi dao được hập xuống, trong khi đó xilanh và lưỡi cắt đã hoàn thành các công đoạn cắt. Lưỡi cắt đi lên khu vực ngắt ở phía trên, công tắc giới hạn được thực hiện bằng cách chặn lại, van từ sẽ ngừng cắt và đóng lại, luồng dầu không chảy và lưỡi cắt co trở lại, máy cắt trở về vị trí bằng xilanh đổi chiều.
    2.3 Hệ thống trở lại bao gồm xilanh đổi chiều. Xilanh đổi chiều được chứa đầy khí N2 và ngăn chặn khí O2, khí nén và khí dễ cháy khác. Chi tiết sẽ được thể hiện đầy đủ ở trang 20
    2.4 Hệ thống chính tự điều chỉnh áp lực.
    Thông qua cách cắt của máy và đồng thời điều chỉnh bằng tay quay của van điều chỉnh áp lực (9) để đạt được 16 Mpa.Khi hoàn thành, đóng công tắc của máy đo.
    3. Những trục trặc của hệ thống thủy lực.
    [​IMG]
    III. CẤU TRÚC CỦA MÁY
    1. Khung: Cấu trúc giống như một chiếc hộp, được hàn ghép từ các tấm thép với độ bền cao. Hai xilanh được lắp ở phía bên phải và phía trái của mỗi cột.Trên bảng được gắn một đòn cân bằng phụ để thực hiện việc điều chỉnh một cách tiện lợi khi lưỡi cắt đi xuống và cuốn lên một cách nhanh chóng cho hoạt động được dễ dàng hơn.
    2. Đòn cân bằng lưỡi cắt: Cấu tạo bởi một tấm thép hàn với độ bền tốt. Nó thực hiện nhiệm vụ cắt thông qua sự chuyển động qua lại bởi xilanh bên phải và bên trái và xilanh đổi chiều sử dụng ống bọc ngoài không đồng tâm như điểm đỡ.
    Bề mặt của lưỡi cắt được giữ theo phương thẳng đứng được gia công với mặt nghiêng cong để đảm bảo khoảng trống phù hợp giữa lưỡi trên và lưỡi dưới trong suốt quá trình hoạt động của máy cắt.
    3. Thiết bị kẹp giữ: Bao gồm một số xilanh được gắn ở tấm đỡ phía trước khung máy. Khi dầu đi vào xilanh, thiết bị đầu tiên phải thắng được lực kéo của lò xo, nhấn xuống, kẹp các tấm đã được cắt, sau đó quay trở về vị trí với sự hỗ trợ của lò xo để hoàn thành hoạt động cắt. Sức kẹp giữ tăng lên khi độ dày của các tấm tôn tăng lên.
    4. Máy đo trước và sau:
    Máy đo trước: Được đặt trên bảng để nhận biết độ đo khi dừng điều chỉnh và đọc các giá trị trong phạm vi. Nó tiện lợi hơn để đo và cắt các tấm tôn mỏng hơn.
    Máy đo sau: Được đặt ở đòn cân bằng và chuyển động lên xuống cùng với nó. Việc điều chỉnh máy đo sau được thực hiện bằng cách nén các bánh răng xoay, nó được truyền động bằng động cơ 0.55 KW. Nhấn nút điều chỉnh “+” để xúc tiến máy đo sau và nhấn nút “- “ để làm chậm máy đo sau. Khi điều chỉnh tự động không đạt yêu cầu, hãy quay lại điều chỉnh bằng tay quay để điều chỉnh phù hợp và đảm bảo trị số yêu cầu. Do vậy máy đo sau dễ dàng và thuận tiện cho điều chỉnh bằng tay.Phạm vi điều chỉnh của máy đo sau là 20 – 600 mm. Khi chiều dài máy cắt dài hơn độ dài Max. Phạm vi điều chỉnh của máy đo sau nó có thể thực hiện bằng cách di chuyển tấm tôn khi nó đã dừng lại tới vị trí khác để tăng lên bằng mức trung bình của rầm chia và cắt bất cứ độ dài nào bạn muốn.
     

Chia sẻ trang này