Đang tải...

Chuẩn đoán động cơ theo áp suất cuôi quá trình nén + áp suất dầu bôi trơn

Thảo luận trong 'Giáo trình cơ sở ngành' bắt đầu bởi sang51ckot, 25/10/12.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. sang51ckot
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    23/10/11
    Số km:
    25
    Được đổ xăng:
    1
    Mã lực:
    1
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    249 lít xăng
    Chuẩn đoán động cơ theo áp suất cuôi quá trình nén
    Áp suât cuôi kỳ nén Pc là tham sô ra, phú thuộc vào mức độ kín khít cụa nhóm các chi tiêt bao kín buoăng cháy: piston xéc mang - lót xilanh, xu páp - đê xu páp, nap và giuang máy.
    Ở tráng thái mòn giới hán Pc giảm không nhiều khoạng (15 -20)%, do sự tích tú muội than trong buồng cháy làm tư sô nén tăng lên bù dắp lại một ít sự rò rỉ khí do mài mòn gây ra.
    Áp suât cuôi kỳ nén Pc chịu ạnh hưởng khá nhiều yêu tô:
    - Do sự trao đổi nhiệt trong suôt quá trình nén giữa môi chât công tác và thành vách xi lanh nên chỉ sô nén đa biên không phại là hằng số (chỉ sô nén đa biến, trong chu trình nén thực tê rât phức tạp và không ngừng thay đổi về trị sô lẫn chiểu, hướng truyền nhiệt giữa môi chất công và vách xi lanh giữa bộ phận nhiên liệu đã bốc hơi và số chưa bốc hơi hoặc với nhiên liệu vừa mới phun vào trong buồng cháy).
    - Do sự tồn tại lượng khí sót cũng như nhiên liệu trong môi chất công tác làm tỉ nhiệt của môi chất cũng luôn biến đổi.
    - Chịu ảnh hưởng của các điều kiện sử dụng (tốc độ, công suất, sức cản đường, ống nạp…) và pha phân phối khí.
    - Do hư hỏng nhóm piston xéc măng - lót xi lanh, gioăng quy lát, xu páp không đóng kín v.v…
    Như vậy, riêng áp suất cuối kỳ nén Pc không phản ánh tình trạng kỹ thuật cụ thể một bộ phận hoặc chi tiết nào hư hỏng, mà chỉ là tham số phản ánh trạng thái chung. Nhưng sự giảm đột ngột của áp suất cuối kỳ nén Pc có thể cho phép kết luận có sự cố cần phải khắc phục.

    Ví dụ: Sự bó kẹt xéc măng, gãy xéc măng, xu páp cong vênh, cháy mặt tiếp xúc của xu páp và đế, nắp máy bị cong vênh, đai ốc nắp quy lát không chặt, gioăng đệm quy lát bị rách hỏng v.v…
    Về mặt lý thuyết, áp suất cuối kỳ nén Pc được tính:
    Pc = Pa n
    Với: Pa: Áp suất trong xi lanh đầu quá trình nạp.
    : Tỉ số nén
    n1: Chỉ số nén đa biến trung bình, luôn thay đổi trên toàn bộ đường nén.
    Theo công thức trên thì Pa, n1 ảnh hưởng trực tiếp tới Pc nếu loại bỏ các yếu tố làm n1 thay đổi trong quá trình đo (đo ở trạng thái động cơ không làm việc, giữ nhiệt độ và tốc độ động cơ không đổi trong suốt quá trình đo…) thì có thể coi n1 như một hằng số.
    Động cơ xăng n1 = 1,34  1,36
    Động cơ điêzel n1 = 1,368  1,372
    Chỉ số nén n1 ở động cơ thực cao hơn, n1 = 1,34  1,39, cá biệt n1= 1,4  1,41.
    Chỉ số nén n1 được giữ không đổi, khi đó ảnh hưởng lớn nhất đến Pc là Pa. Song như đã phân tích ở trên Pa chịu ảnh hưởng của các tham số kết cấu đường nạp (sức cản bầu lọc gió, đường ống nạp, bướm gió…), kết cấu hệ thống phân phối khí và mức độ kín khít nhóm bao kín buồng cháy.
    Sự giảm dần Pc theo thời gian thường là do nhóm piston xéc măng - lót xi lanh bị mài mòn gây nên.
    Khi Pc giảm dưới mức cho phép sẽ gây nên tác hại máy khó nổ (thậm chí có tổ máy không làm việc), máy nóng, công suất giảm, lượng tiêu thụ nhiên liệu tăng.
    Để đo Pc phải sử dụng thiết bị riêng cho từng loại động cơ.
    * Phương pháp đo:
    - Đo từng xi lanh
    - Gá chặt, kín khít đầu đo trên lổ vòi phun hoặc lổ bugi của xilanh kiểm tra.
    - Đảm bảo trạng thái nhiệt và tình trạng bôi trơn trong xi lanh như điều kiện làm việc bình thường của động cơ.
    - Duy trì chính xác số vòng quay trục khuyủ theo quy định.
    * Tiến hành đo với động cơ xăng:
    - Khởi động và cho động cơ chạy tới nhiệt độ quy định sau đó tắt máy.
    - Tháo toàn bộ các bugi, tắt đèn, quạt v.v…
    - Đổ vào mỗi xilanh kiểm tra khoảng 20cm3 dầu bôi trơn trước khi đo
    - Kéo cần mở hoàn toàn bướm ga.
    - Dùng tay ấn đầu cắêm của dụng cụ đo vào lổ bugi của xilanh cần đo, dùng máy khởi động quay trục khuỷu từ 10  12 vòng. Đọc trị số Pc lớn nhất trên đồng hồ.
    Ngừng khoảng 5 phút cho ắc quy hồi điện sau đó mới đo xi lanh khác.
    * Đối với động cơ điêzel:
    - Khởi động động cơ cho chạy đến nhiệt độ quy định sau đó tắt máy.
    - Tháo vòi phun của xi lanh kiểm tra, lắp chặt dụng cụ đo vào lổ vòi phun đó.
    - Khởi động lại động cơ, điều chỉnh máy chạy ổn định ở vòng quay không tải theo quy định, đọc trị số Pc lớn nhất trên đồng hồ.
    - Các xi lanh còn lại làm tương tự.
    Áp suất cuối kỳ nén (Pc) đối với động cơ xăng nằm trong khoảng (0.72.0)MN/m2, động cơ điêzel (3.05.0)MN/m2. Đối với động cơ điêzel tăng áp có tỉ số nén  =(12  13) thì áp suất cuối kỳ nén có thể bằng (4.05.0) MN/m2.
    Độ chênh áp suất cuối kỳ nén giữa các xi lanh trong động cơ thường từ (0.71.0) kG/ cm2, có thể đến 2.0 kG/cm2.

    Chẩn đoán động cơ theo áp suất dầu bôi trơn
    Áp suất dầu bôi trơn được đo trên đường dầu chính (sau lọc dầu) trước khi đi vào bôi trơn các cổ trục trong các động cơ sử dụng phương pháp bôi trơn cưỡng bức.
    Loại trừ các sự cố như: nứt vỡ, tắc đường dầu, điều chỉnh sai hoặc hư hỏng lò xo ở các van an toàn trên bơm và lọc dầu.

    Trường hợp bình thường: áp suất dầu bôi trơn phụ thuộc vào tình trạng mài mòn của bơm dầu bôi trơn, nhiệt độ và độ nhớt của dầu, khe hở giữa các bề mặt ngõng trục và bạc lót. Ngoài ra còn phụ thuộc trạng thái nhiệt, tốc độ động cơ. Nhiệt độ càng cao, độ nhớt càng giảm, tốc độ giảm thấp lượng dầu cung cấp càng ít nên áp suất dầu càng thấp.
    Với bơm dầu bôi trơn, do mài mòn bơm dầu bị giảm lưu lượng vì có hiện tượngï dò rỉ dầu qua khe hở bánh răng, khe hở mặt dầu và bánh răng với vỏ bơm. Song đa số bơm vẫn có thể đáp ứng được yêu cầu bôi trơn vì thường có lưu lượng lớn hơn yêu cầu thực tế một vài lần.
    Độ nhớt dầu càng lớn, áp suất càng cao. Ngược lại nhiệt độ càng tăng, độ nhớt càng giảm do đó áp suất cũng giảm theo. Đặc biệt ở nhiệt độ 20  500C, độ nhớt thay đổi rất nhiều. Đối với mỗi loại động cơ nên sử dụng một loại dầu bôi trơn có tính chất lý hoá nhất định. Khi dùng dầu lâu, kém phẩm chất phải thay thế.
    Tình trạng khe hở giữa các cổ - ngõng trục và bạc lót có ảnh hưởng quyết định tới áp suất dầu bôi trơn, khe hở lớn dầu càng dễ thoát về hai phía nên áp suất giảm.
    Trong trường hợp mài mòn giới hạn, không thể hình thành được màng dầu bôi trơn để duy trì quá trình bôi trơn ma sát ướt, lúc này giữa các bề mặt tiếp xúc ma sát trở thành ma sát không có bôi trơn (ma sát khô) rất dễ gây cháy cổ trục và bạc. Nhất là cổ trục chính ở phía cuối đường dầu và cổ biên của động cơ.
    Như vậy, trong bất kỳ tình huống nào, khi áp suất dầu bôi trơn giảm quá thấp hoặc tăng quá cao so với quy định đều bắt buộc phải dừng máy để kiểm tra sửa chữa.
    Áp suất dầu bôi trơn như một tín hiệu an toàn cho động cơ làm việc. Trên khá nhiều động cơ sử dụng nó để báo nguy, hoặc tắt máy.
    Nếu có biện pháp đo áp suất dầu bôi trơn ở từng vị trí thích hợp, có thể phát hiện hư hỏng cục bộ của động cơ.
    Nhờ sự chênh áp trước và sau lọc dầu có thể phán đoán hiện tượng tắc lọc. Đo áp suất ở đầu và cuối đường dầu chính có thể phán đoán sự mài mòn của các chi tiết trục - bạc thông qua độ chênh áp.
    Giá trị áp suất dầu bôi trơn ở trạng thái nhiệt độ quy định được nhà chế tạo chỉ rõ theo chế độ tốc độ và loại động cơ như sau:
    Vòng quay định mức (nn) Vòng quay chậm (nmin)
    Động cơ xăng P= (2  4) kG/cm2 > 0,5 kG/cm2
    Động cơ điêzel P= (2  6) kG /cm2 (0,51,0)kG/cm2
    Nếu áp suất dầu bôi trơn ở chế độ tốc độ thấp nhất ổn định mà dưới mức cho phép thì động cơ phải đưa vào sửa chữa. Ở động cơ mới, áp suất dầu bôi trơn có thể cao hơn bình thường vì khe hở lắp ghép nhỏ, tuy nhiên áp suất này không vượt quá áp suất đã được điều chỉnh bởi van an toàn lắp song song với bơm dầu bôi trơn.
    Khi áp suất dầu bôi trơn tăng quá cao có thể tắc ở đường dầu chính hoặc ở trục khuỷu, đây là sự cố rất nguy hiểm cho động cơ, phải kịp thời khắc phục.
     
    Đã được đổ xăng bởi truongphonghp.

Chia sẻ trang này