Đang tải...

UTC Công nghệ phục hồi chi tiết

Thảo luận trong 'Điểm đào tạo ngành kỹ thuật chất lượng' bắt đầu bởi imekhanh, 16/1/13.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. donhikite
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    17/10/10
    Số km:
    44
    Được đổ xăng:
    2
    Mã lực:
    21
    Xăng dự trữ:
    203 lít xăng
    Ðề: Công nghệ phục hồi chi tiết

    Link die rồi. Bạn có thể cho mình xin tài liệu này được không. donhikite@gmail.com. Thanks!
     
  2. nguyensau1970
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    2/10/13
    Số km:
    4
    Được đổ xăng:
    0
    Mã lực:
    0
    Xăng dự trữ:
    369 lít xăng
    Ðề: Công nghệ phục hồi chi tiết

    LỜI NÓI ĐẦU
    Giáo trình mô đun Nâng cao hiệu quả công việc sửa chữa ô tô được xây dựng và biên soạn dựa trên cơ sở chương trình khung trình độ cao đẳng nghề công nghệ ô tô của Bộ Lao động -Thương bình và Xã hội xây dựng. Nội dung được biên soạn theo tinh thần ngắn gọn, dễ hiểu, các kiến thực trong toàn bộ giáo trình có mối quan hệ lôgíc chặt chẽ.
    Để đáp ứng yêu cầu hiện tại về tài liệu học tập của học viên trong nhà trường và sự phát truyển trong tương lai của ngành công nghệ ô tô, chúng tôi biên soạn giáo trình mô đun “Nâng cao hiệu quả công việc sửa chữa ô tô ” làm tài liệu học tập chính cho sinh viên hệ cao đẳng nghề và làm tài liệu tham khảo cho học sinh trung cấp nghề và công nhân kỹ thuật ngành công nghệ ô tô.
    Khi biên soạn giáo trình, chúng tôi đã cố gắng cập nhật những kiến thức mới nhất có liên quan đến mô đun và phù hợp với đối tượng sử dụng nhưng cố gắng gắn những nội dung lý thuyết với những vấn đề thực tế để giáo trình có tính thực tiễn.
    Giáo trình được biên soạn với dung lượng 60 giờ trong đó 30 tiết lý thuyết và 30 giờ thực hành, đề cập đến các nội dung sau: Bài 1: Xác định đầu ra và năng suất lao động; Bài 2: Cải tiến dụng cụ trang thiết bị và các biện pháp kỹ thuật; Bài 3: Thay đổi phương pháp làm việc; Bài 4: Xây dựng nhóm sản xuất; Bài 5: Thực hiện công việc đào tạo thợ bậc dưới.
    Giáo trình môn đun Nâng cao hiệu quả công việc sửa chữa ô tô được biên soạn theo các nguyên tắc: Tính định hướng thị trường lao động, tính hệ thống và khoa học, tính ổn định và linh hoạt, hướng tới liên thông, chuẩn đào tạo nghề trong nước và thế giới, tính hiện đại và sát thực với sảm xuất.
    Giáo trình môn đun Nâng cao hiệu quả công việc sửa chữa ô tô trình độ Cao đẳng nghề đã được Hội đồng thẩm định trường Cao đẳng nghề Yên Bái nghiệm thu và nhất chí đưa vào sử dụng và được dùng làm giáo trình cho các học viên trong các khoá đào tạo trình độ cao đẳng nghề hoặc cho công nhân kỹ thuật, các nhà quản lý và người sử dụng nhân lực tham khảo.
    Trong quá trình biên soạn do thời gian và trình độ còn hạn chế nên khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được các ý kiến đóng góp của người sử dụng và các đồng nghiệp.
    TÁC GIẢ













    MỤC LỤC
    Bài 1 5
    XÁC ĐỊNH ĐẦU RA VÀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 5
    1. QUY TRÌNH SẢN XUẤT 5
    1.1. Sản xuất: 5
    1.2. Đầu vào: 7
    1.3. Đầu ra : 7
    1.4. Giá trị : 7
    1.5. Hiệu quả: 7
    2. TÍNH CHI PHÍ SẢN XUẤT 8
    2.1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất 8
    2.1.1. Khái niệm 8
    2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất: 8
    2.2. Đối tượng và phương pháp kế toán chi phí sản xuất 14
    2.2.1. Đối tượng tính chi phí sản xuất 14
    2.2.2. Phương pháp tính chi phí sản xuất 14
    3. TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 16
    3.1. Bản chất của giá thành sản phẩm : 16
    3.2. Phương pháp tính giá thành 17
    3.2.1. Phương pháp tính gia thành trực tiếp ( tính giá thành giản đơn ) 17
    3.2.2. Phương pháp tổng cộng chi phí: 18
    3.2.3. Phương pháp hệ số: 18
    3.2.4. Phương pháp tỉ lệ chi phí: 18
    3.2.5. Phương pháp loại trừ giá trị SP phụ 18
    3.2.6. Giá thành toàn bộ của sản phẩm 18
    4. CÁC BIỆN PHÁP GIẢM CHI PHÍ SẢN XUẤT 19
    4.1. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả và năng suất trong sản xuất 19
    4.2. Cải tiến năng suất và chất lượng 19
    4.2.1. Cải tiến năng suất: 20
    4.2.2. Cải tiến chất lượng 20
    Bài 2 22
    CẢI TIẾN DỤNG CỤ TRANG THIẾT BỊ VÀ CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT 22
    1. CÔNG DỤNG VÀ PHÂN LOẠI CÁC THIẾT BỊ DÙNG TRONG NGHỀ CÔNG NGHỆ Ô TÔ 22
    1.1. Các thiết bị chung 22
    1.1.1.Các dụng cụ sửa chữa cầm tay 22
    1.1.2. Các dụng cụ đo 24
    1.1.3. Bàn nguội, bàn rà 26
    1.1.4. Máy ép 26
    1.1.5. Máy khoan 26
    1.1.6. Máy mài 26
    1.1.7. Máy nén khí 27
    1.1.8. Bồn rửa chi tiết 27
    1.2. Các thiết bị cố định 27
    1.2.1. Hầm xe 27
    1.2.2. Cầu cạn 27
    1.3. Các thiết bị nâng hạ 28
    1.3.1. Cầu nâng 28
    1.3.2. Kích nâng thủy lực và giá đỡ 28
    1.3.3. Pa-lăng 28
    1.4. Các thiết bị phòng cháy chữa cháy 29
    1.4.1. Bình chữa cháy 29
    1.4.2. Các thiết bị khác 29
    1.5. Thiết bị công nghệ: 29
    1.5.1. Thiết bị kiểm tra chẩn đoán 30
    1.5.2. Thiết bị sửa chữa 30
    2. YÊU CẦU KỸ THUẬT CƠ BẢN CỦA CÁC THIẾT BỊ CHUYÊN DÙNG 33
    2.1. Nhóm thiết bị chuyên dùng tháo lắp phần động cơ: 33
    2.2. Nhóm vam, cảo sửa chữa hệ thống gầm ô tô: 33
    2.3. Nhóm thiết bị phục vụ tháo hộp số, bôi trơn 34
    2.4. Nhóm thiết bị vệ sinh 34
    2.5. Thiết bị Đầu khẩu cho bugi 34
    2.6. Một số thiết bị khác: 34
    3. CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CẢI TIẾN DỤNG CỤ, THIẾT BỊ 35
    3.1. Chọn ưu tiên theo chủng loại 35
    3.2. Chọn dụng cụ theo tốc độ hoàn thành công việc 35
    3.3. Chọn dụng cụ theo độ lớn của mômen quay 36
    3.4. Các chế độ bảo quản kiểm tra sửa chữa định kỳ 36
    3.4.1. Bảo dưỡng 36
    3.4.2. Kiểm tra 37
    3.4.3. Sửa chữa 37
    3.5. Phận tích quá trình sử dụng thiết bị 38
    Bài 3 39
    THAY ĐỔI PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC 39
    1. CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG NGHỀ CÔNG NGHỆ Ô TÔ 39
    1.1. Nhà máy sửa chữa lớn ô tô 39
    1.2. Nhà máy chế tạo phụ tùng ô tô 39
    1.3. Nhà máy lắp ráp ô tô 39
    1.4. Xí nghiệp – Công ty vận tải ô tô 39
    1.5. Xí nghiệp – xưởng bảo dưỡng kỹ thuật tập trung 39
    1.6. Trạm tác động kỹ thuật công cộng 39
    1.7. Trạm – cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm 40
    1.8. Gara bảo quản xe 40
    1.9. Trạm cung cấp vật liệu chạy xe 40
    1.10. Trạm hàng hóa và hành khách 40
    2. TÍNH NHỊP SẢN XUẤT TRONG TỪNG CÔNG ĐOẠN SẢN XUẤT 40
    3. CÁC MÔ HÌNH TỔ CHỨC SẢN XUẤT TIÊU BIỂU 41
    3.1. Tổ chức sản xuất khối lượng lớn 41
    3.2. Tổ chức sản xuất hàng loạt. 41
    3.3. Tổ chức sản xuất đơn chiếc 41
    3.4. Tổ chức sản xuất theo dự án 41
    4. LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC PHÙ HỢP 42
    4.1. Phương pháp tổ chức làm việc hợp lý theo tiêu chuẩn 5s 42
    4.2. Cải tiến lề lối làm việc theo 5S ( Phương pháp KAIZEN ) 42
    4.3. Lập kế hoạch để cải tiến lề lối theo phương pháp Kaizen 43
    4.3. Ứng dụng phương pháp làm việc trong ngành sửa chữa ô tô 43
    Bài 4 46
    XÂY DỰNG NHÓM SẢN XUẤT 46
    1.KHÁI NIỆM VỀ TỔ SẢN XUẤT, HOẠT ĐỘNG NHÓM NHỎ 46
    1.1. Khái niệm về tổ sản xuất 46
    1.2. Khái niệm hoạt động nhóm nhỏ 46
    2. CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG NHÓM 48
    2.1. Tầm quan trọng của nhóm làm việc: 48
    2.2. Phương pháp sản xuất theo nhóm 49
    2.3. Vai trò các thành viên trong nhóm 49
    2.4. Quy tắc nhóm 50
    2.5. Vai trò 50
    2.6. Tương tác nhóm 51
    3. TỔ CHỨC NHÓM HOẠT ĐỘNG 51
    3.1.Phát triển nhóm. 51
    3.2.Hoạt động nhóm: 52
    3.3. Thông tin trong nhóm: 53
    3.4. Thảo luận và ra quyết định trong nhóm: 53
    4. LẬP KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG NHÓM. 54
    4.1. Tập hợp những cá nhân xuất sắc 54
    4.2. Phân công nhiệm vụ phù hợp với khả năng và động cơ 55
    4.3. Đảm bảo sự cân bằng 55
    4.4. Kiểm soát và điều chỉnh kịp thời 55
    4.5. Gây dựng lòng tin 55
    4.6. Chặt chẽ trong công việc và thân mật với mọi người 55
    4.7. Nhắc nhở thường xuyên và kiểm tra sự thực hiện 55
    4.8. Hiệu quả của sản xuất theo nhóm: 56
    Bài 5 57
    ĐÀO TẠO THỢ BẬC DƯỚI 57
    1. ĐỌC TÀI LIỆU VÀ CHUẨN BỊ NỘI DUNG ĐÀO TẠO 57
    1.1. Phương pháp đọc tài liệu 57
    1.2. Chuẩn bị nội dung đào tạo 58
    2. TỔ CHỨC HỘI THẢO CẬP NHẬT KIẾN THỨC CÔNG NGHỆ HIỆN ĐẠI 60
    3. HƯỚNG DẪN KÈM CẶP 61
    TÀI LIỆU THAM KHẢO 65




    Bài 1
    XÁC ĐỊNH ĐẦU RA VÀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

    1. QUY TRÌNH SẢN XUẤT
    Quy trình sản xuất là một quá trình hoàn chỉnh trong đó kết quả là tạo ra sản phẩm cần thiết để bán ra trên thị trường.
    Quy trình sản xuất là quá trình kết hợp hợp lý các yếu tố sản xuất để cung cấp các sản phẩm dịch vụ cần thiết cho xã hội. Nội dung cơ bản của quy trình sản xuất là quá trình lao động sáng tạo tích cực của con người. Tuy nhiên, trong những điều kiện nhất định, quy trình sản xuất bị chi phối ít nhiều bởi quá trình tự nhiên. Trong thời gian của quá trình tự nhiên, bên trong đối tượng có biến đổi vật lý, hóa học, sinh học mà không cần có những tác động của lao động. Hoặc chỉ cần tác động với một mức độ nhất định. Quá trình tự nhiên thể hiện mức độ lệ thuộc vào thiên nhiên, hay nói cách khác, nó thể hiện trình độ trinh phục tự nhiên của con người. Trình độ sản xuất càng cao, thời gian của quá trình tự nhiên càng rút ngắn lại, con người càng chủ động trong quá trình đó.
    Bộ phận quan trọng của quy trình sản xuất chế tạo là quá trình công nghệ, đó chính là quá trình làm biến đổi hình dáng, kích thước, tính chất vật lý hóa học của đối tượng chế biến.
    Quy trình công nghệ lại được phân chia thành nhiều giai đoạn công nghệ khác nhau, căn cứ vào phương pháp chế biến khác nhau, sử dụng máy móc thiết bị khác nhau. Ví dụ: Quy trình dệt vải có thể bao gồm giai đoạn công nghệ sợi, giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn dệt vải, giai đoạn hoàn tất. Sản xuất cơ khí lại bao gồm giai đoạn tạo phôi, giai đoạn gia công cơ khí, giai đoạn lắp ráp.
    Mỗi giai đoạn công nghệ lại có thể bao gồm nhiều bước công việc khác nhau (hay còn gọi là nguyên công ). Bước công việc là đơn vị cơ bản của quá trình sản xuất được thực hiện trên nơi làm việc, do một công nhân hay một nhóm công nhân cùng tiến hành trên một đối tượng nhất định.
    Ví dụ: để chế tạo một trục có bậc và phay rãnh người ta có thể chia ra thành các bước công việc như: lấy tâm, tiện, phay rãnh, mài, sửa nhẵn.
    Khi xét bước công việc, ta phải căn cứ vào cả ba yếu tố: Nơi làm việc, công nhân, đối tượng lao động. Chỉ cần một trong ba yếu tố thay đổi thì bước công việc bị thay đổi.
    1.1. Sản xuất:
    Là quá trình chuyển hóa đầu vào, biến chúng thành đầu ra dưới dạng sản phẩm và dịch vụ.
    Ở nước ta lâu nay có một số người thường cho rằng chỉ có những doanh nghiệp chế tạo, sản xuất các sản phẩm vật chất có hình thái cụ thể như, ô tô, xi măng, tủ lạnh,... mới gọi là các đơn vị sản xuất. Những đơn vị khác không sản xuất các sản phẩm vật chất đều xếp vào loại các đơn vị phi sản xuất. Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, quan niệm như vậy không còn phù hợp nữa.
    Một hệ thống sản xuất sử dụng các yếu tố đầu vào là nguyên vật liệu thô, con người, máy móc, nhà xưởng, kỹ thuật công nghệ, tiền mặt và các nguồn tài nguyên khác để chuyển đổi nó thành sản phẩm hoặc dịch vụ. Sự chuyển đổi này là hoạt động trọng tâm và phổ biến của hệ thống sản xuất. Mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị hệ thống sản xuất, là các hoạt động chuyển hóa của sản xuất.
    Sơ đồ 1: Quá trình sản xuất







    `````









    Như vậy, về thực chất sản xuất chính là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào biến chúng thành các sản phẩm hoặc dịch vụ ở đầu ra. Ta có thể hình dung quá trình này như trong sơ đồ 1
    * Đặc điểm của sản xuất hiện đại
    Quản trị sản xuất ngày càng được các nhà quản trị cấp cao quan tâm, coi đó như là một vũ khí cạnh tranh sắc bén. Sự thành công chiến lược của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào sự đánh giá, tạo dựng, phát triển các nguồn lực từ chức năng sản xuất.
    Sản xuất hiện đại có những đặc điểm:
    - Sản xuất hiện đại yêu cầu phải có kế hoạch hợp lý khoa học, có đội ngũ kỹ sư giỏi, công nhân được đào tạo tốt và thiết bị hiện đại.
    - Quan tâm ngày càng nhiều đến thương hiệu và chất lượng sản phẩm. Đây là một tất yếu khách quan khi mà tiến bộ kỹ thuật ngày càng phát triển với mức độ cao và yêu cầu của cuộc sống ngày càng nâng cao.
    - Càng nhận thức rõ con người là tài sản quí nhất của công ty. Yêu cầu ngày càng cao của quá trình sản xuất, cùng với sự phát triển của máy móc thiết bị, vai trò năng động của con người trở nên chiếm vị trí quyết định cho sự thành công trong các hệ thống sản xuất.
    - Sản xuất hiện đại ngày càng quan tâm đến vấn đề kiểm soát chi phí. Việc kiểm soát chi phí được quan tâm thường xuyên hơn trong từng chức năng, trong mỗi giai đoạn quản lý.
    - Sản xuất hiện đại dựa trên nền tảng tập trung và chuyên môn hóa cao. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã làm cho các công ty thấy rằng không thể tham gia vào mọi lĩnh vực, mà cần phải tập trung vào lĩnh vực nào mình có thế mạnh để giành vị thế cạnh tranh.
    - Sản xuất hiện đại cũng thừa nhận yêu cầu về tính mềm dẻo của hệ thống sản xuất. Sản xuất hàng loạt, qui mô lớn đã từng chiếm ưu thế làm giảm chi phí sản xuất. Nhưng khi nhu cầu ngày càng đa dạng, biến đổi càng nhanh thì các đơn vị vừa− nhỏ, độc lập mềm dẻo có vị trí thích đáng.
    - Sự phát triển của cơ khí hoá trong sản xuất từ chỗ thay thế cho lao động nặng nhọc, đến nay đã ứng dụng nhiều hệ thống sản xuất tự động điều khiển bằng chương trình.
    - Ngày càng ứng dụng nhiều thành tựu của công nghệ tin học, máy tính trợ giúp đắc lực cho các công việc quản lý hệ thống sản xuất.
    - Mô phỏng các mô hình toán học được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ cho việc ra quyết định sản xuất – kinh doanh.
    1.2. Đầu vào:
    Đầu vào của quá trình dịch vụ là quá trình sản xuất có thể phân biệt:
    + Nguyên vật liệu, vật tư → Quá trình sản xuất
    + Khách hàng sẽ được phục vụ trực tiếp. Vật tư, hàng hóa hay thông tin cho quá trình gia công gián tiếp có liên quan khách hàng → Quá trình dịch vụ
    - Quá trình biến đổi: Có nhiều quá trình biến đổi, từ vật tư ở đầu vào để trở thành sản phẩm đầu ra. Khái quát quá trình biến đổi theo 3 đặc tính:
    * Đặc tính: Biến đổi sản xuất, cho sản phẩm đầu ra:
    - Sờ thấy được
    - Cuối cùng để bán
    - Có biến đổi về hình dáng hoặc tính chất vật lý
    Nếu đầu ra thỏa mãn 3 đặc điểm trên là doanh nghiệp sản xuất. Nếu thiếu một sẽ thuộc doanh nghiệp dịch vụ.
    Ví dụ:
    * Đặc tính 2: Khoảng cách giữa nơi sản xuất và người tiêu thụ lớn hơn khoảng cách giữa nơi cung cấp dịch vụ với người tiêu dùng.
    Ví dụ:
    * Đặc tình 3: Khi nào thực hiện quá trình biến đổi?
    Quá trình biến đổi xẩy ra trước khi có nhu cầu gọi là “ làm để kho”. Theo nguyên tắc thì dịch vụ thường được làm sau khi có nhu cầu. Còn sản xuất thì được làm trước khi có nhu cầu.
    Ví dụ:
    1.3. Đầu ra
    + Thành phần để bán
    + Khách hàng đã được dịch vụ
    + Của cải của khách hàng đã được chế biến.
    1.4. Giá trị
    Trong sản xuất, giá trị và hao phí là 2 mặt của một quá trình hoạt động của nhà máy. Giá trị bao hàm ý nghĩa lao động mang lại lợi ích tức là lao động ra sản phẩm thực sự. Lao động không sinh ra sản phẩm chính là hao phí mất đi nhưng không sinh giá trị.
    1.5. Hiệu quả:
    Kết quả đạt được như yêu cầu của việc làm mang lại. Một cách khái quát, hiệu quả lao động chính là giá trị lao động
    Sơ đồ 2: quá trình hoạt động sản xuất









    * Hoạt động sản xuất được tiến hành như sau:
    NGUỒN: ( Thiết bị, thông tin, vật tư, con người ) Sử dụng một cách có hiệu quả → SẢN XUẤT: ( Thu mua vật tư → Sản xuất chế tạo ) Tiến hành theo kế hoạch → SẢN PHẨM: ( Chất lượng, giá thành, giao hàng) Đáp ứng được yêu cầu
    2. TÍNH CHI PHÍ SẢN XUẤT
    2.1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất
    2.1.1. Khái niệm
    Bất kỳ một doanh nghiệp nào, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có đủ ba yếu tố cơ bản, đó là:
    - Tư liệu lao động
    - Đối tượng lao động
    - Sức lao động
    Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp ba yếu tố đó để tạo ra các loại sản phẩm, dịch vụ. Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trình sản xuất kinh doanh đã tạo ra các chi phí tương ứng:
    - Các chi phí về tư liệu lao động
    - Chi phí về các loại đối tượng lao động
    - Chi phí về lao động sống
    Trên phương diện này, chi phí được xác định là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế, dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn.
    Các loại chi phí này phát sinh một cách thường xuyên trong quá trình sản xuất kinh doanh, suốt quá trình tồn tại của doanh nghiệp, nó luôn vận động, thay đổi trong quá trình tái sản xuất. Tính đa dạng của nó luôn được biểu hiện cụ thể gắn liền với sự đa dạng, phức tạp của các loại hình sản xuất kinh doanh khác nhau, của các giai đoạn công nghệ sản xuất khác nhau và sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật.
    Như vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm).
    2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất:
    Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, nhiều thứ khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất kinh doanh cần phải được phân loại theo những tiêu thức phù hợp. Trong kế toán tài chính, chi phí sản xuất kinh doanh thường được phân loại, nhận diện theo những tiêu thức sau:
    - Phân loại theo mục đích, công dụng của chi phí (theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm)
    - Phân loại theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí (theo yếu tố chi phí)
    - Phân loại theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành
    - Phân loại theo lĩnh vực hoạt động
    - Phân loại theo cách thức kết chuyển chi phí (theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên báo cáo tài chính)
    - Phân loại theo yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ở doanh nghiệp
    a) Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí (theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm)
    Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theo khoản mục. Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng, bao gồm:
    - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
    Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.
    - Chi phí nhân công trực tiếp:
    Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công nhân sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ...
    - Chi phí sản xuất chung:
    Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất. Chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố chí phí sản xuất sau:
    + Chi phí nhân viên phân xưởng: bao gồm chí phí tiền lương, các khoản phải trả, các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng, đội sản xuất.
    + Chi phí vật liệu: bao gồm chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất với mục đích là phục vụ và quản lý sản xuất.
    + Chi phí dụng cụ: bao gồm chi phí về công cụ, dụng cụ dùng ở phân xưởng để phục vụ sản xuất và quản lý sản xuất.
    + Chi phí khấu hao tài sản cố định (TSCĐ): bao gồm toàn bộ chi phí khấu hao của TSCĐ thuộc các phân xưởng sản xuất quản lý và sử dụng.
    + Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho hoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xưởng, đội sản xuất.
    + Chi phí khác bằng tiền: là các khoản chi trực tiếp bằng tiền dùng cho việc phục vụ và quản lý sản xuất ở phân xưởng sản xuất.
    - Chi phí bán hàng:
    Chi phí bán hàng là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ. Loại chi phí này có: chi phí quảng cáo, giao hàng, giao dịch, hoa hồng bán hàng, chi phí nhân viên bán hàng và chi phí khác gắn liền đến bảo quản và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa.
    - Chi phí quản lý doanh nghiệp:
    Chi phí quản lý doanh nghiệp là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn doanh nghiệp.
    Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: chi phí nhân viên quản lý, chi phí vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho toàn doanh nghiệp, các loại thuế, phí có tính chất chi phí, chi phí khánh tiết, hội nghị.
    Theo mục đích, công dụng của chi phí thì ba khoản mục đầu là ba khoản mục tính giá thành quy định, chúng là những chi phí liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm phát sinh trong phạm vi các phân xưởng, bộ phận, tổ đội sản xuất.
    b) Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí (theo yếu tố chi phí)
    Theo cách phân loại này người ta sắp xếp các chi phí có cùng nội dung và tính chất kinh tế vào một loại gọi là yếu tố chi phí, mà không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu và có tác dụng như thế nào. Cách phân loại này còn được gọi là phân loại chi phí theo yếu tố.
    Số lượng các yếu tố chi phí sản xuất được phân chia trong từng doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm quá trình sản xuất kinh doanh, đặc điểm sản phẩm sản xuất ra, đặc điểm yêu cầu quản lý và trình độ quản lý của doanh nghiệp, nó còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng thời kỳ và quy định cụ thể của từng quốc gia... Theo chế độ kế toán hiện hành tại Việt Nam khi quản lý và hạch toán chi phí sản xuất các doanh nghiệp phải theo dõi được chi phí theo năm yếu tố sau:
    - Chi phí nguyên liệu và vật liệu:
    Yếu tố chi phí nguyên vật liệu bao gồm giá mua, chi phí mua của nguyên vật liệu dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
    Yếu tố này bao gồm: chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhiên liệu, chi phí phụ tùng thay thế và chi phí nguyên vật liệu khác. Sự nhận biết yếu tố chi phí nguyên vật liệu giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp xác định được tổng giá trị nguyên vật liệu cần thiết cho nhu cầu sản xuất kinh doanh trong kỳ. Trên cơ sở đó các nhà quản trị sẽ hoạch định tổng mức luân chuyển, dự trữ cần thiết của nguyên vật liệu một cách hợp lý, có hiệu quả. Mặt khác đây cũng là cơ sở để hoạch định các mặt hàng thiết yếu để chủ động trong công tác cung ứng vật tư.
    - Chi phí nhân công:
    Yếu tố chi phí nhân công là các khoản chi phí về tiền lương phải trả cho người lao động, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo tiền lương của người lao động.
    Sự nhận biết yếu tố chi phí nhân công giúp các nhà quản trị doanh nghiệp xác định được tổng quỹ lương của doanh nghiệp. Xác định được tổng quỹ lương của doanh nghiệp, từ đó hoạch định mức tiền lương bình quân cho người lao động....
    - Chi phí khấu hao máy móc thiết bị:
    Yếu tố chi phí này bao gồm khấu hao của tất cả tài sản cố định dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
    Việc nhận biết được yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định giúp cho các nhà quản trị nhận biết được mức chuyển dịch, hao mòn tài sản, từ đây hoạch định tốt hơn chiến lược đầu tư, đầu tư mở rộng để đảm bảo cơ sở vật chất thích hợp cho tiến trình sản xuất kinh doanh.
    - Chi phí dịch vụ mua ngoài:
    Chi phí dich vụ mua ngoài là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
    Việc hiểu rõ yếu tố chi phí này giúp các nhà quản trị hiểu rõ hơn tổng mức dịch vụ có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp để thiết lập quan hệ trao đổi, cung ứng với các đơn vị cung cấp tốt hơn.
    - Chi phí khác bằng tiền:
    Chi phí khác bằng tiền là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên.
    Việc nhận biết tốt yếu tố chi phí này góp phần giúp các nhà quản trị hoạch định được lượng tiền mặt chi tiêu, hạn chế tồn đọng tiền mặt....
    Ngoài ra, tùy theo đặc điểm sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý của các doanh nghiệp có thể phân chia chi phí sản xuất thành các yếu tố chi tiết và cụ thể hơn.
    Cách phân loại này chỉ tính chi phí phát sinh lần đầu, không tính chi phí luân chuyển nội bộ. Phân loại chi phí theo yếu tố có tác dụng cho biết nội dung, kết cấu, tỷ trọng từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã sử dụng vào quá trình sản xuất trong tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Số liệu chi phí sản xuất theo yếu tố là cơ sở để xây dựng các dự toán chi phí sản xuất, xác định nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, xây dựng các kế hoạch về lao động, vật tư, tài sản... trong doanh nghiệp. Nó còn là cơ sở để phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, cung cấp số liệu để lập thuyết minh báo cáo tài chính (phần chi phí sản xuất, kinh doanh theo yếu tố), từ đó để tính và tổng hợp thu nhập quốc dân...
    c) Phân loại chi phí sản xuất theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành
    Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm căn cứ để đề ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất lại được phân theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành. Theo cách này, chi phí được chia thành: biến phí và định phí.
    - Biến phí: là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối lượng công việc hoàn thành, như: chi phí về nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp. Cần lưu ý rằng, các chi phí biến đổi nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì lại có tính cố định
    - Định phí: là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng công việc hoàn thành, như: các chi phí về khầu hao tài sản cố định, chi phí thuê mặt bằng, phương tiện kinh doanh, ... Các chi phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thì lại biến đổi nếu số lượng sản phẩm thay đổi.
    d) Phân loại chi phí sản xuất theo lĩnh vực hoạt động
    Căn cứ vào mục đích của từng loại hoạt động trong doanh nghiệp thì chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành: chi phí hoạt động kinh doanh thông thường và chi phí khác.
    + Chi phí hoạt động kinh doanh thông thường
    Căn cứ vào chức năng, công dụng của chi phí, các khoản chi phí này được chia thành chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí hoạt động tài chính.
    * Chi phí sản xuất kinh doanh, bao gồm: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
    - Chi phí sản xuất, gồm:
    + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
    + Chi phí nhân công trực tiếp
    + Chi phí sản xuất chung
    - Chi phí ngoài sản xuất, gồm:
    + Chi phí bán hàng
    + Chi phí quản lý doanh nghiệp
    * Chi phí hoạt động tài chính: là những chi phí và các khoản lỗ liên quan đến các hoạt động về vốn như: chi phí liên doanh, chi phí đầu tư tài chính, chi phí liên quan đến cho vay vốn, lỗ liên doanh ...
    + Chi phí khác:
    Chi phí khác là các khoản chi phí và các khoản lỗ do các sự kiện hay các nghiệp vụ bất thường mà doanh nghiệp không thể dự kiến trước được như: chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng, các khoản phạt, truy thu thuế …
    e) Phân loại chi phí sản xuất theo cách thức kết chuyển chi phí (theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên báo cáo tài chính)
    + Ghi nhận chi phí trong các Báo cáo Tài chính:
    - Chi phí sản xuất, kinh doanh và chi phí khác được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi các khoản chi phí này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chi phí này phải xác định được một cách đáng tin cậy.
    - Các chi phí được ghi nhận trong Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh phải tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí.
    - Khi lợi ích kinh tế dự kiến thu được trong nhiều kỳ kế toán có liên quan đến doanh thu và thu nhập khác được xác định một cách gián tiếp thì các chi phí liên quan được ghi nhận trong Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở phân bổ theo hệ thống hoặc theo tỷ lệ.
    - Một khoản chi phí được ghi nhận ngay vào Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ khi chi phí đó không đem lại lợi ích kinh tế trong các kỳ sau.
    Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ.
    - Chi phí sản phẩm
    Chi phí sản phẩm là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm hay quá trình mua hàng hóa để bán. Đối với doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản phẩm bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
    Khi sản phẩm hàng hóa chưa được bán ra thì chi phí sản phầm nằm ở chỉ tiêu giá vốn hàng tồn kho trong Bảng cân đối kế toán. Chỉ khi nào sản phẩm, hàng hóa đã được bán ra thì chi phí sản phẩm sẽ trở thành chi phí ''Giá vốn hàng bán'' trong Báo cáo Kết quả kinh doanh và được bù đắp bằng doanh thu của số sản phẩm hàng hóa đã bán. Như vậy, sự phát sinh và khả năng bù đắp của chi phí sản phẩm trải qua nhiều kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau.
    - Chi phí thời kỳ
    Chi phí thời kỳ là các chi phí để phục vụ cho hoạt động kinh doanh, không tạo nên giá trị hàng tồn kho mà ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong kỳ mà chúng phát sinh. Chi phí thời kỳ bao gồm: chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
    Chi phí thời kỳ phát sinh ở thời kỳ nào được tính ngay vào kỳ đó và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ mà chúng phát sinh và được ghi nhận trên Báo cáo Kết quả kinh doanh. Ngược lại, chi phí sản phẩm chỉ phải tính để xác định kết quả ở kỳ sau mà sản phẩm được tiêu thụ, không phải tính ở kỳ mà chúng phát sinh. Chi phí sản phẩm phát sinh trong lĩnh vực sản xuất dưới hình thức chi phí sản xuất, sau đó chúng chuyển hóa thành giá trị sản phẩm dở dang, giá trị thành phẩm tồn kho. Khi tiêu thụ chúng chuyển hóa thành giá vốn hàng bán được ghi nhận trên Báo cáo Kết quả kinh doanh
    f) Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ở doanh nghiệp
    Khi xem xét chi phí sản xuất trên cơ sở đầu vào của quá trình sản xuất ở doanh nghiệp thì chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành hai loại:
    - Chi phí ban đầu:
    Chi phí ban đầu là chi phí doanh nghiệp phải lo liệu, mua sắm, chuẩn bị từ lúc đầu để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí ban đầu phát sinh trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh tế bên ngoài, do đó nó còn được gọi là các chi phí ngoại sinh.
    Chi phí ban đầu được phân chia thành các yếu tố chi phí có nội dung kinh tế khác biệt và không thể phân chia được nữa về nội dung kinh tế, vì vậy mỗi yếu tố chi phí được gọi là các chi phí đơn nhất.
    - Chi phí luân chuyển nội bộ:
    Chi phí luân chuyển nội bộ là các chi phí phát sinh trong quá trình phân công và hợp tác lao động trong nội bộ doanh nghiệp. Đây là các chi phí luân chuyển giữa các bộ phận khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp, như: giá trị lao vụ, dịch vụ cung cấp lẫn nhau giữa các bộ phận sản xuất phụ; sản xuất phụ và phụ trợ cung cấp cho sản xuất chính; giá trị của nửa thành phẩm tự chế được sử dụng cho các bộ phận sản xuất tiếp theo...
    Chi phí luân chuyển nội bộ phát sinh do có sự kết hợp các yếu tố đầu vào sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định. Do vậy, chi phí luân chuyển nội bộ là các chi phí tổng hợp được cấu thành bởi nhiều yếu tố chi phí ban đầu, nó còn được gọi là các chi phí hỗn hợp.
    Theo cách phân loại này, ngoài việc biết được chi phí sản xuất đơn nhất theo từng yếu tố chi phí, nó có tác dụng như cách phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố, thì đối với chi phí luân chuyển nội bộ cho phép xác định chính xác nội dung của từng loại chi phí này để từ đó có những phương pháp hạch toán và xác định cụ thể từng loại chi phí luân chuyển nội bộ trong doanh nghiệp. Xác định được phương pháp và trình tự tính giá thành của sản phẩm sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp...
    Ngoài những phương pháp phân loại chi phí sản xuất kinh doanh trên đây, để phục vụ công tác quản trị doanh nghiệp, kế toán có thể còn thực hiện phân loại và nhận diện chi phí sản xuất kinh doanh theo những phương pháp sau:
    - Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí (theo phương pháp quy nạp)
    - Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ với quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và quá trình kinh doanh
    - Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
    - Phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát chi phí
    - Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh để lựa chọn phương án …
    2.2. Đối tượng và phương pháp kế toán chi phí sản xuất
    2.2.1. Đối tượng tính chi phí sản xuất
    Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể phát sinh ở nhiều địa điểm khác nhau, liên quan đến việc sản xuất chế tạo các loại sản phẩm, lao vụ khác nhau. Các nhà quản trị doanh nghiệp cần biết được các chi phí phát sinh đó ở đâu, dùng vào việc sản xuất sản phẩm nào ... Chính vì vậy, chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ phải được kế toán tập hợp theo một phạm vi, giới hạn nhất định, đó chính là đối tượng kế toán chi phí sản xuất.
    Đối tượng tính chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn để tập hợp chi phí sản xuất theo các phạm vi và giới hạn đó. Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất. Thực chất của việc xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là xác định nơi gây ra chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất, giai đoạn công nghệ...) hoặc đối tượng chịu chi phí (sản phẩm, đơn đặt hàng...).
    Khi xác định đối tượng tính chi phí sản xuất trước hết các nhà quản trị phải căn cứ vào mục đích sử dụng của chi phí sau đó phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quản lý sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất sản phẩm, khả năng, trình độ và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
    Tùy thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể mà đối tượng tính chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp có thể là:
    - Từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng.
    - Từng phân xưởng, giai đoạn công nghệ sản xuất.
    - Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, toàn doanh nghiệp.
    Xác định đối tượng chi phí sản xuất một cách khoa học, hợp lý là cơ sở để tổ chức kế toán chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu, ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết ...
    Các chi phí phát sinh, sau khi đã được tập hợp xác định theo các đối tượng kế toán chi phí sản xuất sẽ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ theo đối tượng đã xác định.
    2.2.2. Phương pháp tính chi phí sản xuất
    Phương pháp tính chi phí sản xuất là cách thức sử dụng để tập hợp, phân loại các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong một kỳ theo các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định. Nội dung cơ bản của phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ vào các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định để mở các sổ kế toán nhằm ghi chép, phản ánh các chi phí phát sinh theo đúng các đối tượng hoặc tính toán, phân bổ phần chi phí phát sinh cho các đối tượng đó.
    Tùy thuộc vào khả năng quy nạp của chi phí vào các đối tượng tập hợp chi phí, kế toán sẽ áp dụng các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất một cách thích hợp. Thông thường tại các doanh nghiệp hiện nay có hai phương pháp tập hợp chi phí như sau:
    a) Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp:
    Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các loại chi phí có liên quan trực tiếp đến các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, tức là đối với các loại chi phí phát sinh liên quan đến đối tượng nào có thể xác định được trực tiếp cho đối tượng đó, chi phí phát sinh liên quan đến từng đối tượng tập hợp chi phí cụ thể đã xác định sẽ được tập hợp và quy nạp trực tiếp cho đối tượng đó.
    Phương pháp này yêu cầu kế toán phải tổ chức công tác hạch toán một cách cụ thể, tỉ mỉ từ khâu lập chứng từ ban đầu, tổ chức hệ thống tài khoản, hệ thống sổ kế toán... theo đúng các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, chỉ có như vậy mới đảm bảo các chi phí phát sinh tập hợp đúng theo các đối tượng một cách chính xác, kịp thời và đầy đủ.
    b) Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp:
    Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các chi phí gián tiếp, đó là các chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí đã xác định mà kế toán không thể tập hợp trực tiếp các chi phí này cho từng đối tượng đó.
    Theo phương pháp này, trước tiên căn cứ vào các chi phí phát sinh kế toán tiến hành tập hợp chung các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng theo địa điểm phát sinh hoặc nội dung chi phí. Để xác định chi phí cho từng đối tượng cụ thể phải lựa chọn các tiêu chuẩn hợp lý và tiến hành phân bổ các chi phí đó cho từng đối tượng liên quan.
    Việc phân bổ chi phí cho từng đối tượng thường được tiến hành theo hai bước sau:
    Bước 1: Xác định hệ số phân bổ theo công thức sau

    Trong đó:H: là hệ số phân bổ chi phí
    C: là tổng chi phí cần phân bổ cho các đối tượng
    T: là tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ của các đối tượng cần phân bổ chi phí
    Bước 2: Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng tập hợp cụ thể
    Ci = H x Ti
    Trong đó: Ci: phần chi phí phân bổ cho đối tượng i
    Ti: đại lượng tiêu chuẩn phân bổ dùng để phân bổ chi phí của đối tượng i.
    Đại lượng tiêu chuẩn dùng để phân bổ (còn được gọi là đơn vị công) được lựa chọn tùy vào từng trường hợp cụ thể. Tính chính xác, độ tin cậy của thông tin về chi phí phụ thuộc rất nhiều vào tính hợp lý của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn.
    Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ chi phí có thể được xác định riêng rẽ theo từng nội dung chi phí cần phân bổ, khi đó cũng phải xác định hệ số phân bổ theo từng nội dung chi phí này hoặc cũng có thể xác định chung cho tất cả các chi phí cần phân bổ. Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ tùy thuộc vào đặc thù cụ thể của từng doanh nghiệp.
    Ví dụ phân bổ chi phí:
    Phân bổ chi phí vật liệu phụ cho sản phẩm A và sản phẩm B theo tổng chi phí vật liệu phụ định mức của sản phẩm A và sản phẩm B, biết:
    - Số liệu về chi phí vật liệu phụ thực tế sử dụng cho sản xuất chế tạo sản phẩm A, sản phẩm B trong kỳ là: 18.900.000 đ.
    - Trong kỳ khối lượng sản xuất: 200 sản phẩm A và 300 sản phẩm B.
    - Định mức chi phí vật liệu phụ cho sản phẩm A là 30.000 đ; sản phẩm B là 40.000đ.
    Quá trình phân bổ chi phí vật liệu phụ cho từng sản phẩm như sau:
    - Hệ số phân bổ: H = 18.900.000 : (200 x 30.000 + 300 x 40.000) = l, 05
    - Chi phí vật liệu phân bổ cho:
    + Sản phẩm A = 200 x 30.000 x l,05 = 6.300.000
    + Sản phẩm B = 300 x 40.000 x 1,05 = 12.600.000
    3. TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
    3.1. Bản chất của giá thành sản phẩm :
    Ta biết rằng mục đích của việc bỏ ra một lượng chi phí của các nhà sản xuất là để tạo nên những giá trị sử dụng nhất định, nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội. Sau quá trình sản xuất ra sản phẩm có những khoản chi phí liên quan đến khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành gọi là giá thành sản phẩm.
    Vậy giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí lao động sống, lao động vật hoá và các hao phí khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến một khối lượng sản phẩm, công việc lao vụ hoàn thành nhất định.
    Mục đích của quá trình sản xuất là tạo ra sản phẩm, công việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Sau quá trình sản xuất để có cơ sở xác định hiệu quả của sản xuất cần phải xác định được giá thành sản phẩm, công việc.
    Vậy đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc do doanh nghiệp sản xuất ra cần phải xác định được giá thành và giá thành đơn vị.
    Tuỳ theo đặc điểm của sản xuất, tính chất của sản phẩm, đặc điểm của quá trình công nghệ, cũng như yêu cầu của trình độ hạch toán kinh tế và quản lí của Doanh nghiệp. Đối tượng tính giá thành sẽ khác nhau.
    - Về mặt sản xuất:
    + Nếu sản xuất đơn chiếc thì đối tượng tính giá thành là từng sản phẩm, công việc hoàn thành. Ví dụ: Xí nghiệp đống tàu là từng con tàu, xây dựng cơ bản là từng công trình, hạng mục công trình.
    + Nếu sản xuất hàng loạt thì đối tượng tính giá thành là từng loạt sản phẩm.Ví dụ: Xí nghiệp cơ khí công cụ là hàng loạt máy công cụ...
    + Nếu tổ chức sản xuất hàng loạt sản phẩm khác nhau thì đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm một. Ví dụ: Sản phẩm của xí nghiệp hoá chất, vải trong xí nghiệp dệt, cao su, cà phê trong xí nghiệp nông nghiệp...
    - Về mặt quy trình công nghệ:
    + Nếu quy trình công nghệ giản đơn thì đối tượng tính giá thành chỉ có thể là sản phẩm hoàn thành ở cuối quy trình công nghệ đó.
    + Nếu quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu liên tục ( phân bước ) thì đối tượng tính giá thành có thể là thành phẩm ở giai đoạn cuối. Cũng có thể là nửa thành phẩm ở từng giai đoạn và thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng.
    + Nếu quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu song song thì đối tượng tính giá thành có thể bao gồm cả chi tiết, phụ tùng, bộ phận sản xuất hay thành phẩm. Ví dụ: Sản phẩm lắp ráp.
    Ngoài ra cũng cần phải xem xét: Chu kỳ sản xuất dài hay ngắn, nửa thành phẩm tự chế có phải là sản phẩm hàng hoá bán ra hay không, yêu cầu trình độ quản lí của Doanh nghiệp như thế nào để xác định đối tượng tính giá thành cho phù hợp.
    * Đơn vị tính giá thành và kỳ tính giá thành
    - Đơn vị tính giá thành: Là đơn vị được thừa nhận trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nó phù hợp với tính chất lí, hoá học của sản phẩm, đơn vị phải thống nhất. Ví dụ: Vải (mét), nước mắm, rượi, bia (lít, chai), xi măng (tấn)...
    - Kỳ tính giá thành: Kỳ tính giá thành sản xuất sản phẩm là thời điểm mà kế toán tính giá thành tiến hành tính giá thành sản phẩm, trên cơ sở chi phí sản xuất đã tập hợp được.
    Việc xác định lỳ tính giá thành phụ thuộc vào đặc điểm tổ chức sản xuất, chu ky sản xuất sản phẩm, kỳ tính giá thành có thể phù hợp với kỳ báo cáo, có thể phù hợp với chu kỳ sản xuất sản phẩm: tháng, quý, năm, đơn đặt hàng, công trình, hạng mục công trình...
    3.2. Phương pháp tính giá thành
    Phương pháp tính giá thành sản phẩm là các cách thức, các phương pháp tính toán, xác định giá thành của sản phẩm, dịch vụ theo đúng nội dung chi phí sản xuất, đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, doanh nghiệp phải lựa chọn phương pháp tính giá thành thích hợp. (Có thể dùng một phương pháp hoặc kết hợp hệ thống nhiều phương pháp để tính )
    3.2.1. Phương pháp tính gia thành trực tiếp ( tính giá thành giản đơn )
    * Áp dụng đối với các doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn
    * Đặc điểm quy trình sản xuất giản đơn:
    - Để sản xuất sản phẩm chỉ sử dụng một quy trình công nghệ chế biến. Từ khi bỏ nguyên vật liệu cho đến khi tạo thành thành phẩm là một quy trình khép kín. Khai thác, điện, nước , vận tải ...
    - Mặt hàng sản phẩm ít, khối lượng lớn, chu kỳ ngắn, sản phẩm dở ít hoặc không có.
    - Giới hạn tập hợp chi phí sản xuất cũng là đối tượng tính giá thành: Đều là sản phẩm.
    * Trình tự tính giá thành
    - Căn cứ vào các chứng từ về chi phí phát sinh trong kỳ cho quá trình sản xuất sản phẩm, hoặc các bảng phân bổ chi phí => Kế toán và sổ chi tiết chi phí sản xuất kinh doanh cho từng đối tượng.
    - Cuối tháng kiểm kê đánh giá sản phẩm làm dở
    - Cuối tháng căn cứ vào sổ chi tiết, giá trị sản phẩm làm dở đã xác định được => Tính ra giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm ( Lập bảng tình giá thành )
    * Giá thành sản phẩm được tính như sau:
    Z = Dd + Csx - Dc
    Trong đó: Z : Là tổng giá thành sản xuất sản phẩm
    Dd ,Dc : Là giá trị sản phẩm làm dở đầu kỳ, cuối kỳ
    Csx : Là tổng chi phí sản xuất trong kỳ
    Tổng Giá thành sản phẩm hình thành
    Giá thành Sp =
    Số lượng sản phẩm hoàn thành
    3.2.2. Phương pháp tổng cộng chi phí:
    Áp dụng trong những doanh nghiệp mà quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ, đối tượng kế toán chi phí sản xuất là các bộ phận chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay bộ phận sản xuất.
    Giá thành = Z1 + Z2 + … + Zn
    3.2.3. Phương pháp hệ số:
    Với Doanh nghiệp mà trong một chu kỳ sản xuất cùng sử dụng một thứ vật liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí ko tập hợp riêng cho từng sản phẩm.
    Tổng giá thành của tất cả các loại SP
    Giá thành đơn vị SP Gốc =
    Tổng số sản phẩm gốc (Kể cả quy đổi)
    Giá thành đơn vị sản phẩm từng loại = Giá thành đơn vị sản phẩm gốc x Hệ số quy đổi từng loại
    Tổng giá thành sản xuất của các loại sản phẩm = Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ + Tổng chi phí phát sinh trong kỳ - Giá trị sản phẩm DD cuối kỳ
    3.2.4. Phương pháp tỉ lệ chi phí:
    Căn cứ vào tỉ lệ chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất kế hoạch, kế toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành sản xuất từng loại
    Giá thành Thực tế từng loại Sp = Giá thành kế hoạch (Định mức) x Tỷ lệ chi phí
    Tổng giá thành thực tế của tất cả sản phẩm
    Tỉ lệ chi phí =
    Tổng giá thành kế hoạch (Định mức) của tất cả sản phẩm

    3.2.5. Phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ
    Tổng giá thành sản phẩm chính = Giá trị sản phẩm Chính DD ĐKỳ + Tổng chi phí phát sinh trong kỳ - Giá trị sản phẩm phụ thu hồi ươc tính- Giá trị sản phẩm chính DD cuối kỳ
    3.2.6. Giá thành toàn bộ của sản phẩm
    Giá thành toàn bộ của SP = Giá thành SXSP + CP quản lý DN + chi phí Bán hàng
    Đối tượng tính giá thành chính là các sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính gía thành đơn vị. Đối tượng có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây chuyền SX tuỳ theo yêu cầu của cách hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm.
    4. CÁC BIỆN PHÁP GIẢM CHI PHÍ SẢN XUẤT
    4.1. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả và năng suất trong sản xuất
    Trong hoạt động sản xuất, lao động sinh ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn và chất lượng là lao động sinh ra giá trị, tức làm ra được sản phẩm, mang về lợi nhuận và lao động như thế gọi là lao động có giá trị và hiệu quả sẽ giảm chi phí sản xuất
    * Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả:
    Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả là thước đo hiệu quả được xây dựng dựa trên các tiêu chí tiêu chuẩn sau:
    - Tiến độ, tốc độ sản xuất:
    + Nhip độ sản xuất diễn ra suông sẻ
    + Sản xuất theo đúng tiến độ
    - Sản phẩm:
    + Đáp ứng được yêu cầu chất lượng
    + Giá thành hợp lý
    + Giao hàng đúng yêu cầu khách hàng
    - Năng suất các nguồn:
    +Sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin
    + Sử dụng có hiệu quả vật tư, nguyên liệu
    + Sử dụng có hiệu quả thiết bị
    + Sử dụng con người có hiệu quả
    - Tài chính:
    + Chi, thu có hiệu quả
    + Doanh thu tăng
    + Tái đầu tư có hiệu quả
    + Giá trị tài sản gia tăng
    * Tiêu chuẩn đánh giá năng suất:
    Tiêu chuẩn đánh giá năng suất của hoạt động sản xuất dựa trên sản lượng, số giờ lao động, thời gian chu trình máy.
    - Sản lượng:
    Sản lượng là khối lượng sản phẩm làm được. Sản lượng thực tế làm được thường nhỏ hơn mong đợi (< 100%). Sản lượng thực tế càng cao thì năng suất càng cao.
    - Số giờ lao động thực chất:
    Số giờ lao động thực chất là giờ thực sự làm ra sản phẩm. Giờ lao động mỗi ngày là 8 giờ nhưng giờ lao động thực chất bao giờ cũng nhỏ hơn giờ lao động thực tế, càng tiến gẩn bằng giờ làm việc, năng suất sẽ cao.
    - Thời gian chu trình máy ( Thiết bị):
    Thời gian chu trình máy là thời gian cơ bản để hoàn thành một sản phẩm. Thời gian này không bao gồm thời gian chờ đợi do mất điện, sự cố thiết bị hay nghỉ giữa ca... mà chỉ đơn thuần thời gian hoàn thành một sản phẩm. Thời gian chu trình máy càng ngắn, năng suất càng cao.
    4.2. Cải tiến năng suất và chất lượng
    Năng suất và chất lượng là yếu tố sống còn của sản xuất. Nói theo cách của người nhật: “ Năng suất và chất lượng là hai mặt của đồng tiền”. Cải tiến được năng suất và chất lượng là cải tiến được giá trị và hiệu quả hoạt động sản xuất, chính là cải tiến lợi nhuận và giảm chi phí sản xuất
    4.2.1. Cải tiến năng suất:
    Cải tiến năng suất là tìm biện pháp nhằm tăng tính hiệu quả của lao động trong quá trình sản xuất. Cải tiến năng suất lao động tức là làm tăng số lượng sản phẩm làm ra được trong một đơn vị thời gian nhất định.
    * Công thức:
    Năng suất = Đầu ra / Đầu vào = Sản lượng/ Tổng số giờ công
    * Giải pháp:
    Căn cứ vào công thức tính năng suất, cải tiến năng suất tức là làm thế nào để tăng đầu ra khi đầu vào không đổi, tăng sản lượng khi tổng số giờ công vẫn giữ nguyên.
    Theo phương pháp Kaizen (Bất kỳ việc gì cũng phải có hiệu quả, trong lao động sản xuất cũng vậy, lao động phải có hiệu quả. Để lao động có hiệu quả, lao động phải được tiến hành có trật tự, có nề nếp, khoa học. Tổ chức nơi làm việc theo 5S hay còn gọi là phương pháp KAIZEN do người nhật khởi xướng nhằm làm việc có hiệu quả hơn. KAIZEN theo tiếng nhật nghĩa là thay đổi có lợi. Vậy tổ chức nơi làm việc theo phương pháp KAIZEN hay 5S chính là tổ chức nơi làm việc sao cho có lợi nhất),giải pháp đưa ra đó là huy động năng suất bằng cách tăng đơn đặt hàng sản xuất, giảm chi phí đâu tư, nâng cao hiệu năng lao động bằng cách tiệt trừ các hao phí, tăng tốc độ lao động bằng cách giảm thời gian chu trình thiết bị ( máy). Trình tự thực hiên như sau:
    Xác định các hao phí sinh ra giá trị
    Xác định các hao phí không sinh ra giá trị
    Phân tích các hao phí không sinh ra giá trị
    + Hao phí không sinh giá trị nhưng cần thiết: Hao phí do thủ tục nhận vật tư, nhập kho, vận chuyển sản phẩm....hao phí này có thể tìm cách giảm trừ được.
    + Hao phí không sinh giá trị thuộc loại không cần thiết: Hao phí này có thể tìm cách tiệt trừ.
    Ví dụ:
    + Hao phí thời gian để đi nhận vật tư, nhập sản phẩm do bố trí kho và nơi sản xuất quá xa nhau. Hao phí này có thể giảm trừ.
    + Hao phí thời gian do bố trí nhà vệ sinh quá xa nơi sản xuất, gây lãng công. Hao phí này có thể giảm trừ.
    + Hao phí thời gian do phải dừng sản xuất để sửa chữa thiết bị hư hỏng đột xuất ( không có kế hoạch duy tu bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ hoặc thực hiện không chu đáo). Hao phí này có thể tiệt trừ.
    4.2.2. Cải tiến chất lượng
    * Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng:
    Thước đo chất lượng của đơn vị sản xuất dựa vào số sản phẩm bị khuyết tật bị loại bỏ, những than phiền của khách hàng, những sai sót trong giao hàng, những chi phí không thích hợp.v.v. Giảm trừ các vấn đề trên chất lượng sản phẩm sẽ được cải tiến.
    * Cải tiến chất lượng:
    Chất lượng sản phẩm dựa trên mức độ đáp ứng được các yêu cầu mong muốn của cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng ở sản phẩm đó. Cải tiến chất lượng sản phẩm tức là nâng cao mức độ đáp ứng yêu cầu mong muốn có được ở sản phẩm hay nói một cách khác, cải tiến chất lượng sản phẩm là giảm số sản phẩm bị khuyết tật.
    * Giải pháp cải tiến chất lượng sản phẩm:
    Nếu chỉ đề cập đến cốt lõi của cải tiến chất lượng sản phẩm thì tìm giải pháp để giảm số sản phẩm bị khuyết tật, cải tiến chất lượng sản xuất sẽ thuộc về kỹ thuật và công nghệ và hệ thống quản lý.
    - Cải tiến hệ thống quản lý: Tức là cải tiến hiệu năng quản lý bằng cách quản lý theo phương pháp KAIZEN( 5S) ( 5S được bắt nguồn từ nhật bản vào đầu những năm 80 và đã được áp dụng rộng rãi tại các công ty, trong đó có Việt Nam. Mục đích của áp dụng 5S không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc nâng cao điều kiện và môi trường làm việc trong một tổ chức mà còn làm thay đổi cách suy nghĩ, thói quen làm việc, tăng cường khả năng sáng tạo trong công việc và phát huy vai trò của hoạt động nhóm)
    - Cải tiến kỹ thuật và công nghệ: Nâng cấp thiết bị và đổi mới công nghệ sản xuất.
    Một cách tóm tắt, giải pháp cải tiến năng suất và chất lượng sản xuất chính là có thể tìn sáng kiến cải tiến mới. Để tìm ra những sáng kiến mới, nên phân tích lại quá trình hoạt động sản xuất một cách thường xuyên, khoa học. Khuyến cáo các nước phát triển, việc kiểm tra lại quá trình sản xuất nên phân tích theo nguyên tắc 5W1H (kỹ thuật tư duy có nguồn gốc từ một bài thơ.)

    Nguyên tắc 5W1H
    - Mục đích ( What: những gì thực sự phải làm? Cần thiết khồng?. Why: Tại sao hoạt động này lại cần thiết) Loại trừ các công việc không cần thiết
    - Nơi chốn ( Where: Ở đâu công việc đang tiến hành? Cần tiến hành ở địa điểm nào thích hợp) Kết hợp bất cứ nowii nào có thể
    - Trình tự ( When: khi nào tiến hành? Cần tiến hành vào thời điểm nào?) Sắp xếp lại trình tự công việc để có hiệu quả hơn.
    - Người: (Who: Ai đang thực hiện công việc? Có ai giỏi hơn không?)
    - Phương tiện: (How: Bằng cách nào công việc được thực hiện? Có khả năng khác thực hiện có hiệu quả hơn không?)

    CÂU HỎI – BÀI TẬP
    Câu 1: Hãy trình bày khái niệm quá trình sản xuất. Vẽ và phân tích sơ đồ quá trình sản xuất?
    Câu 2: Thế nào là chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm?
    Câu 3: Trình bày các biện pháp giảm chi phí sản xuất? Ứng dụng biện pháp giảm chi phí sản xuất trong ngành sửa chữa ô tô như thế nào?
    Bài tập:


    Bài 2
    CẢI TIẾN DỤNG CỤ TRANG THIẾT BỊ VÀ CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT

    1. CÔNG DỤNG VÀ PHÂN LOẠI CÁC THIẾT BỊ DÙNG TRONG NGHỀ CÔNG NGHỆ Ô TÔ
    1.1. Các thiết bị chung
    Các thiết bị chung trong xưởng sửa chữa ô tô bao gồm các dụng cụ sửa chữa cầm tay như các bộ cờ-lê, đầu khẩu (đầu tuýp), tuốc-nơ-vít, kìm; các thiết bị đo như thước cặp, pan-me, đồng hồ so, thước lá, đồng hồ đo điện, đồng hồ đo áp suất,… và các thiết bị hỗ trợ công việc gia công sửa chữa như máy mài, máy khoan, bàn nguội,…
    1.1.1.Các dụng cụ sửa chữa cầm tay
    Dụng cụ sửa chữa cầm tay thông dụng dùng để tháo và lắp các bộ phận, chi tiết trên ôtô trong quá trình bảo dưỡng và sửa chữa.

    Hình 2.1. Dụng cụ cầm tay
    a) Cờ-lê (chìa khóa):
    Dùng để tháo hay siết chặt các bu lông, đai ốc.

    Hình 2.2. các loại cờ - lê
    b) Bộ đầu khẩu (tuýp):
    Bao gồm các đầu khẩu có kích thước khác nhau, các loại cần siết, thanh nối, khớp nối. Chức năng của bộ đầu khẩu tương tự như của cờ-lê đầu vòng nhưng cho mô men siết lớn hơn và có thể thao tác ở những vị trí đặc biệt như vùng hẹp, lỗ sâu, trong nghách…

    Hình 2.3. Bộ đầu khẩu
    c) Kìm:
    Có nhiều loại kìm có chức năng khác nhau như:
    Kìm răng, kìm mỏ quạ, kìm mỏ nhọn... Dùng để kẹp, giữ hay kéo và mở một số chi tiết. Kìm cắt để cắt và tuốt dây điện, một số dây thép nhỏ. Kìm mở để tháo và lắp các vòng chặn, có hai kiểu kìm bung và kìm bóp vòng chặn. Kìm bấm dùng để kẹp giữ chặt hay mở một vài chi tiết đặc biệt cần có lực vặn lớn hơn so với các kìm thường…

    Hình 2.4. Các loại kìm

    d) Búa:
    Tùy theo mục đích sử dụng mà có nhiều loại búa khác nhau được trang bị trong xưởng sửa chữa ô tô như búa sắt (thép), búa đồng, búa nhựa, búa cao su với nhiều hình dáng và kích cỡ khác nhau. Các loại búa sắt thường được dùng để đóng tạo ra xung lực để tháo và thay thế chi tiết nào đó, sửa chữa bề mặt thân xe, hay kiểm tra độ siết chặt của các bu lông và gầm xe. Đầu búa có nhiều hình dáng khác nhau như đầu tròn, đầu nhọn, đầu bằng, đầu ngang, đầu dọc… Búa đồng và búa nhựa do có độ mềm nên không phá hỏng bề mặt các chi tiết được đóng.

    Hình 2.5. Các loại búa

    e) Tủ dụng cụ:
    Để bảo quản tốt dụng cụ và thuận tiện trong sử dụng, tất cả các dụng cụ sửa chữa cầm tay thông dụng thường được bố trí đầy đủ và sắp xếp hợp lý trong một tủ dụng cụ. Một tủ dụng cụ có thể được trang bị từ vài chục đến vài trăm dụng cụ sửa chữa cầm tay thông dụng và một số dụng cụ hỗ trợ đặc biệt khác đáp ứng nhu cầu sửa chữa.

    Hình 2.6. Tủ dụng cụ
    g) Tuốc-nơ-vít:
    Gồm có loại đầu bằng, đầu chữ thập và một số đầu đặc biệt khác với nhiều kích thước khác nhau, được sử dụng chủ yếu trong việc tháo lắp các bộ phận và chi tiết thuộc hệ thống điện và nội thất xe.

    Hình 2.7. Tuốc nơ vít
    1.1.2. Các dụng cụ đo
    a) Thước cặp:
    Dùng để đo đường kính ngoài, đường kính trong, chiều dài và độ sâu. Độ chính xác của phép đo thông thường là 0,05mm. Đối với một số thước kẹp có gắn đồng hồ điện tử thì độ chính xác của phép đo có thể đạt 0,02 hay 0,01mm. Phạm vi đo của thước gồm có các cỡ: 0÷150, 0 ÷ 200, 0 ÷ 300 mm. Thước cặp thường được dùng để đo các chi tiết mà không cần độ chính xác cao như đường kính của phớt chắn dầu và lỗ lắp phốt, ổ đỡ, chiều dài cần đẩy, ly hợp,…

    Hình 2.8. Thước cặp
    b) Pan-me:
    Là dụng cụ dùng để đo chiều dày và đường kính ngoài của các chi tiết, có độ chính xác phép đo cao: 0,01mm. Có nhiều kích cỡ pan-me theo phạm vi đo: 0 ÷ 25mm, 25÷ 50mm, 50 mm ÷ 75mm, 75÷ 100mm.
    Trên ô tô, pan-me thường được sử dụng để đo các chi tiết cần có độ chính xác cao như chiều dày đệm chỉnh khe hở xú-páp, đường kính ngoài pít-tông, ắc pít-tông, các cổ trục khuỷu, trục cam,…
    Ngoài ra còn có loại pan-me đo đường kính trong.

    Hình 2.9. Thước Pan me và đồng hồ so
    c) Đồng hồ so (so kế): Là dụng cụ đo hiển thị bằng kim. Chuyển động lên xuống của đầu đo được chuyển thành chuyển động quay của kim chỉ ngắn và dài. Có hai đồng hồ đo: đồng hồ lớn chia thành 100 vạch, mỗi vạch tương ứng 0,01mm, có kim dài chỉ thị kết quả. Đồng hồ nhỏ chia thành 10 vạch, mỗi vạch tương ứng 1mm, được chỉ thị kết quả bằng kim ngắn. Khi kim dài quay được một vòng thì kim ngắn quay được một vạch. Độ chính xác của phép đo là 0,01mm. Đồng hồ so dùng để đo độ độ lệch hay cong của trục, độ vênh của các bề mặt, ví dụ như độ rơ dọc trục của các trục khuỷu, trục và bánh răng trong hộp số, hành trình của các pít-tông trong hộp số tự động, độ đảo của trục các đăng, độ vênh của bánh đà, đĩa phanh,…
    d) Thiết bị đo khác
    Ngoài các dụng cụ đo thông dụng trên, còn có một số dụng cụ đo khác như: Dưỡng so (ca-lip đo trong) dùng để đo đường kính trong của một số chi tiết như bạc lót, lỗ trục,… Đồng hồ đo trong có độ chính xác phép đo cao (0,01mm) dùng để đo đường kính trong của các xy lanh.
    Thước lá (bộ lá cỡ) gồm nhiều cỡ lá có chiều dày khác nhau dùng để đo các khe hở như khe hở xú-páp, độ rơ dọc trục của các bánh răng số,…
    Đồng hồ đo điện (đồng hồ VOM) loại hiển thị bằng kim hay bằng số dùng để đo điện trở, hiệu điện thế, cường độ dòng điện, đi-ốt,…

    hình 2.10. Đồng hồ vạn năng
    1.1.3. Bàn nguội, bàn rà
    - Bàn nguội là bàn làm việc chính trong xưởng sửa chữa, phần lớn công việc thao tác, sửa chữa được thực hiện trên bàn nguội. Bàn nguội thường được bố trí ở sát vách xưởng, cách xa khu vực xe đậu. Bàn nguội được làm bằng khung sắt, mặt gỗ hay tấm sắt dày. Đặc điểm của bàn nguội là có khối lượng lớn, không bị rung động hay xê dịch khi thao tác. Trên bàn nguội thường gắn các ê-tô để gá hay kẹp các chi tiết cần kiểm tra, sửa chữa.
    - Bàn rà cho phép thực hiện các thao tác chà nhám, mài rà mặt phẳng chi tiết trên mặt bàn rà, đồng thời cho phép thực hiện một số phép đo, kiểm tra chi tiết trên đó. Do yêu cầu như vậy, nên bàn rà phải có độ phẳng cao, láng, không bị giãn nở, cong vênh. Do đó, mặt bàn rà thường được làm bằng đá hay hợp kim thép hoặc bằng gang có chiều dày lớn từ 150 – 200 mm, không bị biến dạng bề mặt.

    Hình 2.11. Bàn rà
    1.1.4. Máy ép
    Máy ép tạo ra lực ép lớn dùng để tháo rời hay lắp ghép các chi tiết có độ dôi, ví dụ như ép hay tháo rời các vòng lăn của ỗ đỡ bánh xe, các khớp cao su trong hệ thống treo.

    Hình 2.12. Máy ép
    1.1.5. Máy khoan
    Máy khoan dùng để gia công các lỗ trên các chi tiết bằng kim loại như sắt, thép, nhôm, gang hay bằng nhựa, gỗ.

    Hình 2.13. Các loại máy khoan
    1.1.6. Máy mài
    Máy mài được dùng để mài bề mặt của các vật liệu và chi tiết khác nhau, hoặc dùng để mài sắc các mũi đục, đột,…

    Hình 2.14. các loại máy mài
    1.1.7. Máy nén khí
    Máy nén khí dùng để cung cấp nguồn khí có áp suất cao phục vụ cho công tác sửa chữa. Rất nhiều công việc trong xưởng phải cần đến nguồn khí nén như: các thiết bị dẫn động bằng khí nén như súng vặn bu-lông, máy mài, máy khoan cầm tay loại hơi, xả gió hệ thống phanh, sơn xe, bơm bánh xe, vệ sinh, thổi sạch các chi tiết,… Máy nén khí phải có công suất và dung lượng đủ lớn để có khả năng phục vụ đồng thời nhiều thiết bị và công việc trong xưởng. Nguồn khí nén được phân phối đến nhiều trạm trong xưởng thông qua hệ thống lọc (kể cả sưởi nếu cần thiết như khí nén dùng để phun sơn) và các đường ống phân phối khí nén.

    Hình 2.15. Máy nén khí
    1.1.8. Bồn rửa chi tiết
    Bồn rửa chi tiết sử dụng một dung dịch chất tẩy rửa được đốt nóng và phun ra với một áp suất cao giúp cho quá trình rửa chi tiết được sạch và nhanh, đồng thời tiết kiệm dung dịch chất tẩy rửa.
    1.2. Các thiết bị cố định
    1.2.1. Hầm xe
    Hầm xe được đào âm xuống dưới mặt nền xưởng và được xem là một thiết bị vạn năng được dùng nhiều ở các xưởng sửa chữa ô tô và dùng để kiểm tra xe ở các trạm đăng kiểm. Nó cho phép thực hiện đồng thời nhiều công việc từ mọi phía của xe, đặc biệt là các thao tác ở phía dưới gầm xe.

    Hình 2.16. Các loại hầm xe
    1.2.2. Cầu cạn
    Cầu cạn là cầu nâng bố trí cao hơn mặt đất từ 0.7 – 1.4m có độ đốc khoảng 20–25% để ô tô lên xuống dễ dàng. Cầu cạn có thể làm bằng gỗ, sắt để di chuyển hoặc xây bằng gạch, bê tông. Cầu cạn có ưu điểm là kết cấu đơn giản, có thể di chuyển được, thuận tiện cho việc bảo dưỡng ở phía dưới và hai bên nhưng cũng còn nhược điểm là không nâng bánh xe lên được và có độ dốc để xe lên xuống nên chiếm diện tích lớn.
    1.3. Các thiết bị nâng hạ
    1.3.1. Cầu nâng
    Cầu nâng là thiết bị dùng để nâng hạ ô tô lên khỏi mặt đất đến một độ cao thích hợp nào đó để dễ thao tác, bảo dưỡng và sửa chữa.Có 3 loại cầu nâng với chức năng nâng, trụ đỡ và phương pháp đỡ khác nhau.

    Hình 2.17. cầu nầng
    1.Loại bàn; 2.Loại 2 trụ; 3.Loại 4 trụ
    1.3.2. Kích nâng thủy lực và giá đỡ
    * Kích
    Kích nâng thủy lực là loại thiết bị di động, dùng để nâng một phần xe lên khỏi mặt đất đến một độ cao nào đó để dễ dàng thao tác, bảo dưỡng hay sửa chữa.
    Dùng áp suất thủy lực để nâng phần đầu xe lên.
    * Giá đỡ
    Đỡ xe đã được nâng bới kích.
    Chiều cao xe có thể được điều chỉnh bằng cách thay đổi vị trí chốt

    Hình 2.18. Kích và giá đỡ
    1.Cần xả; 2.Cần đẩy; 3.Tay nâng;4.Đĩa đỡ; 5.Bánh xe; 6.Bánh xe tự lựa;7.Nút nâng (loại khí); 8; Ống không khí (loại khí); 9.Chốt; 10.Lỗ định vị.
    1.3.3. Pa-lăng
    Pa-lăng là thiết bị di động dùng để nâng hạ và di chuyển một cụm chi tiết nào đó của ô tô như động cơ, hộp số, cầu xe,… khi tháo lắp hay sửa chữa. Pa-lăng loại nhỏ được điều khiển bằng cơ khí hay thủy lực, loại pa-lăng có hai trụ và dầm ngang, ròng rọc thường được điều khiển bằng tay, còn loại pa- lăng một trụ được điều khiển bằng thủy lực, thay đổi được độ cao của cần hay gọi là cẩu móc động cơ. Pa-lăng loại lớn thường được bố trí trên trần nhà của xưởng, có hệ thống cáp treo, ròng rọc di chuyển và được điều khiển bằng điện.

    Hình 2.19. Pa - lăng
    1.4. Các thiết bị phòng cháy chữa cháy
    1.4.1. Bình chữa cháy
    Công tác phòng cháy chữa cháy ở xưởng sửa chữa ô tô cần phải được đầu tư và tổ chức thật tốt, vì đây là nơi tập trung nhiều chất dễ cháy như xăng, dầu, sơn và các chất phụ gia, máy hàn hơi, hệ thống điện,… dễ dẫn đến nguy cơ cháy nổ. Thiết bị chữa cháy chủ lực tại chỗ trong các xưởng là các bình chữa cháy. Số lượng bình chữa cháy và chủng loại phải đầy đủ theo qui định. Vị trí đặt các bình chữa cháy phải hợp lý, ở nơi dễ nhìn thấy. Hiện nay có hai loại bình chữa cháy thông dụng được sử dụng trong xưởng là bình co2 và bình bột.
    Bình co2 dùng để chữa các đám cháy về điện là tốt nhất. Nó không chữa được kim loại cháy, hồ quang và một số chất giàu ô-xy. Loại bình này có thể sử dụng được nhiều lần nếu áp suất khí trong bình còn cao.
    Bình bột dùng để chữa cháy các chất rắn, chất lỏng, chất khí và các chất khí hóa lỏng dễ cháy như xăng, dầu, các chất tẩy rửa và phụ gia. Trên bình bột có gắn đồng hồ đo áp suất trong bình, loại bình này chỉ được sử dụng một lần và phải nạp lại.

    Hình 2.20. Bình chữa cháy
    1.4.2. Các thiết bị khác
    Ngoài các bình chữa cháy, trong xưởng nên có các dụng cụ và thiết bị chữa cháy hỗ trợ như:
    - Thùng đựng cát và xẻng;
    - Bồn nước dự trữ và máy bơm, hệ thống đường ống nước;
    - Lưỡi câu móc có cán gỗ dài, thang leo và bao bố,…
    - Các thiết bị báo cháy tự động.
    1.5. Thiết bị công nghệ:
    1.5.1. Thiết bị kiểm tra chẩn đoán
    Để kiểm tra, chẩn đoán kỹ thuật các tổng thành của ô tô nói chung, đặc biệt là các hệ thống như động cơ, hệ thống truyền lực (hộp số tự động, cơ cấu khóa vi sai,…), các hệ thống điều khiển điện tử như hệ thống phanh chống bó cứng (ABS), hệ thống điều khiển ổn định ô tô (ESP),hệ thống túi khí bảo vệ (SRS),… người ta thường sử dụng hai loại thiết bị chẩn đoán sau:
    - Thiết bị chẩn đoán cầm tay (hand tester, scanner) để chẩn đoán tình trạng kỹ thuật của nhóm, cụm, một hệ thống hoặc một thông số nào đó của ô tô.
    - Thiết bị chẩn đoán chuyên sâu tổng hợp kiểm tra được nhiều thông số kỹ thuật của nhiều cụm, nhiều hệ thống của một hoặc vài tổng thành cùng một lúc.

    Hình 2.21. Thiết bị chẩn đoán
    1.5.2. Máy cân bơm cao áp
    1.5.3. Thiết bị kiểm tra hệ thống phanh và hệ thống treo
    1.5.4. Thiết bị kiểm tra điều chỉnh độ chụm...

    1.5.5. Thiết bị sửa chữa
    a) Máy nạp điện bình ắc-quy:
    Máy nạp điện dùng để nạp điện bình ắc-quy (12, 24V) và khởi động động cơ. Ở chế độ nạp điện, máy có nhiều chế độ nạp với cường độ nạp khác nhau. Ở chế độ khởi động động cơ, máy sẽ cấp dòng điện cực đại để dễ dàng khởi động động cơ.

    Hình.2. 22. Máy nạp điện ắc quy
    b) Máy nạp ga hệ thống điều hòa:
    Một máy nạp ga có 4 chức năng cơ bản sau:
    - Thu hồi ga cũ, tự động ngắt sau khi thu hồi xong.
    - Tái chế ga cũ: ga sau khi thu hồi được rút và tách dầu ra, đưa vào bình riêng để tái sử dụng.
    - Hút và kiểm tra chân không trong hệ thống.
    - Nạp ga mới vào hệ thống.
    Sử dụng máy nạp ga có ưu điểm là thời gian xử lý nhanh, có thể vừa hút – tái chế – nạp ga trong khoảng thời gian ngắn từ 10 – 15 phút, đồng thời khả năng thu hồi và tái chế ga cũ vừa tiết kiệm vừa tránh hiện tượng xả ga trực tiếp ra ngoài không khí, gây ô nhiễm môi trường. Máy nạp ga hiện nay đang sử dụng gồm loại nạp ga R134a, hoặc loại nạp được cả hai loại ga R12 và R134a.

    Hình 2.23. Máy nạp ga hệ thống điều hòa
    c) Phòng sơn:
    Phòng sơn sấy là phòng kín để thực hiện sơn các chi tiết hay sơn nguyên chiếc ô tô và sấy sau khi sơn. Phòng sơn sấy có một số đặc điểm như: Môi trường sơn sạch, không bụi nhờ không gian sơn được cách ly với bên ngoài và nhờ có các tấm lọc không khí. Có các môtơ quạt đưa không khí vào phòng và hút trả ra ngoài để điều hòa lưu lượng gió. Tốc độ gió trong phòng thấp được đưa từ trên xuống và tỏa đều trong phòng tạo nên một sức gió ép nhẹ từ trên xuống tránh hiện tượng phát tán và bay lên của bụi sơn.
    Ở chế độ sấy, không khí được đốt nóng bỡi một buồng đốt bên ngoài (đầu phun và đốt dầu) sau đó đưa vào phòng sơn để sấy bề mặt sơn. Nhiệt độ sấy có thể chọn thay đổi, trung bình khoảng 600 ÷ 8000 C. Nhờ hệ thống vách cách nhiệt tốt, hệ thống đóng mở cửa gió tự động, dòng gió chuyển động tuần hoàn khi chuyển từ chế độ sơn sang sấy, tránh thất thoát nhiệt ra ngoài nên ít tốn nhiên liệu và hiệu suất sấy cao. Buồng đốt tự động ngưng đốt khi nhiệt độ trong phòng đạt đến nhiệt độ đã cài đặt.

    Hình 2.24. Phòng sơn
    d) Máy hàn vòng đệm:
    Máy hàn vòng đệm dùng để hàn các vòng đệm vào bên ngoài vỏ thân xe, ứng dụng trong sửa chữa vỏ xe bị móp từ bên ngoài mà không cần khoan lỗ Máy hàn vòng đệm là loại máy hàn điện trở. Một vòng đệm được giữ bởi một điện cực sẽ tiếp xúc với tấm thép. Sau đó một dòng điện có cường độ cao sẽ được cấp đến khu vực này và nhiệt tạo ra bởi điện trở sẽ hàn dính phần tiếp xúc.
    Máy hàn này còn có thể được dùng để xử lý nhiệt bề mặt tấm kim loại khi đổi các đầu hàn.

    Hình 2.25. Máy hàn vòng đệm
    e) Máy hàn MIG- Co2
    Máy hàn MIG- Co2 dùng để hàn tất cả các vật liệu thép bao gồm thép tấm như vỏ xe và dầm. Máy hàn này đang được sử dụng rộng rãi trong sửa chữa vỏ xe, thay thế cho máy hàn khí axêtilen.
    Hàn MIG- Co2 là một loại hàn hồ quang nằm trong phân loại hàn nóng chảy. Nguyên lý cơ bản của hàn MIG- Co2 là dùng một dây kim loại làm điện cực để tạo ra hồ quang (hiện tượng phóng điện) giữa dây kim loại và kim loại hàn.
    Nhiệt tạo ra bởi hồ quang này làm nóng chảy và làm dính dây kim loại và kim loại hàn vào nhau. Trong quá trình hàn, dây hàn được tự động cung cấp với một tốc độ không đổi, do đó loại hàn này cũng được gọi là hàn hồ quang bán tự động. Khí bảo vệ (Ar, CO2) cũng được cung cấp từ bình chứa để bao bọc lấy mối hàn không cho tiếp xúc với không khí trong quá trình hàn nhằm tránh hiện tượng ôxy hoá và nitơ hóa.

    Hình 2.26. Máy hàn tích và máy hàn bấm
    g) Máy hàn bấm:
    Máy hàn bấm dùng để hàn nối các tấm vỏ xe. Nó thuộc về loại hàn điện trở áp lực. Nguyên lý cơ bản của hàn bấm là kẹp kim loại hàn vào giữa hai điện cực để tạo một áp lực. Một dòng điện lớn được cấp đến làm nóng chảy kim loại bằng nhiệt của điện trở và giữ kim loại để làm nóng chảy chúng. 3 công đoạn của hàn bấm là: tạo áp lực, cấp dòng điện và giữ.
    h) Các thiết bị khác:
    - Máy khuấy sơn: gồm nhiều giàn khuấy và được điều khiển chung bởi một mô-tơ điện. Mỗi ngày đều nên vận hành máy khuấy từ một đến hai lần, mỗi lần 15 phút để khuấy đều sơn trong quá trình bảo quản. Trước khi pha sơn cũng cần khuấy lại để trộn đều sơn.
    - Đèn sấy sơn cục bộ: dùng để sấy bề mặt sơn khi sơn thử, sơn dặm thân xe.
    - Bộ thiết bị sửa chữa thân xe và thiết bị kéo nắn khung xe: dùng để sửa chữa khung và thân xe khi bị biến dạng và hư hỏng. Thiết bị sửa chữa thân xe gồm một số bộ vam, cảo điều khiển bằng thủy lực hay khí nén, các trụ kéo, búa giật,…
    2. YÊU CẦU KỸ THUẬT CƠ BẢN CỦA CÁC THIẾT BỊ CHUYÊN DÙNG
    Nhóm thiết bị chuyên dùng dùng để tháo lắp các chi tiết đặc biệt được dễ dàng, nhanh chóng và không phá hỏng chi tiết, bao gồm một số vam, ....
    2.1. Nhóm thiết bị chuyên dùng tháo lắp phần động cơ:
    Kìm tháo và lắp xéc-măng vào pít-tông.
    Dụng cụ lắp cụm pít-tông, xéc-măng vào xy lanh.
    Vam tháo và lắp xú-páp vào nắp máy.
    Bộ dụng cụ tháo lọc nhớt động cơ có nhiều cỡ khác nhau để mở được nhiều
    loại lọc nhớt (d).
    Cần siết đo lực dùng để siết các bu lông, đai ốc đúng lực siết qui định.
    Cần siết đo lực có nhiều cỡ khác nhau theo phạm vi lực đo và có nhiều cách đo khác nhau như đo bằng đồng hồ, thang đo,…

    Hình 2.27. nhóm thiết bị tháo lắp động cơ
    2.2. Nhóm vam, cảo sửa chữa hệ thống gầm ô tô:
    Vam 2 hay 3 chấu, vam đĩa dùng để tháo ổ đỡ, bánh răng,…
    Vam các khớp cầu của hệ thống treo và lái .
    Vam nén lò xo: nén và giữ các lò xo của hệ thống treo trong quá trình tháo
    lắp.
    Bộ búa giật tạo nên xung lực mạnh để tháo một số chi tiết như bán trục.

    Hình 2.28. Nhóm thiết bị sửa chữa hệ thống gầm
    2.3. Nhóm thiết bị phục vụ tháo hộp số, bôi trơn
    - Đội nâng hạ hộp số điều khiển bằng thủy lực sử dụng khi tháo lắp hộp số lên xe.
    - Bình hứng và hút dầu thải bằng khí nén.
    - Thùng bơm mỡ hay dầu nhớt bằng tay hay khí nén.

    Hình 2.29. nhóm thiết bị phục vụ tháo hộp số và bôi trơn
    2.4. Nhóm thiết bị vệ sinh
    - Máy súc rửa hệ thống nhiên liệu loại dùng cho động cơ xăng và động cơ diesel, máy chứa hóa chất tẩy rửa đặc biệt và có thể súc rửa hệ thống nhiên liệu khi động cơ đang nổ.
    - Máy kiểm tra và phun cát vệ sinh bu-gi đánh lửa.

    Hình 2.30. Máy làm sạch bugi
    2.5. Thiết bị tuýp khẩu cho bugi
    Dụng cụ này được sử dụng riêng biệt để tháo và thay thế bugi.
    - Có 2 cỡ, lớn và nhỏ, để lắp vừa với kích thước của các bugi.
    - Bên trong của khẩu có nam châm để giữ bugi.
    Yêu cầu kỹ thuật:
    - Nam châm bảo vệ bugi, nhưng vẫn phải cẩn thận để không làm rơi nó.
    - Để đảm bảo bugi được lắp đúng, trước tiên hãy xoay nó cẩn thận bằng tay.
    2.6. Một số thiết bị khác:
    - Đầu nối: Không tác dụng mômen với tay cầm nghiêng một góc lớn. Không sử dụng với súng hơi. Khớp nối có thể bị vỡ, do nó không thể hấp thụ được chuyển động lắc tròn, và sẽ làm hư hỏng dụng cụ hay chi tiết .
    - Tay nối: Trước khi sử dụng, hãy trượt tay nối cho đến khi nó khớp vào vị trí khoá. Nếu nó không ở vị trí khoá, tay nối có thể trượt vào hay ra khi đang sử dụng. Điều này có thể làm thay đổi tư thế làm việc của kỹ thuật viên và dẫn đến nguy hiểm.
    - Tay quay cóc (Bộ đầu khẩu): Không tác dụng mômen quá lớn. Nó có thể làm hỏng cấu trúc của cơ cấu cóc.
    - Cờ lê: Không được lồng các ống thép vào phần cán của cờlê. Nó có thể làm cho mômen quá lớn tác dụng vào và có thể làm hỏng bulông hay cờlê.
    - Mỏ lết: Quay mỏ lết sao cho vấu di động được đặt theo hướng quay. Nếu mỏ lết không được vặn theo cách này, áp lực tác dụng lên vít điều chỉnh có thể làm hỏng nó.
    - Tô vít: Không được sử dụng kìm hay dụng cụ khác để tác dụng mô men lớn hơn. Nó có thể làm chờn vít hay hỏng đầu của tuốc nơ vít.
    - Các loại kìm : Không tác dụng lực quá lớn lên mũi kìm. Chúng có thể bị cong hở, làm cho nó không sử dụng được cho những công việc chính kìm có tâm trượt những vật dễ hỏng phải được bọc vải bảo vệ hay những vật mềm tương tự vải trước khi giữ bằng kìm.
    - Kìm cắt (kìm bấm): Không sử dụng để cắt dây thép dầy hay cứng. Như vậy có thể làm hỏng lưỡi cắt.
    - Dao cạo gioăng: Không đặt tay lên trước mũi dao. Bạn có thể làm tay mình bị cắt bới lưỡi dao. Không mài lưỡi dao bằng máy mài. Luôn mài lưỡi dao bằng đá dầu.
    - Đột lấy tâm: Không được gõ mạnh khi lấy dấu. Đầu của đột phải được mài bằng đá dầu
    - Súng hơi: Luôn sử dụng đúng áp suất không khí (Giá trị đúng: 7 kg/cm2). Kiểm tra súng hơi định kỳ và bôi dầu để bôi trơn và chống rỉ. Nếu dùng súng hơi để tháo hoàn toàn đai ốc ra khỏi ren, đai ốc quay nhanh có thể văng ra ngoài. Luôn lắp đai ốc vào ren bằng tay trước. Nếu súng hơi được sử dụng ngay từ khi bắt đầu, ren có thể bị hỏng. Hãy cẩn thận không xiết quá chặt. Hãy dùng vùng lực thấp để xiết chặt. Khi kết thúc, dùng cân lực để kiểm tra.
    - Súng hơi giật: Súng phải được cầm bằng cả hai tay khi thao tác. Thao tác với các nút bấm bằng một tay tạo ra lực lớn và có thể gây nên rung mạnh.
    3. CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CẢI TIẾN DỤNG CỤ, THIẾT BỊ
    Thiết bị dụng cụ máy móc trong sản xuất là công cụ sản xuất. Công cụ sản xuất tốt sẽ góp phần làm ra nhiều sản phẩm tốt. do vậy bảo quản sửa chữa cải tiến thiết bị máy móc là giữ gìn máy móc thiết bị sao cho khỏi hư hỏng, trường hợp hư hỏng do quá trình hoạt động phải có dự kiến trước để có kế hoạch sửa chữa, giới hạn tối đa việc hư hỏng đột xuất gây ngưng trệ sản xuất, ảnh hưởng đến sản lượng chất lượng.
    3.1. Chọn ưu tiên theo chủng loại
    Hãy chọn dụng cụ phù hợp với loại công việc. Để tháo và thay thể bulông/đai ốc hay tháo các chi tiết, thường phải sử dụng bộ đầu khẩu để tháo.
    Nếu bộ đầu khẩu không thể sử dụng do hạn chế về không gian thao tác, hãy chọn chòng hay cơlê theo thứ tự.
    3.2. Chọn dụng cụ theo tốc độ hoàn thành công việc
    - Đầu khẩu hữu dụng trong trường hợp mà nó có thể sử dụng để quay bulông/đai ốc mà không cần định vị lại. Nó cho phép quay bulông/đai ốc nhanh hơn.
    - Đầu khẩu có thể sử dụng theo nhiều cách tuỳ theo loại tay nối lắp vào nó.
    * Chú ý:
    - Tay quay cóc nó thích hợp khi sử dụng ở những nơi chật hẹp. Tuy nhiên, do cấu tạo của cơ cấu cóc, nó có thể đạt được mômen rất lớn.
    - Tay quay trượt cần một không gian lớn nhưng nó cho phép thao tác nhanh nhất.
    - Tay quay nhanh cho phép thao tác nhanh, với việc lắp thanh nối. Tuy nhiên tay quay này dài
    và khó sử dụng ở những nơi chật hẹp.
    3.3. Chọn dụng cụ theo độ lớn của mômen quay
    Nếu cần mômen lớn để xiết lần cuối hay khi nới lỏng bulông/đai ốc, hãy sử dụng dụng cụ vặn cho phép tác dụng lực lớn.
    * Chú ý:
    - Độ lớn của lực có thể tác dụng phụ thuộc vào chiều dài của dụng cụ. Dụng cụ dài hơn, có thể đạt được mômen lớn hơn với một lực nhỏ.
    - Nếu sử dụng dụng cụ quá dài, có nguy cơ xiết quá lực, và bulông có thể bị đứt.
    * Các chú ý khi thao tác
    - Kích thước và ứng dụng của dụng cụ
    + Chắc chắn rằng đường kính của dụng cụ vừa hít với đầu bulông/ đai ốc.
    + Lắp dụng cụ và bu lông/đai ốc một cách chắc chắn.
    - Tác dụng lực 1
    + Luôn xoay dụng cụ sao cho bạn đang kéo nó.
    + Nếu dụng cụ không thể kéo do không gian bị hạn chế, hãy đẩy bằng lòng bàn tay.
    - Tác dụng lực 2
    Bu lông/đai ốc, mà đã được xiết chặt, có thể được nới lỏng ra dễ dàng bằng cách tác dụng xung lực. Tuy nhiên, cần phải dùng búa hay ống thép (để nối dài tay đòn) nhằm tăng mômen.
    - Dùng cân lực
    Phải luôn xiết lần cuối cùng với cân lực, để xiết đến mômen tiêu chuẩn.
    3.4. Các chế độ bảo quản kiểm tra sửa chữa định kỳ
    3.4.1. Bảo dưỡng
    Bảo dưỡng thiết bị máy móc là công việc thương xuyên như việc chăm sóc y tế, khám bệnh thường xuyên đối với con người. Phương châm chiến lược là phòng bệnh hơn chữa bệnh, các thiết bị máy móc cũng như các bộ phận của cơ thể con người phải được theo dõi thường xuyên và sử lý kịp thời, dự đoán trước các diễn biến có thể xảy ra. Lợi ích của công tác bảo dưỡng là có thể đánh giá qua việc giảm thời gian ngừng hoạt động của thiết bị, giảm chi phí sửa chữa, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Quy trình và thủ tục bảo dưỡng dựa trên các chỉ dẫn của nhà chế tạo hoặc các tiêu chuẩn kỹ thuật công nghệ.
    Các chế độ hoạt động bảo dưỡng máy móc thiết bị có thể tóm tắt trong bốn quy tắc sau đây:
    - Bảo quản thiết bị nơi khô giáo
    - Bảo quản thiết bị nơi mát mẻ
    - Giữ gìn thiết bị sạch sẽ
    - Giữ gìn thiết bị luôn kín
    * Có nhiều hình thức bảo dưỡng:
    - Bảo dưỡng thường xuyên: Bảo dưỡng trong quá trình vận hành máy móc thiết bị.
    Bảo dưỡng và kiểm tra: là bảo dưỡng không thường xuyên hoặc định kỳ theo lịch.
    - Bảo dưỡng định kỳ: Bảo dưỡng theo kế hoạch quy đinh trước, có thể tính theo thời gian hoạt động hành trình tùy theo nhà chế tạo quy định.
    - Bảo dưỡng đặt trọng tâm vào năng cao độ tin cậy của thiết bị: Đây là hình thức hoạt động bảo dưỡng mà quy trình và thủ tục được xây dựng một cách chi tiết căn cứ vào các dữ liệu thống kê xắc suất xẩy ra hư hỏng và tuổi thọ của thiết bị nhằm quy trì hoạt động thường xuyên và đảm bảo năng xuất hoạt động cao của thiết bị.
    * Bảo dưỡng máy móc thiết bị phụ thuộc yếu tố chính sau đây:
    - Ảnh hưởng về phương diện an toàn
    - Ảnh hưởng về phương diện kinh tế
    - Chi phí bảo dưỡng
    - Trình độ kỹ thuật của đội ngũ các bộ kỹ thuật
    - Khả năng sẵn sàng hoạt động của thiết bị
    * Kế hoạch bảo dưỡng phải thỏa mãm các tiêu chuẩn sau:
    - Phải phù hợp với điều kiện kinh tế
    - Phải được ưu tiên nguồn lực
    - Có xem xét thứ tự ưu tiên
    - Đặc điểm thiết bị
    - Đặc điểm thực tế của nhà máy, cẩm nang kỹ thuật của nhà chế tạo
    - Tình hình vận hành
    - Trình độ đội ngũ
    - Nội dung và quy trình bảo dưỡng
    3.4.2. Kiểm tra
    Xem xét tình hình thực tế để đánh giá cơ sở đối chiếu, so sánh với tiêu chuẩn, quy định, định mức…
    Ví dụ: Kiểm tra dầu bôi trơn của xe gắn máy tức là xem xét mức dầu nhờn, độ nhờn thực tế của dầu trong máy so với chuẩn về mức dầu và độ nhờn quy định của nhà sản xuất. Ở cấp độ cao hơn như kiểm tra dầu bôi trơn của ô tô, còn xem xét đến nhật ký bảo dưỡng xe, lần thay dầu lần trước đến thời điểm kiểm tra có thuộc giới hạn thời gian quy định, sớm hơn hay muộn hơn và nêu biện pháp thực hiện.
    3.4.3. Sửa chữa
    Là những công việc duy trì và phục hồi hư hỏng của các chi tiết tổng thành và khả năng làm việc bình thường của thiết bị máy móc do quá trình hoạt động của thiết bị máy móc không thể làm công tác bảo dưỡng nữa.
    Căn cứ vào công dụng và tính chất công việc phải làm có hai dạng sửa chữa là sửa chữa nhỏ, sửa chữa vừa và sửa chữa lớn .
    * Sửa chữa nhỏ ( Tiểu tu):
    Là xem xét bên ngoài và sửa chữa các hư hỏng có thể khắc phục được ngay.
    * Sửa chữa vừa ( Trung tu):
    Thực chất đây là công tác bảo dưỡng ở mức cao và sửa chữa ở mức thấp gọi là trung tu. Nội dung trung tu bao gồm thay thế một số chi tiết, bộ phận nhằm khôi phục khả năng hoạt động của thiết bị đạt công suất thiết kế.
    * Sửa chữa lớn ( Đại tu)
    Đại tu còn gọi là sửa chữa lớn nhằm phục hồi năng lực thiết bị, máy móc sau một thời gian khai thác sử dụng. Để đảm bảo kế hoạch sản xuất của đơn vị được liên tục đồng thời khai thác năng suất thiết bị máy móc một cách có hiệu quả, đại tu thiết bị máy móc được thực hiện theo định kỳ và thực hiện đúng nội dung và quy trình.
    Đại tu hiểu theo nghĩa sửa chữa lớn, thường được thực hiện nhằm phục hồi năng lực hoạt động của thiết bị máy móc sau một thời gian sử dụng hoặc một lý do nào đó thiết bị, máy móc đó không hoạt động được nữa nhưng còn khả năng phục hồi.
    Để tiến hành đại tu một thiết bị, máy móc cần phải thực hiện những nội dung và trình tự sau:
    - Bàn giao thiết bị giữa đơn vị bảo quản, vận hành với đơn vị sửa chữa (có biên bản): bàn giao thiết bị, tài liệu kỹ thuật, lý lịch vận hành, nội dung và biên bản của các lần sửa chữa trước (nếu có).
    - Phân tích và đưa ra kết luận sơ bộ về tình trạng thiết bị.
    - Lập phương án đại tu.
    - Kiểm tra thiết bị, xác định hư hỏng phải thay thế hoặc sửa chữa và ghi vào biên bản đại tu.
    - Tiến hành đại tu
    - Thử nghiệm (có biên bản)
    - Bàn giao thiết bị giữa đơn vị đại tu và đơn vị bảo quản, vận hành (có biên bản. Bàn giao tất cả những gì đã nhận trước khi đại tu và biên bản sửa chữa mới.
    3.5. Phân tích quá trình sử dụng thiết bị
    Trong lĩnh vực sản xuất, sử dụng thiết bị mang một ý nghĩa quan trọng đặc biệt, gắn liền với hiệu quả kinh tế. Quá trình sử dụng thiết bị được tính trên đơn vị thời gian ngày hoặc tháng kể từ khi bắt đầu ca sản xuất cho đến thời điểm cuối cùng để tính sản lượng.

    CÂU HỎI – BÀI TẬP

    Câu 1: Hãy nêu công dụng và phân loại các dụng cụ dùng trong ngành công nghệ ô tô?
    Câu 2: Trình bày các yêu cầu kỹ thuật cơ bản của thiết bị chuyên dùng?
    Câu 3: Hãy nêu các biện pháp kỹ thuật cải tiến dụng cụ thiết bị?









    Bài 3
    THAY ĐỔI PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC

    1. CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG NGHỀ CÔNG NGHỆ Ô TÔ
    1.1. Nhà máy sửa chữa lớn ô tô
    Các cơ sở sửa chữa lớn ô tô còn được gọi là nhà máy hay xí nghiệp sửa chữa ô tô, có nhiệm vụ sửa chữa lớn ô tô và các tổng thành của ô tô.
    Đối tượng sửa chữa, có thể là tất cả các loại phương tiện vận tải ô tô của mọi cá nhân và tổ chức, nhưng có thể chỉ là một hoặc một số loại của một số đơn vị vận tải trong một khu vực nhất định. Điều đó phụ thuộc vào loại hình vạn năng hay chuyên môn hóa, cấp quản lý trung ương hay địa phương.
    1.2. Nhà máy chế tạo phụ tùng ô tô
    Nhà máy chế tạo một vài hoặc nhiều loại chi tiết, phụ tùng ô tô từ phôi liệu hoặc từ bán thành phẩm do cơ sở sản xuất khác cấp.
    Quy mô, chương trình sản xuất có thể tự xác định hoặc được giao.
    1.3. Nhà máy lắp ráp ô tô
    Nhà máy lắp ráp một hoặc một số kiểu loại xe từ chi tiết hoặc từ cụm chi tiết, tổng thành, hệ thống.
    Quy mô, chương trình sản xuất có thể tự xác định hoặc được giao.
    1.4. Xí nghiệp – Công ty vận tải ô tô
    Có nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa và hành khách đồng thời nó thực hiện nhiệm vụ bảo dưỡng kỹ thuật các cấp, sửa chữa nhỏ, bảo quản và cung cấp vật tư cho phương tiện. Loại hình này có thể bao gồm một xí nghiệp chính và các đoàn, đội xe hoặc các xí nghiệp thành viên ở trong một vùng kinh tế nhất định. Ở xí nghiệp này thường đặt xí nghiệp (trạm) bảo dưỡng tập trung và sửa chữa vừa ở xí nghiệp chính, còn sửa chữa nhỏ và bảo dưỡng cấp thấp hàng ngày ở các đội, các đoàn xe hoặc các xí nghiệp thành viên.
    Quy mô loại hình này rất phong phú: Từ các đội, hợp tác xã, công ty tư nhân có vài xe đến những xí nghiệp, công ty, tổng công ty với nhiều xí nghiệp công ty thành viên có hàng trăm hàng ngàn xe với nhiều chủng loại khác nhau. Cũng có khi còn được tổ chức kết hợp dưới dạng vận tải thủy - bộ.
    1.5. Xí nghiệp – xưởng bảo dưỡng kỹ thuật tập trung
    Có nhiệm vụ bảo dưỡng ô tô ở cấp cao và sửa chữa nhỏ nặng cho các phương tiện vận tải ô tô của các công ty – liên hiệp xí nghiệp hoặc cho một số các xí nghiệp vận tải ở gần đó không có cơ sở bảo dưỡng tập trung.
    Có thể tổ chức độc lập hoặc nằm trong xí nghiệp – công ty vận tải ô tô nào đó, vì vậy quy mô, chương trình sản xuất cũng có thể tự xác định độc lập hoặc phụ thuộc vào xí nghiệp – công ty vận tải ô tô mà nó phục vụ.
    1.6. Trạm tác động kỹ thuật công cộng
    - Trạm bảo dưỡng, sửa chữa ô tô công cộng:
    Các trạm này tiến hành bảo dưỡng kỹ thuật các cấp và sửa chữa nhỏ cho tất cả các phương tiện vận tải ô tô trong nền kinh tế quốc dân. Theo quy mô, chia thành ba loại: nhỏ, vừa, lớn, chia theo khu vực có trạm nội thành và trên đường. Quy mô được đánh giá bằng trương trình sản xuất hàng ngày hoặc bằng số xe có thể đồng thời bảo dưỡng, sửa chữa tại trạm tức là theo số vị trí bảo dưỡng, sửa chữa. Trong nội thành có thể đến 30 vị trí, trên đường từ 3 đến 10 vị trí.
    - Trạm chẩn đoán, bảo hành, rửa xe:
    Thông thường các trạm này là trạm công cộng, phục vụ mọi phương tiện vận tải ô tô, tuy nhiên cũng có thể chỉ phục vụ riêng cho một hoặc một số cơ sở quản lý phương tiện nào đó.
    Trạm kiểm định phương tiện cơ giới đường bộ có tác dụng xác định tình trạng kỹ thuật, cấp phép lưu hành cho phương tiện cơ giới đường bộ.
    1.7. Trạm – cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm
    Còn được gọi là salon ô tô. Đó là nơi thực hiện chức năng tiếp thị, làm cầu nối giữa cơ sở sản xuất và người tiêu dùng.
    Quy mô tùy thuộc khả năng, yêu cầu của nhà sản xuất hoặc của người bán hàng.
    1.8. Gara bảo quản xe
    Là cơ sở độc lập, bảo quản cho mọi phương tiện vận tải ô tô. Về phương pháp có thể bảo quản kín hoặc lộ thiên. Thường được bố trí ở các thành phố lớn, nơi công cộng tập trung nhiều phương tiện như nhà ga, khách sạn, danh lam thắng cảnh, bãi biển...
    1.9. Trạm cung cấp vật liệu chạy xe
    Là loại cơ sở cung cấp nguyên, nhiên, vật liệu khai thác ô tô như xăng, điêzen, dầu bôi trơn, săm lốp, khí nén bơm lốp... Quy mô phụ thuộc địa điểm bố trí trong thành phố hay trên đường và được đánh giá bằng số cột cung cấp hoặc số lượng phương tiện cần cấp phát trong một ngày đêm, thông thường trong thành phố 1000 đến 2000 lần, trên đường 500 đến 1000 lần.
    1.10. Trạm hàng hóa và hành khách
    - Trạm hàng hóa làm nhiệm vụ bảo quản hàng hóa trong quá trình trung vận chuyển. Trạm đảm bảo về số lượng, chất lượng hàng hóa gồn hàng hóa rời, container ở các nơi trung gian chờ trả hàng hoặc chờ chuyển tiếp.
    - Trạm hành khách là nơi tổ chức cho hành khách nghỉ chờ xe, chờ làm các tác động cho xe.
    2. TÍNH NHỊP SẢN XUẤT TRONG TỪNG CÔNG ĐOẠN SẢN XUẤT
    Nhịp sản xuất trong sản xuất hàng loạt lớn và hàng khối thướng sử dụng phương pháp sản xuất theo dây chuyền đối với cả gia công cơ và lắp ráp. Theo phương pháp này các máy được bố trí theo thứ tự các nguyên công. Số vị trí và năng suất phải được tính toán đồng bộ sao cho không xảy ra hiện tượng thiếu hay thừa chi tiết ở các nguyên công. Muốn cho dây chuyền sản xuất đồng bộ thì quá trình sản xuất phải tuân theo nhịp sản xuất nhất định.
    Nhịp sản xuất là khoảng thời gian lặp lại chu kỳ gia công (hoặc lắp ráp) và được tính bằng công thức.
    t= F/q
    t: Nhịp sản xuất.
    F: Thời gian làm việc (gia công) tính theo ca, tháng, năm (phút).
    q: Sốlượng chi tiết (hoặc sản phẩm) được chếtạo ra trong thời gian F.
    Ví dụ: Trong một ngày làm việc 8h ta có F = 8x60 = 480 phút, gia công được q = 60 chi tiết. Vậy nhịp sản xuất sẽ là t = 3 (phút). Điều này nghĩa là thời gian của mỗi nguyên công là 3 phút (ví dụ, ở nguyên công cắt răng có 4 máy làm việc mới kịp cho nguyên công trước đó bởi vì mỗi máy cắt răng phải cắt một chi tiết mất 12 phút )
    3. CÁC MÔ HÌNH TỔ CHỨC SẢN XUẤT TIÊU BIỂU
    3.1. Tổ chức sản xuất khối lượng lớn
    Sản xuất khối lượng lớn biểu hiện rõ nhất đặc tính của hệ thống sản xuất liên tục. Đặc điểm của loại hình tổ chức sản xuất khối lượng lớn là nơi làm việc chỉ tiến hành chế biến, chi tiết sản phẩm, hay một bước công việc của quy trình công nghệ chế biến sản phẩm, nhưng với khối lượng rất lớn. Với loại hình sản xuất này, người ta hay sử dụng các máy móc thiết bị và dụng cụ chuyên dùng. Các nơi làm việc được bố chí theo nguyên tắc đối tượng. Công nhân được chuyên môn hóa cao. Đường đi sản xuất ngắn, ít quanh co, sản phẩm dở dang ít. Kết quả sản xuất được hạch toán đơn giản và khá chính xác.
    Với loại hình tổ chức sản xuất khối lượng lớn thường sử dụng trong các nhà máy chế tạo lắp ráp ô tô, các nhà máy sửa chữa ô tô...
    3.2. Tổ chức sản xuất hàng loạt.
    Trong loại hình sản xuất hàng loạt, nơi làm việc được phân công chế biến một số loại chi tiết, bước công việc khác nhau. Các chi tiết, bước công việc này được thay nhau lần lượt chế tạo theo định kỳ.
    Nếu chủng loại chi tiết, bước công việc phân công cho nơi làm việc ít với số lượng mỗi loại lớn thì gọi là sản xuất hàng loạt lớn. Trái lại nếu chủng loại chi tiết, bước công việc qua nơi làm việc lớn, mà khối lượng của mỗi loại nhỏ thì người ta gọi là sản xuất hàng loạt nhỏ. Loại hình sản xuất nằm giữa hai loại hình sản xuất trên có thể gọi là sản xuất hàng loạt vừa.
    Ở nơi làm việc sản xuất hàng loạt, quá trình sản xuất sẽ liên tục khi nó đang chế biến một loại chi tiết nào đó, nhưng khi chuyển từ loại chi tiết này sang loại chi tiết khác thì phải có thời gian tạm ngừng sản xuất. Trong khoảng thời gian tạm ngừng sản xuất này người ta thực hiện việc điều chỉnh máy móc thiết bị, thay đổi dụng cụ, thu gọn nơi làm việc... Như vậy, thời gian gián đoạn chiếm một tỉ lệ đáng kể trong toàn bộ thời gian sản xuất. Điều này có thể ảnh hưởng đến mức độ sử dụng công suất máy móc thiết bị, đến năng suất lao động của công nhân, cũng ảnh hưởng đến dòng dịch chuyển liên tục của các đối tượng.
    Với loại hình tổ chức sản xuất hàng loạt thường sử dụng ở các nhà máy, xí nghiệp sản xuất phụ tùng ô tô.
    3.3. Tổ chức sản xuất đơn chiếc
    Sản xuất đơn chiếc là loại hình sản xuất thuộc sản xuất gián đoạn. Trong sản xuất đơn chiếc các nơi làm việc thực hiện chế tạo nhiều loại chi tiết khác nhau, nhiều bước công việc khác nhau trong trong quá trình công nghiệp sản xuất sản phẩm. Mỗi loại chi tiết được chế biến với khối lượng rất ít, thậm chí có khi chỉ một chiếc. Các nơi làm việc không chuyên môn hóa được bố chí theo nguyên tắc công nghệ. Máy móc thiết bị vạn năng thường được sử dụng trên các nơi làm việc. Công nhân thành thạo một nghề và biết nhiều nghề. Thời gian gián đoạn lớn. Loại hình sản xuất đơn chiếc có tình linh hoạt cao.
    3.4. Tổ chức sản xuất theo dự án
    Sản xuất dự án cũng là một loại sản xuất gián đoạn, nhưng các nơi làm việc tồn tại trong khoảng thời gian ngắn theo quá trình công nghệ sản xuất của một loại sản phẩm hay đơn hàng nào đó. Sự tồn tại của nơi làm việc ngắn, nên máy móc thiết bị, công nhân thường phải phân công theo công việc, khi công việc kết thúc có thể phải giải tán lực lượng lao động này hoặc di chuyển đến nơi làm việc khác. Vì thế, người ta có thể sử dụng công nhân từ các bộ phận khác nhau trong tổ chức để phục vụ một dự án. Trong loại hình sản xuất này, hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị thấp, công nhân và máy móc thường phải phân tán cho các dự án khác nhau, vì thế để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, cần phải tổ chức theo cơ cấu ma trận. Cơ cấu này có khả năng tập trung điều phối sử dụng hợp lí các nguồn lực của hệ thống, cơ cấu ngang hình thành theo các dự án có nhiệm vụ phối hợp các hoạt động khác nhau phù hợp với tiến độ của từng dự án.
    4. LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC PHÙ HỢP
    4.1. Cải tiến lề lối làm việc theo 5S ( Phương pháp KAIZEN )
    Kaizen được ghép từ hai từ tiếng nhật: Kai: “Thay đổi” và Zen: “Tốt hơn”, nghĩa là “Thay đổi để tốt hơn” hoặc “ Cải tiến liên tục”. Xuất phát từ suy nghĩ rằng “ Trục trặc” có thể nảy sinh liên tục ở bất cứ thời điểm nào, bộ phận nào của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, người Nhật đề ra triết lý quản lý Kaizen với nội dung 5S ( Năm nguyên tắc bắt đầu bằng chữ S trong tiếng Nhật) để khắc phục các “ trục trặc” này:
    . 5S
    - Seiri: Sàng lọc: Nhằm loại bỏ tất cả mọi thứ không cần thiết, không có giá trị ra khỏi công việc, nhà xưởng, tổ chức...
    - Seiton: Sắp xếp: phân loại, hệ thống hóa để bất cứ thứ gì cũng có thể “dễ tìm, dễ tháy, dễ lấy, dễ kiểm tra, dễ trả lại”.
    - Seiso: Sạch sẽ: thực chất là lau chùi, quét dọn, vệ sinh, kiểm tra xem mọi thứ có được sắp xếp đúng nơi quy định.
    ( Ba nguyên tắc nêu trên thực chất là việc sàng lọc, sắp xếp phân loại khoa học hệ thống nhà xưởng, máy móc, công cụ sản xuất và tổng vệ sinh doanh nghiệp).
    Hai nguyên tắc tiếp theo
    - Suiketsu: Săn sóc: Nhằn “Tiêu chuẩn hóa”, “quy trình hóa” những gì đã đạt được với ba nguyên tắc nêu trên để mọi thành viên của doanh nghiệp tuân theo một cách bài bản, hệ thống.
    - Shituke: Sẵn sàng: Giáo dục, duy trì và cải tiến bốn nguyên tắc nêu trên trong bất kỳ mọi hoàn cảnh nào và trong suất quá trình hoặt động của doanh nghiệp.
    4.2. Phương pháp tổ chức làm việc hợp lý theo tiêu chuẩn 5s
    * Mục đích:
    Khái niệm 5S được bắt nguồn từ nhật bản vào đầu những năm 80 và đã được áp dụng rộng rãi tại các công ty, trong đó có Việt Nam. Mục đích của áp dụng 5S không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc nâng cao điều kiện và môi trường làm việc trong một tổ chức mà còn làm thay đổi cách suy nghĩ, thói quen làm việc, tăng cường khả năng sáng tạo trong công việc và phát huy vai trò của hoạt động nhóm.
    Một trong những hoạt động quan trọng góp phần vào việc duy trì và việc cải tiến 5S là đánh giá 5S. Đánh giá định kỳ 5S là hoạt động có ý nghĩa khuyến khích các hoạt động 5S. Mục đích chính của việc đánh giá là:
    - Xem xét hiệu lực và hiệu quả của hoạt động 5S
    - Đánh giá khía cạnh tích cực của việc thực hiện 5S
    - Kịp thời động viên các cá nhân, đơn vị hoàn thành tốt công việc và nhân rộng sáng kiến
    - Phát hiện những khu vực hạn chế trong việc thực hiện để có những cải tiến thích hợp.
    * Ý nghĩa:
    Tổ chức nơi làm việc hợp lý là thay đổi để không còn những gì không hợp lý. Những gì không hợp lý cần phải tiệt trừ đó là các hao phí về thời gian, vật tư, nhân lực... Đó là các hao phí không cần thiết cho sản xuất. Nếu giảm trừ được các hao phí, năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất sẽ được nâng cao.
    4.3. Lập kế hoạch để cải tiến lề lối theo phương pháp Kaizen
    Hoạt động Kaizen cũng được triển khai trên cơ sở vòng lặp xoáy ốc PDCA (P – Kế hoạch) – D (Thực hiện) – C (Kiểm tra) – A (Hành động, cải tiến). Tám bước thực hiện Kaizen được tiêu chuẩn hóa bao gồm:
    Bước 1: Lựa chọn chủ đề (công việc,bộ phận...) (P)
    Bước 2: Tìm hiểu hiện trạng và xác định mục tiêu (P)
    Bước 3: Phân tích dữ kiện thu nhập để xác định nguyên nhân (P)
    Bước 4: Xác định biện pháp thực hiện trên cơ sở phân tích dữ liệu (P)
    Bước 5: Thực hiện biện pháp (D)
    Bước 6: Xác định kết quả thực hiện (C)
    Bước 7: Xây dựng hoặc sửa đổi các tiêu chuẩn đề phòng ngừa tái siễn (A)
    Bước 8: Xem xét các quá trình trên và xác định dự án tiếp theo (A)
    Lưu ý rằng Kaizen không phải là một công cụ, không phải là một kỹ thuật, mà là triết lý quản lý. Kaizen không đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng yêu cầu sự cam kết và nỗ lực ở mọi cấp của doanh nghệp (đặc biệt là cấp lãnh dạo). Các yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động Kaizen và 5S bao gồm: Cam kết của lãnh đạo cao nhất, vai trò của cán bộ quản lý các phòng ban, tổ, nhóm, sự nỗ lực tham gia của mọi người, việc triển khai cải tiến được thực hiện liên tục, hàng ngày.
    4.3. Ứng dụng phương pháp làm việc trong ngành sửa chữa ô tô
    Thực hiện làm việc theo nguyên tắc sau để làm việc tốt hơn
    * Hình thức chuyên nghiệp
    - Mặc đồng phục sạch sẽ.
    - Luôn đi giầy bảo hộ
    * Làm việc và đối xử với xe ôtô cẩn thận
    - Hãy luôn sử dụng bọc ghế, tấm phủ sườn, tấm phủ đầu xe, bọc vô lăng và thảm trải sàn.
    - Lái xe của khách hàng cẩn thận.
    - Không bao giờ hút thuốc trong xe khách hàng.
    - Không bao giờ sử dụng thiết bị âm thanh hay điện thoại trong xe khách hàng.
    - Lấy hết khay và hộp phụ tùng ra khỏi xe.
    * Ngăn nắp và sạch sẽ
    - Hãy giữ cho xưởng dịch vụ (sàn xe, tủ đựng dụng cụ, bàn nguội, dụng cụ đo, dụng cụ thử v.v.) ngăn nắp, sạch sẽ và trật tự bằng cách:
    + Vứt bỏ những vật không cần thiết
    + Hãy sắp xếp và giữ phụ tùng và vật tư có trật tự
    + Quét, rửa và lau sạch
    - Làm việc với xe đỗ ngay ngắn trong khoang sửa chữa
    * An toàn lao động
    - Sử dụng đúng dụng cụ và các trang thiết bị khác (cầu nâng, kích, máy mài v.v.).
    - Cẩn thận với lửa: không hút thuốc khi làm việc.
    - Không cầm những vật quá nặng so với sức mình
    * Lập kế hoạch và chuẩn bị
    - Xác nhận “ những hạng mục chính” (nguyên nhân chính mà khách hàng mang xe đến trạm).
    - Hãy chắc chắn rằng bạn đã nắm được yêu cầu của khách hàng và hướng dẫn của cố vấn dịch vụ. Hãy thật cẩn thận tìm hiểu trong trường hợp công việc phản tu.
    - Nếu tìm thấy bất kỳ công việc cần bổ sung thêm so với công việc đã có kế hoạch trước, hãy báo cáo cho cố vấn dịch vụ. Chỉ thực hiện công việc bổ sung sau khi đã được khách hàng chấp thuận.
    - Lập kế hoạch cho công việc của bạn (trình tự công việc và chuẩn bị).
    - Kiểm tra để xem phụ tùng cần thiết có trong kho không.
    - Tiến hành công việc theo sách Hướng dẫn sửa chữa để tránh sai sót
    * Làm việc nhanh chóng và chắc chắn
    - Hãy sử dụng đúng SST (dụng cụ sửa chữa chuyên dùng) và dụng cụ.
    - Làm việc theo sách Hướng dẫn sửa chữa, Sơ đồ mạch điện và Hướng dẫn chẩn đoán để tránh làm mò.
    - Luôn cập nhật thông tin kỹ thuật mới nhất, như các bản tin kỹ thuật.
    - Hãy hỏi cố vấn dịch vụ hay người điều hành/đốc công nếu bạn không chắc lắm về một điều gì đó.
    - Hãy báo cáo cho cố vấn dịch vụ hay người điều hành/đốc công nếu bạn phát hiện thấy rằng có công việc phát sinh cần thiết không thấy nhắc đến trong phiếu yêu cầu sửa chữa.
    - Hãy tận dụng những khóa đào tạo
    * Kết thúc công việc theo thời gian đã hẹn trước
    - Thường xuyên kiểm tra xem bạn có thể hoàn thành công việc đúng giờ không.
    - Hãy thông báo cho cố vấn dịch vụ hay người điều hành/ đốc công nếu bạn nghĩ rằng có thể kết thúc muộn hơn (hay sớm hơn), hay nếu cần có thêm công việc phát sinh
    * Kiểm tra công việc khi hoàn thành
    - Xác nhận rằng những công việc chính đã hoàn tất.
    - Chắc chắn rằng tất cả công việc theo yêu cầu khác đã được hoàn tất.
    - Chắc chắn rằng xe sạch sẽ ít nhất là như bạn nhận nó.
    - Hãy trả ghế, vô lăng, gương về vị trí ban đầu.
    - Chỉnh lại đồng hồ, rađiô v.v. nếu bộ nhớ của chúng đã bị xóa
    * Giữ lại phụ tùng cũ
    - Đặt phụ tùng cũ vào túi ny lông hay túi đựng phụ tùng.
    - Đặt tất cả phụ tùng cũ vào nơi quy định (ví dụ trên sàn xe, ở phía trước của ghế hành khách trước
    * Hoàn tất
    - Hoàn tất phiếu yêu cầu sửa chữa và báo cáo (ví dụ, ghi nguyên nhân của hư hỏng, phụ tùng thay thế, nguyên nhân thay thế, giờ công lao động v.v.).
    - Báo cho cố vấn dịch vụ hay người điều hành/đốc công những thông tin khác mà không ghi trong Yêu cầu sửa chữa.
    - Báo cho cốvấn dịch vụ hay người điều hành/đốc công bất kỳ điều gì không bình thường mà bạn nhận thấy khi làm việc.

    CÂU HỎI – BÀI TẬP

    Câu 1 : Hãy nêu các hình thức tổ chức sản xuất trong nghề công nghệ ô tô ?
    Câu 2: Phương pháp tính nhịp sản xuất ?
    Câu 3 : Hãy nêu các mô hình tổ chức sản xuất tiêu biểu ?
    Câu 3: Hãy nêu phương pháp làm việc phù hợp ? Và ứng dụng phương pháp làm việc phù hợp trong ngành sửa chữa ô tô ?





























    Bài 4
    XÂY DỰNG NHÓM SẢN XUẤT

    1. KHÁI NIỆM VỀ TỔ SẢN XUẤT, HOẠT ĐỘNG NHÓM NHỎ
    1.1. Khái niệm về tổ sản xuất
    Nhiều cơ sở sản xuất vẫn hay sử dụng từ nhóm làm việc một cách tùy tiện. Xét về mặt bản chất, nhóm là một sự thống nhất về mục đích, là sự phối hợp và đổi mới một số người thì nhóm là một biểu hiện của sự bình đẳng. Tuy nhiên, ít có tập thể nhân viên nào lại hội đủ điều kiện của nhóm, mà thông thường đó chỉ là các tổ làm việc. Trong tổ làm việc, một nhà quản lý hay giám sát chung sẽ chỉ đạo các thành viên và các thành viên đó không nhất thiết phải hợp tác với nhau mới có thể hoàn thành nhiệm vụ của họ.
    Sơ đồ tổ làm việc

    Nhiều phòng ban hoạt động theo mô hình tổ làm việc này. Ở đây, mỗi nhân viên tự mình thực thi công việc dưới sự chỉ đạo của tổ trưởng hay nhà quản lý và thường ít tương tác với các thành viên khác trong phòng ban. Thông thường, nhà quản lý sẽ nói với các thành viên trong tổ làm việc: “ Đây là mục tiêu của chúng ta và đây là nhiệm vụ của các anh’’. Nếu các thành viên thực hiện theo hướng dẫn, họ sẽ đạt được mục tiêu đó. Cấp trên chị tránh nhiệm đưa ra mọi quyết định quan trọng và hợp nhất nhiều phần việc khác nhau của các thành viên. Còn trong môi trường nhóm làm việc thì những chức năng chủ chốt này do các thành viên thực hiện.
    Tổ làm việc có ưu điểm nhất định. Vì nhu cầu phối hợp trong tổ là rất nhỏ nên tổ có tất cả các kỹ năng cần thiết để đạt được mục tiêu chung của phòng ban, nhiệm vụ được giao phó hợp lý và nhà quản lý nắm vững mọi yêu cầu cần thiết để đạt được mục tiêu chung. Tuy nhiên, tổ làm việc theo kiểu truyền thống cũng có một số nhược điểm. Đó là nhà quản lý phải mất thời gian tập hợp mọi thông tin và hoạt động từ các thành viên để đưa ra quyết định.
    1.2. Khái niệm hoạt động nhóm nhỏ
    - Trong xã hội loài người nhóm hình thành rất sớm. Từ thời tiền sử, con người muốn tồn tại cần hình thành các nhóm. Nhóm để chống thú dữ, nhóm để cùng săn bắn, xây dựng chỗ ở chống chọi với thiên nhiên…
    - Từ nhỏ chúng ta đã sống trong gia đình, nhóm bạn bè cùng xóm, cùng lớp học, cùng lứa tuổi…cho đến khi trưởng thành học tập và làm việc chúng ta đã vô tình hay có ý thức tham gia vào rất nhiều nhóm. Chỉ có điều chúng ta chưa tự hỏi vậy thì ta sẽ hòa mình vào nhóm như thế nào để làm việc hiệu quả nhất. Và nhóm cũng đã làm gì giúp cho chúng ta và giúp nhóm hoạt động hiệu quả. Do đó nghiên cứu, học tập về động thái nhóm rất quan trọng. Từ đầu thế kỷ 20 đã có nhiều nghiên cứu về nhóm trong sản xuất công nghiệp, ảnh hưởng của nó tới năng suất lao động của từng người và nhóm người cũng như tác động thay đổi hành vi, ứng xử của cá nhân. Những phát hiện của các nhà xã hội học Âu- Mỹ cho thấy nhóm có tác động tích cực và cả tiêu cực đến mọi mặt hoạt động xã hội: giáo dục, sản xuất, nghiên cứu…Do đó mọi người cần được trang bị những kiến thức và kỹ năng về nhóm và làm việc nhóm.
    - Nhóm không đơn giản chỉ là một tập hợp nhiều người làm việc cùng nhau hoặc làm việc dưới sự chỉ đạo của một nhà quản lý. Nhóm là một tập hợp những các nhân có các kỹ năng bổ sung cho nhau và cùng cam kết chịu trách nhiệm thực hiện một mục tiêu chung. Các thành viên trong nhóm tương tác nhau với trưởng nhóm để đạt mục tiêu chung, các thành viên trong nhóm phụ thuộc vào thông tin của nhau để thực hiện phần việc của mình. Họ kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ và phụ thuộc vào trưởng nhóm để được cung cấp nguồn lực, được huấn luyện khi cần thiết như khi cần sự phối hợp hay liên kết với nhóm phòng ban khác trong tổ chức. Quyết định của nhóm phản ánh bí quyết và kinh nghiệm của nhiều người, điều này có thể dẫn đến những quyết định phù hợp, chính xác và khách quan.
    Sơ đồ nhóm

    - Nhóm là một tập hợp những cá nhân có các kỹ năng, có chung mục tiêu bổ sung cho nhau và cùng cam kết chịu trách nhiệm thực hiện một mục tiêu chung. Các thành viên trong nhóm tương tác với nhau và với trưởng nhóm để đạt được mục tiêu chung. Các thành viên trong nhóm phụ thuộc vào thông tin của nhau để thực hiện phần việc của mình. Các thành viên có vai trò nhiệm vụ rõ ràng và có các quy tắc chung chi phối lẫn nhau.
    - Có thể chia ra thành nhóm chính thức và nhóm không chính thức. Nhóm chính thức là nhóm được hình thành xuất phát từ nhu cầu của một tổ chức, trên cơ sở quyết định của tổ chức đó. Nhóm không chính thức là nhóm hình thành tự nhiên từ nhu cầu của mỗi thành viên của nhóm , thí dụ như nhóm bạn bè có cùng sở thích, nhóm người có cùng mối quan tâm…Trong một tổ chức thường tồn tại cả nhóm chính thức và nhóm không chính thức. Thời gian tồn tại của nhóm cũng là một yếu tố quan trọng. Có nhóm tồn tại suốt thời gian tồn tại của tổ chức. Có nhóm tồn tại theo từng dự án. Có nhóm lại chỉ hoạt động trong thời gian ngắn tính bằng phút như các nhóm thực hiện các bài tập , trò chơi trong các buổi tập huấn…Các nhóm dự án là các nhóm làm việc, nó là tập hợp những thành viên có năng lực làm việc bổ trợ cho nhau, cùng cam kết thực hiện mục tiêu chung, gắn với mục đích của tổ chức .
    - Một trong những yếu tố quan trọng nhất của nhóm là phải có mục tiêu nhóm.
    + Mục tiêu chung (hay mục đích) của nhóm phải cụ thể, rõ ràng. Mục tiêu này phải được các thành viên nhóm hiểu rõ và cùng cam kết thực hiện. Mục tiêu xuyên suốt quá trình hoạt động của nhóm, nhưng cũng có thể điều chỉnh thay đổi để phù hợp môi trường mà nhóm tồn tại. Tuy nhiên mục tiêu từng thành viên, mục tiêu của nhóm phải phù hợp với mục tiêu của tổ chức
    + Yếu tố thứ hai của một nhóm là các thành viên phải tương tác, liên hệ, giao tiếp với nhau thường xuyên. Tiếp xúc và tương tác sẽ làm ảnh hưởng lẫn nhau giữa các thành viên và tác động ảnh hưởng này làm nên động lực phát triển nhóm: có thể tích cực hoặc tiêu cực.
    + Yếu tố thứ ba là các quy tắc nhóm. Nhóm phải xây dựng được quy tắc, quy định, nội quy của nhóm để sao cho nhóm hoạt động hiệu quả. Đây là những quy tắc chính thức. Trong nhóm còn có những quy tắc ngầm không công bố nhưng cũng có hiệu lực không kém phần quan trọng. Quy tắc ngầm có mặt tích cực và mặt tiêu cực.
    + Yếu tố cuối cùng là vai trò, trách nhiệm rõ ràng của các thành viên trong nhóm. Nhóm chỉ hoạt động hiệu quả khi các thành viên được biết rõ nhiệm vụ, phù hợp năng lực của mình, không chồng chéo, giẫm đạp lên nhau.
    Nhóm làm việc được thành lập để giải quyết và thực hiện công việc nào đó có mục tiêu rõ ràng mà một cá nhân không thể hoàn thành. Nếu những công việc đơn giản, có thể giải quyết bởi 1 cá nhân, không đòi hỏi phải phối hợp, không cần phối hợp nhiều kỹ năng thì không cần thiết tới thành lập nhóm.
    2. CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG NHÓM
    2.1. Tầm quan trọng của nhóm làm việc:
    - Làm việc theo nhóm là xu hướng chung của các tổ chức, doanh nghiệp, công ty trên thế giới. Tại sao vậy? Một số đặc điểm sau đây có thể lý giải xu hướng này. Làm việc theo nhóm tạo điều kiện tăng năng suất và hiệu quả của công việc. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng làm việc theo nhóm năng suất và hiệu quả của mỗi cá nhân cao hơn hẳn năng suất và hiệu quả trung bình của mỗi cá nhân khi làm việc riêng lẻ. Vì trong nhóm, khi làm việc các kỹ năng và kinh nghiệm bổ trợ lẫn nhau. Làm việc theo nhóm có thể giảm được một số nhân sự, khâu trung gian nên linh hoạt hơn. Vì linh hoạt nên tổ chức dễ thay đổi để đối phó với thay đổi của môi trường, nắm bắt cơ hội và giảm thiểu nguy cơ. Nhóm có thể tạo ra môi trường làm việc mà các kiến thức và kinh nghiệm của các cá nhân bổ trợ cho nhau, các quyết định đưa ra toàn diện và phù hợp hơn. Nhóm làm việc có đủ khả năng hoàn thành một dự án hoàn chỉnh trong khi mỗi cá nhân chỉ có thể hoàn thành một phần việc. Nhóm có thể tận dụng những gì tốt nhất của mỗi cá nhân trong công tác chuyên môn và cả ngoài chuyên môn. Các thành viên tự rút ra những gì tốt nhất để học hỏi lẫn nhau, cải thiện thái độ và ứng xử của mình.
    - Nhóm làm việc hiệu quả là nhóm hội tụ một số đặc điểm cơ bản như các thành viên hiểu rõ lý do tồn tại của nhóm; các nguyên tắc và quy chế được thảo luận, đồng thuận; thông tin trong nhóm thông đạt; các thành viên hỗ trợ nhau; có những quy tắc kiểm tra, đánh giá, khen thưởng rõ ràng. Để có những đặc điểm trên nhóm phải giữ giá trị căn bản của nhóm, lấy đó làm định hướng hoạt động của mình chứ không phải là thi hành theo chỉ thị cấp trên. Các nhiệm vụ của cá nhân và nhóm được nêu rõ bằng các mục tiêu
    - Nhóm phải phối hợp lẫn nhau, sáng tạo. Tuy nhiên những đặc điểm trên không phải là có ngay mà phải hình thành xây dựng dần dần trong các giai đoạn phát triển của nhóm. Tác động tới sự làm việc hiệu quả của nhóm là các yêu tố bối cảnh, quy mô nhóm, sự đa dạng của thành viên nhóm, các chuẩn mực nhóm, lãnh đạo…
    - Phương pháp sản xuất theo nhóm áp dụng rộng rãi trong các xí nghiệp loại hình sản xuất hàng loạt, đặc biệt là sản xuất cơ khí. Hiệu quả của sản xuất theo nhóm có thể tóm lại trong các điểm cụ thể sau: Giảm bớt khối lượng và thời gian của công tác chuẩn bị kỹ thuật cho sản xuất. Giảm nhẹ công tác xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật, công tác kế hoạch tiến độ. Cải tiến tổ chức lao động, tạo điều kiện chuyên môn hóa công nhân, nâng cao trình độ nghề nghiệp và năng suất lao động. Giảm chi phí đầu tư máy móc thiết bị, đồ gá lắp, nâng cao hệ số sử dụng máy móc thiết bị.
    2.2. Phương pháp sản xuất theo nhóm
    Loại hình sản xuất hàng loạt nhỏ và vừa thường có nhiều mặt hành cùng được sản xuất trong hệ thống. Vì thế, người ta cần rất nhiều thời gian để điều chỉnh sản xuất cho các loạt sản phẩm. Sản xuất dây truyền trong trường hợp này sẽ không đạt hiệu quả cao.
    Phương pháp sản xuất theo nhóm không cần thiết kế quy trình công nghệ, bố trí máy móc để sản xuất từng loại sản phẩm, chi tiết, mà làm chung cho cả nhóm dựa vào chi tiết tổng hợp đã chọn. Các chi tiết của một nhóm được gia công trên cùng một lần điều chỉnh máy.
    Nội dung phương pháp sản xuất theo nhóm bao gồm các bước chủ yếu sau:
    - Thứ nhất, tất cả các chi tiết cần chế tạo trong xí nghiệp sau khi đã tiêu chuẩn hóa chúng được phân thành từng nhóm căn cứ vào kết cấu, phương pháp công nghệ, yêu cầu máy móc thiết bị giống nhau.
    - Thứ 2, lựa chọn chi tiết tổng hợp cho cả nhóm. Chi tiết tổng hợp là chi tiết phức tạp hơn cả và có chứa tất cả các yếu tố của nhóm. Nếu không chọn được chi tiết như vậy, phải tự thiết kế một chi tiết có đủ điều kiện như trên, trong trường hợp này, người ta gọi đó là chi tiết tổng hợp nhân tạo.
    - Thứ ba, lập quy trình công nghệ cho nhóm, thực chất là cho chi tiết tổng hợp đã chọn.
    - Thứ tư, tiến hành xây dựng định mức thời gian cho các bước công việc của chi tiết tổng hợp, từ đó lập định mức cho tất cả các chi tiết trong nhóm bằng phương pháp so sánh.
    - Thứ năm, thiết kế, chuẩn bị dụng cụ, đồ gá lắp, bố chí máy móc thiết bị cho toàn nhóm.
    2.3. Vai trò các thành viên trong nhóm
    - Các thành viên nhóm thường có vai trò nhất định, được phân công hoặc nhận những nhiệm vụ cụ thể. Nhóm chính thức có trưởng phó nhóm, thư ký, hậu cần…Nhóm không chính thức cũng có thể có các vai trò đó.
    - Trưởng nhóm giữ vai trò người tổ chức, người thực hiện và người điều hành. Trưởng nhóm phải lo bố trí các cuộc họp từ buổi gặp mặt đầu tiên đến khi nhóm tan rã. Việc tổ chức cuộc họp bàn kế hoạch sao cho có sự tham gia bình đẳng giữa các thành viên là kỹ năng cần có của trưởng nhóm. Lập kế hoạch và phân công công việc cho các thành viên cũng là nghệ thuật của trưởng nhóm. Tất cả các giai đoạn hoạt động của nhóm, người nhóm trưởng phải nắm vững và điều hành cho tốt. Các kỹ năng điều hành hoạt động nhóm đã có rất nhiều sách viết và có những lớp tập huấn kỹ càng. Nhưng quan trọng nhất là trưởng nhóm phải là người có các kỹ năng truyền thông và thúc đẩy và càng có nhiều trải nghiệm càng tốt ( xem phần Kỹ năng giao tiếp). Các kỹ năng này được xây dựng dựa trên nền tảng của 4 thái độ: cảm thông, tôn trọng, quan tâm và tin tưởng vào tiềm năng nhóm. Tóm lại trưởng nhóm phải là người có trách nhiệm với công việc của nhóm, với từng thành viên của nhóm và với cả nhóm nói chung.
    Ngoài ra khi đề cập đến vai trò thành viên còn lại trong nhóm người ta thường phân các thành viên thành các “kiểu vai trò” hỗ trợ hay cản trở các hoạt động của nhóm. Có ba loại vai trò như vậy.
    Loại thứ nhất là các thành viên hỗ trợ cho viêc hoàn thành công việc như người khởi xướng, người làm sáng tỏ, người thực hiện, người thông tin, người đóng góp.
    Loại thứ hai là các thành viên củng cố nhóm như người khuyến khích, người giữ cửa, người quan sát, người đề xuất và củng cố quy tắc, người đùa vui.
    Nhóm thứ ba là nhóm những người tiêu cực như người gây hấn, người phu thuộc, người thống trị, người đùa dai, người lè phè, người phá đám…
    Hai nhóm đầu là nhóm tích cực. Khi có những hành vi tiêu cực cần đưa quy tắc, quy chế của nhóm ra để các thành viên tự giác tuân theo.
    2.4. Quy tắc nhóm
    Tập thể nào khi làm việc chung cũng xây dựng nội quy để mọi người tuân theo. Ví dụ như giờ giấc làm việc, lịch họp, kỷ luật làm việc... Đây là những quy tắc được công bố. Nhưng quan trọng hơn nữa là những quy tắc không thành văn, ngấm ngầm, phản ánh sắc thái riêng của nhóm. Ví dụ ở xí nghiệp A không cần nhắc nhở mà ai cũng đi đúng giờ, mọi người cởi mở thẳng thắn...
    2.5. Vai trò
    Muốn đạt đến mục đích chung tập thể nào cũng phải phân công cụ thể, ai làm việc nấy. Ví dụ phòng ban có trưởng, phó ban, thư ký, thủ quỹ.... Câu lạc bộ có chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, các trưởng ban học tập, công tác xã hội, giải trí,.... Dẫm chân lên nhau hay không làm đúng công việc được phân công sẽ gây khó khăn cho sự vận hành của nhóm.
    Trên đây là những vai trò được phân công chính thức. Tuy nhiên khi nghiên cứu diễn tiến của một nhóm, các nhà khoa học phát hiện rằng nhóm viên một cách tự nhiên có những động tác xây dựng nhóm hay ngược lại cản trở bước đi của nhóm. Điều này có khi họ có ý thức, có khi không. Có ba nhóm vai trò được phát hiện :
    Liên quan đến việc hoàn thành công tác có các động tác như :
    Khởi xướng (câu chuyện, công việc)
    Làm sáng tỏ (ý kiến, vấn đề, mục tiêu)
    Thi hành mau lẹ (một ý kiến, một dự án)
    Thông tin (cho và nhận ý kiến)
    Đóng góp (bằng lời hay bằng hành động)
    2.6. Tương tác nhóm
    Tất cả những người đã “ký tên vì công lý” (để giúp nạn nhân chất độc màu da cam) đều chia sẻ một mục đích chung hết sức cao cả, nhưng họ không phải là một nhóm vì họ không gặp nhau. Để trở thành một nhóm các thành viên cần có mối “ quan hệ mặt giáp mặt ” kéo dài trong thời gian. Họ giao tiếp và ảnh hưởng lẫn nhau. Chính tương tác là yếu tố chủ yếu làm thay đổi hành vi con người. Trong tiếp xúc họ càng gắn kết với nhau thì nhóm càng có cơ may đạt đến mục đích chung. Chất lượng của tương tác mang ý nghĩa lớn vì nó làm tăng cường hiệu quả của nhóm.
    Qua trao đổi, tương tác, nhóm viên gắn kết mục đích riêng với mục đích chung. Họ liên kết với nhau để tiến tới mục đích nhóm.
    3. TỔ CHỨC NHÓM HOẠT ĐỘNG
    3.1. Phát triển nhóm
    Thông thường một nhóm nào đó chính thức hay không chính thức đều trải qua 5 giai đoạn trong quá trình phát triển của nhóm. Các giai đoạn này được mô tả dưới đây.
    * Giai đoạn 1: Hình thành nhóm.
    Giai đoạn này các thành viên nhóm bắt đầu tập hợp lại. Họ mang đến nhóm nhiều điểm khác biệt nhau từ tính cách đến cách làm việc, kiến thức và kỹ năng. Họ cần có thời gian tìm hiểu, thăm dò lẫn nhau để có thể thể hiện vai trò của họ hoặc không thể trong nhóm. Vai trò trưởng nhóm giai đoạn này là thúc đẩy các thành viên cởi mở, giao tiếp với nhau, sau đó cùng phối hợp xây dựng định hướng hoạt động của nhóm hoặc mục tiêu hoạt động nhóm. Nhóm trưởng và các thành viên tìm hiểu các thành viên khác về tính tình, khả năng làm việc, sự tự tin, trách nhiệm và những suy nghĩ đóng góp cho nhóm…Sau đó nhóm quyết tâm xây dựng hoặc hiểu rõ mục tiêu mà nhóm phải hoàn thành. Các mục tiêu được xây dựng bởi nhóm thường được đánh giá bằng các tiêu chí cụ thể, đo được, được đồng thuận, khả thi và có thời hạn xác định. Nếu nhóm không xây dựng được mục tiêu hoặc các thành viên không hiểu rõ mục tiêu của nhóm thì nhóm không thể hoàn thành công việc hoặc sớm tan rã.
    * Giai đoạn 2: Hỗn loạn/ bão táp.
    Giai đoạn này xảy ra khi các thành viên xung đột nhau về cách làm việc, công việc phân công và chia sẻ trách nhiệm. Mới hình thành nhóm nên có một số thành viên tỏ ra nổi trội, mất đoàn kết có thể xảy ra. Truyền thông, giao tiếp trong nhóm chưa suôn sẻ, người muốn thống trị, lôi kéo, người thì hãy thờ ơ. Trưởng nhóm lúc này phải là người cứng rắn, gương mẫu, gần gũi các thành viên, tránh để xảy ra căng thẳng quá, tổ chức tốt công việc và làm cho công việc bắt đầu có hiệu quả. Làm sao cho các thành viên nhóm hiểu nhau nhiều nhất, hiểu công việc, tránh các thành viên cạnh tranh nhau trở thành đối thủ. Tăng cường giao tiếp trong nhóm. Chuyển các công việc do thành tích cá nhân sang thành tích chung của nhóm.
    * Giai đoạn 3: Ổn định
    Giai đoạn này các thành viên bắt đầu nỗ lực đóng góp vào công việc chung của nhóm.
    Các thành viên nhóm tin tưởng lẫn nhau, gắn kết với nhau qua công việc. lãnh đạo nhóm tạo điều kiện để các thành viên hỗ trợ nhau. Bảo đảm các kênh thông tin trong nhóm thông suốt, xây dựng được cơ chế phản hồi tích cực. Thành viên tin tưởng lẫn nhau, cùng gắn kết bởi mục tiêu chung. Nhóm viên lắng nghe ý kiến lẫn nhau.
    * Giai đoạn 4: Hoạt động.
    Sau giai đoạn ổn định là giai đoạn hoạt động hiệu quả. Đặc trưng giai đoạn này là các thành viên hoàn toàn hòa hợp nhau, tạo ra năng suất làm việc cao, mọi tiềm năng của cá nhân và tập thể nhóm được phát huy, vấn đề được giải quyết hiệu quả, các mâu thuẫn không còn xảy ra. Tuy nhiên không phải là đã loại bỏ hết xung đột, vì xung đột lúc nào cũng thường trực tác động đến bất cứ nhóm nào ở bất cứ giai đoạn nào. Các thành viên phải tự hoàn thiện mình trong nhóm, thích ứng với thay đổi, chấp nhận sự khác biệt, hướng mục tiêu chung, tham gia vào việc quản lý chung.
    * Giai đoạn 5: Kết thúc (hay tan rã!).
    Giai đoạn này các thành viên đã hoàn thành mục tiêu chung (hoặc không hoàn thành mục tiêu nào cả). Các thành viên ít phụ thuộc vào nhau. Nhiệm vụ hoàn thành thì nhóm sẽ kết thúc vai trò (các nhóm nghiên cứu, nhóm dự án thường kết thúc như vậy), xây dựng hoặc tập hợp thành các nhóm mới với mục tiêu mới. Hoạt động của nhóm thường được giám sát và đánh giá để rút kinh nghiệm và bài học cho các nhóm khác, dự án khác.
    3.2.Hoạt động nhóm:
    Nhóm là tập hợp nhiều người do đó luôn có những thành viên mới với thành viên cũ, có quen nhau từ trước hoặc hoàn toàn chưa quen nhau. Người trưởng nhóm luôn phải giải quyết nhiều vấn đề về đoàn kết, tranh chấp, xung đột, ra quyết định, hài hòa các chức năng của nhóm. Các thành viên cũng cần hiểu rõ cá động thái của nhóm để xây dựng nhóm làm việc. Nhóm muốn vận hành hiệu quả thì cần làm tốt các hoạt động sau:
    * Hội nhập thành viên mới vào nhóm. Khó khăn luôn xảy ra khi nhóm mới thành lập hoặc có thêm thành viên mới nhập vào nhóm. Thành viên mới cũng phải tự mình giải quyết vấn đề hội nhập. Các thành viên mới có thể thuộc một trong ba dạng chính như người thích tranh cãi, người tốt bụng hoặc người có lý, ba dạng này đều gây khó khăn cho quá trình hội nhập. Người thích tranh cãi hay phản ứng lại mọi vấn đề, muốn khẳng định sự nổi trội của mình trong nhóm. Người tốt bụng thì có thái độ phụ thuộc người khác, luôn muốn tìm phe nhóm để dựa, sợ hãi những điều bất ngờ, nhu cầu an toàn cao.
    Người có lý thì lo lắng về nhu cầu cá nhân của mình trong nhóm, bướng bỉnh khi hòa hợp nhu cầu cá nhân và định hướng của nhóm.
    * Lãnh đạo nhóm liên quan đến nhiệm vụ và các mối quan hệ. Để đạt được năng suất trong làm việc nhóm thì phải thỏa mãn hai nhu cầu: nhu cầu liên quan đến nhiệm vụ và nhu cầu liên quan đến các mối quan hệ. Hai nhu cầu này toàn thể thành viên nhóm và lãnh đạo nhóm phải cùng phấn đấu để thỏa mãn. Các công việc gồm nêu ra tất cả các ý kiến, tìm kiếm thông tin, làm sáng tỏ các nhiệm vụ, làm rõ và tóm tắt nội dung các cuộc họp nhóm, thảo luận nhóm, khuyến khích các thành viên, dung hòa sự khác biệt, tăng cường giao tiếp, khuyến khích tham gia, tránh các thái độ gây rối…
    * Vai trò trong nhóm và sự vận động. Trong nhóm làm việc các thành viên luôn có một vai trò và muốn người khác cũng có vai trò rõ ràng. Nếu vai trò không rõ thì sẽ dễ gây hiểu lầm, mất đoàn kết ảnh hưởng đến năng suất chung. Các thành viên cũng mong muốn được biết người khác chờ đợi gì ở cá nhân đó. Không nen để vai trò của người này quá nhiều (quá tải) và người khác thì quá ít. Xung đột về vai trò có thể xảy ra bởi cá nhân với cá nhân, bởi cá nhân với tập thể, bởi chính cá nhân với vai trò của anh ta.
    * Các chuẩn mực, quy định của nhóm. Đây là các quy chế, quy tắc mà nhóm tự đề ra để các thành viên theo đó mà thực hiện. Các chuẩn mực của nhóm rất quan trọng, nó cho phép các thành viên trong nhóm nhận các thông tin phản hồi tích cực. Các chuẩn mực được xây dựng có sự tham gia, sao cho mục tiêu của nhóm được thực hiện một cách tốt nhất.
    * Sự gắn kết trong nhóm. Sự gắn kết trong nhóm làm cho nhóm hoạt động hiệu quả và bền vững. Các thành viên càng tự hào về mình được tham gia nhóm thì sự gắn kết trong nhóm càng cao. Như vậy các thành viên cũng như trưởng nhóm phải làm sao cho nhóm đáng tự hào về các công việc làm. Trưởng nhóm và các thành viên cần phấn đấu để có sự gắn kết trong nhóm cao và sự tuân theo chuẩn mực của nhóm cũng cao, để hình thành nhóm lý tưởng, có hiệu suất làm việc cao.
    3.3. Thông tin trong nhóm:
    Thông tin trong nhóm rất quan trọng, nó như là các mạch máu nuôi dưỡng cơ thể nhóm. Thông tin rõ ràng, chính xác thì mọi người sẽ hiểu nhau và hiểu nhiệm vụ để hơp tác với nhau. Thông tin có nguồn phát ra và có nơi tiếp nhận qua một kênh truyền nào đó, rồi lại phản hồi lại nơi phát thông tin. Cơ chế này phải thông suốt trong nhóm. Quá trình thông tin luôn tiếp diễn không ngừng.
    Trong nhóm thì thông tin xảy ra giữa cá nhân mỗi thành viên với nhóm trưởng và ngược lại, các thành viên với nhau và ngược lại.
    Thông tin được truyền bởi các kênh truyền thông tin. Các kênh này như nói, viết, ngôn ngữ cơ thể (động tác tay, chân, nét mặt…)
    Khi thông tin thì có những rào cản của thông tin. Các rào cản này làm hạn chế hoặc triệt tiêu thông tin mà mọi thành viên muốn gửi cho nhau và muốn nhận được. Do đó muốn nhậ thông tin tốt thì chúng ta phải rèn các kỹ năng truyền thông tin và nhận thông tin. Các kỹ năng này sẽ đề cập đến trong phần “ kỹ năng giao tiếp”.
    3.4. Thảo luận và ra quyết định trong nhóm:
    Nhóm là một tập thể làm việc để đạt được mục tiêu. Rất nhiều công việc cần phải được cùng bàn bạc, thảo luận và cuối cùng là ra quyết định. Cho nên đi tới quyết định định cuối cùng là nhiệm vụ rất quan trong của nhóm. Quá trình ra quyết định có sự tham gia có những đặc trưng riêng mà mỗi cá nhân trong nhóm cần phải hiểu để làm. Để ra quyết định có thể theo một số cách sau:
    Ra quyết định theo kiểu thờ ơ: một người nào đó đưa ra ý tưởng, các thành viên khác không quan tâm và do đó quyết định được nhanh chóng thông qua. Theo kiểu này một số ý tưởng hay khác không được phân tích và bị bỏ qua.
    Ra quyết định từ trên xuống: Theo kiểu này người lãnh đạo nhóm hay cấp cao hơn chỉ cần phổ biến, thông báo, nhân danh cả nhóm thông qua mà không qua thảo luận. Ra quyết định kiểu này nhanh chóng, nhưng cũng như kiểu trên có thể nhiều ý kiến hay khác bị bỏ qua. Nó trở nên xấu nếu người ra quyết định có quá ít thông tin, chủ quan và độc đoán. Khi thực hiện quyết định sẽ xảy ra vấn đề khác không lường trước.
    Ra quyết định theo kiểu thiểu số: Cách này một hoặc một vài cá nhân gợi ý rồi thúc giục, ép mọi người theo ý kiến mình. Khuyết điểm của cách này cũng như trên.
    Ra quyết định theo nguyên tắc đa số: Theo cách này mang danh dân chủ qua bỏ phiếu hoặc giơ tay tán thành lấy số đông. Quyết định sẽ thông qua nhưng không phải tất cả các thành viên đều hài lòng. Một số không hài lòng sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu suất công việc. Nguy cơ trong nhóm sẽ kéo bè cánh để lấy phiếu áp đảo cho quyền lợi của một nhóm nào đó.
    Ra quyết định theo nguyên tắc đồng thuận: Cách này chỉ ra quyết định khi đã thảo luận kỹ mọi ý tưởng, không bỏ qua ý kiến nào kể cả các ý kiến trái ngược. Quyết định được ra khi có đa số tán thành nhưng thiểu số khác cũng được nghe, được phân tích và có ý kiến của mình.
    Kiểu ra quyết định này mất nhiều thời gian nhưng sẽ tiến tới dần sự đồng thuận hoàn toàn – là lý tưởng đối với tiến trình ra quyết định.
    Để ra quyết định các thành viên cần được biết những khó khăn và thuận lợi khi ra quyết định, nhất là quyết định có sự đồng thuận, có sự tham gia. Những thuận lợi ở đây có thể là nhóm có nhiều hiểu biết, có nhiều lựa chọn hơn một người. Nhóm một khi đồng thuận thì có động lực cùng thực hiện quyết định. Khó khăn là có một số thành viên như bị bắt phải đồng ý, phải theo một ý tưởng, có thể có bè phái và áp đặt ý tưởng của các nhóm nhỏ, thảo luận nhiều thì chậm ra quyết định và có thể mất cơ hội.
    Nhóm cũng cần phải tránh kiểu “tư duy nhóm” nghĩa là đoàn kết quá thiếu dần tư duy phê phán. Tham gia trong nhóm lâu nên các thành viên gắn kết, không còn sẵn sàng phê phán ý tưởng của thành viên khác. Cần phát hiện sớm tư duy nhóm và có biện pháp phòng trừ.
    Để ra quyết định các thành viên và nhất là nhóm trưởng cần có các kỹ năng phát huy ý tưởng các thành viên khi thảo luận, bàn bạc và ra quyết định.
    4. LẬP KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG NHÓM.
    4.1. Tập hợp những cá nhân xuất sắc
    Khả năng làm việc của những nhân viên hàng đầu có thể mang lại những khoản lợi nhuận khổng lồ. Đừng ngần ngại đầu tư cho nhóm của mình một vài nhóm viên “có sạn trong đầu”. Một người giỏi bằng 3 người trung bình, đừng quá quan tâm đến số lượng.
    Để mời được những nhóm viên có năng lực đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Đừng tìm hiểu kiểu “ thức ăn nhanh ”. Hãy tìm hiểu tính cách, động cơ làm việc của những người được lựa chọn cũng như năng lực chuyên môn của họ, thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề, tàm nhìn và cách phân tích các chi tiết.
    4.2. Phân công nhiệm vụ phù hợp với khả năng và động cơ
    Nhiều nhà quản trị chưa nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này. Phân công nhiệm vụ phù hợp với khả năng và động cơ của từng thành viên, đó là một sự đảm bảo chắc chắn cho các nhiệm vụ được hoàn thành hiệu quả nhất. Khi đặt một người vào đúng vị trí của họ, trao cho họ vũ khí sở trường, công việc đảm bảo sẽ được thực hiện rất xuất sắc.
    Bạn có thể giúp các nhân viên tự khám phá ra động cơ làm việc và khả năng của họ bằng cách phỏng vấn, giao việc, thử trình độ,…
    4.3. Đảm bảo sự cân bằng
    Một dự án luôn thực hiện rất nhiều hoạt động. Vì vậy, trong nhóm phải có đầy đủ các nhóm viên chuyên gia trong từng lĩnh vực (tư vấn, phân tích, chuyên gia IT…). Rắc rối trong ở khâu nào sẽ có người giải quyết ngay khâu ấy, không để dự án bị ách.
    Sự cân bằng trong tính cách giữa các cá nhân cũng cần đảm bảo, điều này sẽ thúc dẩy mối quan hệ tốt đẹp trong nhóm. Luôn đề cao tinh thần tập thể, lựa chọn thành viên có chuyên môn cao đồng thời với khả năng thích ứng và linh hoạt với công việc cũng như với những người khác.
    4.4. Kiểm soát và điều chỉnh kịp thời
    Nếu là nhóm trưởng, bạn phải sâu sát mọi hoạt động của nhóm để có những điều chỉnh hợp lý. Không chỉ điều chỉnh công việc, và điều chỉnh mối quan hệ giữa các nhóm viên, kịp thời phát hiện những mâu thuẫn nội bộ để hóa giải, không để chúng ảnh hưởng đến công việc.
    Sự tự ý thức giữa các thành viên trong nhóm là điều cốt yếu, các thành viên cần thường xuyên đóng góp ý kiến, trình bày quan điểm của mình. Các buổi thảo luận công khai, có quy mô là rất cần thiết.
    4.5. Gây dựng lòng tin
    Không nên “vạch lá tìm sâu” hay tỳ tiện khiển trách các thành viên trong nhóm. Bên cạnh đó, việc biểu dương các thành tích, dù là nhỏ và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên sẽ thiết lập được sự thi đua và tính thân thiết trong nhóm.
    Biết chấp nhận sai sót của người khác, coi đó như một cách để họ học hỏi. Chắc chắn về vai trò và trách nhiệm của từng người để giao nhiệm vụ cho họ. Một nhà quản trị giỏi phải biết cân bằng giữa sức mạnh của từng cá nhân với sức mạnh của tập thể.
    4.6. Chặt chẽ trong công việc và thân mật với mọi người
    Tạo cơ hội cho các thành viên phát huy tối đa khả năng của mình. Sự hoàn thiện của mỗi cá nhân sẽ đóng góp cho thành công của cả nhóm.
    Động viên các thành viên trong nhóm khi họ gặp phải thất bại và cho phép họ sửa sai. Đặt con người lên hàng đầu. Cư xử chân thành với các nhóm viên.
    4.7. Nhắc nhở thường xuyên và kiểm tra sự thực hiện
    Sự minh bạch, rõ ràng trong việc truyền đạt thông tin cho cả nhóm là điều kiện rất quan trọng để thành công. Một dự án thường gặp nhiều thay đổi so với kế hoạch trong quá trình triển khai, mỗi thành viên cần nắm bắt kịp thời những điều chỉnh, tránh sự nhận thức mơ hồ.
    Tập thể nhóm cần được thông tin về bất kỳ một sự thay đổi nào, từ đó có thể tránh những va chạm làm ảnh hưởng đến công việc và nhiệm vụ của họ. Cần chắc chắn rằng các thành viên có sự nhận thức đầy đủ như nhau về những gì cần hoàn thành và mọi người luôn gắn kết với nhau. Bên cạnh đó, nhà quản trị luôn phải cập nhật những thông tin phản hồi. Có như vậy, hoạt động của nhóm mới thực sự mang lại hiệu quả tối ưu.
    4.8. Hiệu quả của sản xuất theo nhóm:
    Phương pháp sản xuất theo nhóm áp dụng rộng rãi trong các xí nghiệp loại hình sản xuất hàng loạt, đặc biệt là sản xuất cơ khí. Hiệu quả sản xuất theo nhóm có thể tóm lại trong các điểm cụ thể sau:
    - Giảm bớt khối lượng và thời gian của các công tác chuẩn bị kỹ thuật cho sản xuất. Giảm nhẹ công tác xây dựng định mức kinh tế kĩ thuật, công tác kế hoạch tiến độ.
    - Cải tiến tổ chức lao động, tạo điều kiện chuyên môn hóa công nhân, nâng cao trình độ nghề nghiệp và năng suất lao động. Giảm chi phí đầu tư thiết bị máy móc, đồ gá lắp, nâng cao hệ số sử dụng máy móc thiết bị.

    CÂU HỎI – BÀI TẬP

    Câu 1: Hãy so sánh giữa hoạt động nhóm sản xuất và hoạt động tổ sản xuất?
    Câu 2: Hãy nêu các nguyên lý cơ bản trong hoạt động nhóm?
    Câu 3: trình bày phương pháp lập kế hoạch hoạt động theo nhóm?
    Câu 4: Nêu nội dung tổ chức nhóm hoạt động?























    Bài 5
    ĐÀO TẠO THỢ BẬC DƯỚI

    1. ĐỌC TÀI LIỆU VÀ CHUẨN BỊ NỘI DUNG ĐÀO TẠO
    1.1. Phương pháp đọc tài liệu
    Trước khi đọc tài liệu cần phải đánh giá một tài liệu tìm được có đúng là tài liệu đáng tin cậy và phù hợp không, chúng ta nên xem xét tuần tự qua các tiêu chí:
    Nguồn gốc từ đâu?
    Ngày đăng tải
    Tiêu chí của sách
    Tác giả là ai?
    Nội dung có liên quan không?
    Chúng ta thường có thói quen mỗi khi mở máy thì mở rất nhiều chương trình ứng dụng và thường bị xao lãng vào những việc không cần thiết. Để tránh cho việc đọc một cách vô ích, cần thiết tắt các chương trình ứng dụng không liên quan, tắt internet và tốt nhất là nên đọc tài liệu bằng giấy. Nó cũng giúp bạn cho việc ghi chú. Trước đó bạn nên xác định mục đích đọc tài liệu như sau:
    Đọc tài liệu này để làm gì?
    Bạn muốn tìm kiếm thông tin gì?
    Thông tin đó có phải là những vấn đề bạn quan tâm.
    Có giúp bạn trả lời những thắc mắc.
    Đọc tài liệu là một quá trình khá lâu và trí nhớ con người thì hạn chế. Do đó, chúng ta cần có phương pháp để lưu trữ và tìm lại những khi cần thiết. Để mỗi lần đọc không trở nên vô ích và mất công đọc lại thì nên thực hiện việc đọc tích cực như sau:
    Ghi chú, đánh dấu ý chính
    Tóm tắt toàn bộ tài liệu hoặc một phần quan trọng
    Biết lĩnh hội kiến thức, tiêu hóa thông tin một cách chủ động, có chọn lọc
    Đánh giá, so sánh mối liên hệ giữa các ý, các tài liệu, các tác giả khác nhằm đưa ra một cái nhìn phân tích, tổng hợp, phê bình đối với mọi tài liệu.
    Để đọc tài liệu có hiệu quả, cần có sự tập trung và chú ý cao độ. Mục đích là: Hiểu nội dung thông điệp của tác giả; nắm bắt các thông tin phù hợp trong phạm vi đề tài nghiên cứu; ghi nhớ các khái niệm và ý quan trọng để mở rộng hiểu biết, đào sâu kiến thức chuyên ngành.
    Trước khi đọc, luôn cần phải đánh giá tổng quát về tính phù hợp của tài liệu với đề tài nghiên cứu. Lao vào đọc chi tiết một tài liệu chưa được sàng lọc trước rất có thể sẽ làm mất nhiều thời gian và công sức cho những thông tin không có ý nghĩa khoa học cao.
    Đối với các tài liệu bằng tiếng nước ngoài, hiệu quả đọc tài liệu phụ thuộc rất nhiều vào trình độ ngoại ngữ. Điều này liên quan đến năng khiếu ngoại ngữ cá nhân và quá trình rèn luyện lâu dài. Tuy nhiên, có một số kinh nghiệm là: Không quá phụ thuộc vào từ điển: gặp từ nào lạ, mới cũng tra từ điển là một thói quen không tốt cho việc rèn luyện khả năng ngoại ngữ; không nên ghi chú nghĩa tất cả các từ mới ngay trong bài: điều này tưởng sẽ giúp dễ hiểu hơn khi đọc tài liệu, nhưng thực ra sẽ làm bài đọc trở nên rối rắm, khó nhìn, không giúp rèn luyện trí nhớ và khả năng ngoại ngữ (một kiểu lệ thuộc từ điển); chọn một số từ điển tốt: điều này không trái ngược với ý thứ nhất mà lại là một công cụ giúp định vị tốt trong quá trình đọc, có rất nhiều loại từ điển khác nhau trên thị trường và không phải cuốn nào cũng tốt, các từ điển dịch (Anh - Việt, Pháp - Việt,...) luôn chỉ có giá trị tương đối, vì không thể nào theo kịp đà tiến bộ khoa học, công nghệ, các từ điển dịch có thể có những hạn chế về ngữ nghĩa của các thuật ngữ chuyên ngành hẹp mà các dịch giả không nắm rõ, khai thác nhiều bộ từ điển nguyên ngữ, đặc biệt là các từ điển giải thích, từ điển thuật ngữ chuyên môn, bách khoa thư,... luôn được cập nhật thường xuyên trên Mạng, với rất nhiều chi tiết cặn kẽ, chính xác về các thuật ngữ, khái niệm chuyên biệt.
    Nói chung, đối với mọi loại tài liệu phải biết xử lí thông tin khoa học mà tài liệu đó cung cấp, không sao chép/dịch một cách máy móc toàn bộ nội dung tài liệu, mà cần trích rút các thông tin cần thiết để tái cấu trúc và phát biểu lại bằng ngôn ngữ riêng của mình, với thông tin trích dẫn chính xác và đầy đủ.
    1.2. Chuẩn bị nội dung đào tạo
    Chuẩn bị nội dung đào tạo theo hệ thống mô đun là loại chương trình gồm nhiều mô đun được sắp xếp thành một hệ thống logic. Nội dung đào tạo theo môđun (Module) là cách thiết kế hiện đại và phổ biến trong dạy học hiện nay, nhất là trong lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp. Trong dạy học, thuật ngữ mô đun được dùng để chỉ một đơn vị kiến thức hoặc một hệ thống kỹ năng (thực tiễn hay trí óc) vừa tương đối trọn vẹn và độc lập, vừa có thể kết hợp với kiến thức hoặc kỹ năng khác, tạo thành hệ thống trọn vẹn có quy mô lớn hơn. Những kiến thức hoặc kỹ năng này thường được thể hiện dưới dạng các việc làm của học sinh. Hay mô-đun được hiểu là đơn vị học tập được tích hợp giữa kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và thái độ nghề nghiệp một cách hoàn chỉnh nhằm giúp cho người học nghề có năng lực thực hành trọn vẹn một công việc của một nghề.
    Nếu so sánh với loại chương trình theo hệ thống môn học, thì các kiến thức, kỹ năng, thái độ trong một mô đun được tích hợp từ nhiều môn học
    Nội dung đào tạo theo mô đun là hệ thống các mô đun được kết nối với nhau theo các hình thức nhất định, sao cho, khi hoàn thành các mô đun đó, người học đạt được một trình độ hoàn thành chương trình của mình. Thành phần chính của loại chương trình này gồm:
    - Mục tiêu đào tạo theo trình độ đào tạo (trình bày dưới dạng tổng quát);
    - Kế hoạch đào tạo;
    - Sơ đồ và nội dung các modul đào tạo.
    * Đặc điểm của đào tạo theo hệ thống mô đun:
    - Thứ nhất: Các mô đun vừa có tính độc lập vừa có tính liên kết. Đây là đặc điểm nổi bật của mô đun, giúp cho chương trình dạy học có tính cơ động và khả năng ứng dụng rất cao, đặc biệt là các chương trình ngành học hay bậc học. Do đặc điểm này của mô đun nên chương trình dạy học theo mô đun bao giờ cũng là chương trình mở.
    - Thứ hai: Kích cỡ của mô đun. Kích cỡ (độ lớn) của mô đun tùy thuộc vào dung lượng kiến thức hoặc kỹ năng thành phần trong mô đun đó. Vì vậy, không có quy định cứng nhắc về kích cỡ cho mọi mô đun. Độ lớn của mỗi mô đun được thể hiện bởi thời lượng học tập của học viên: trong một tuần, một học kỳ, một năm …v,v. Cần lưu ý khi xác độ lớn của mô đun không phải là số buổi lên lớp của giáo viên hay số lần tiếp xúc giữa giáo viên với học viên mà là số lượng công việc học viên phải thực hiện trong một đơn vị kiến thức hay kỹ năng của mô đun đó, tương ứng với đơn vị thời gian học tập được quy định.
    - Thứ ba: Cách kết nối mô đun trong chương trình. Trong chương trình, các mô đun có thể được kết nối theo mạng không gian hoặc theo tuyến tính. Kết nối theo mạng không gian là trong khoảng thời gian cho phép, các học viên có thể thực hiện đồng thời một số mô đun, tùy theo khả năng và điều kiện của mình. Kết nối theo tuyến tính là học viên thực hiện từng mô đun trong khoảng thời gian cho phép.
    - Thứ tư: Việc đánh giá kết quả học tập. Mỗi mô đun phải được đánh giá riêng và phải được hoàn thành trước khi sang mô đun mới.
    - Thứ năm: Tính lựa chọn. Trong một chương trình có nhiều dạng liên kết các mô đun, vì vậy, học viên có thể lựa chọn các mô đun để hoàn thành chương trình học tập theo quy định. Đây chính là ưu điểm lớn của chương trình theo mô đun. Nó cho phép học viên phát huy khả năng, tính độc lập và sự linh hoạt của mình theo các hoàn cảnh để đi đến mục tiêu học tập. Điều cần lưu ý, tuy việc lựa chọn các mô đun là quyền của học viên, nhưng phải tuân theo các nguyên tắc, được quy định trong chương trình.
    - Thứ sáu: Khả năng kết hợp, liên thông giữa các chương trình. Nếu trong các chương trình có một số mô đun giống nhau thì có thể sử dụng chung. Vì vậy, tạo ra khả năng liên kết, liên thông giữa các chương trình, cho phép học viên cùng một lúc theo đuổi một số chương trình, trên cơ sở khai thác và sử dụng nguồn lực của mình. Đây cũng là một thế mạnh của đào tạo theo mô đun.
    * Mô tả nội dung đào tạo theo nghề chuyên môn là nêu những nhiệm vụ của vị trí công việc mà người công nhân phải đảm nhiệm trong nghề đó.
    Ví dụ:
    Nghề sửa chữa ô tô là nghề thực hiện các công việc như: Kiểm tra, chẩn đoán, bảo dưỡng và sửa chữa các loại ô tô phổ biến theo đúng yêu cầu kỹ thuật chuyên ngành, đạt chất lượng, đảm bảo thời gian và an toàn.
    Để đáp ứng được yêu cầu của nghề trước mắt và hướng cho sự phát triển trong tương lai, người công nhân cần phải:
    - Chọn và sử dụng thành thạo các dụng cụ tháo lắp, các loại thiết bị đo kiểm, cân chỉnh phù hợp cho từng công việc
    - Chẩn đoán và phát hiện các hư hỏng trong cơ cấu, hệ thống của ô tô chính xác và đầy đủ
    - Thực hiện các công việc bảo dưỡng và sửa chữa đúng quy trình, quy phạm và đảm bảo kỹ thuật
    - Vận hành thử được các loại ô tô
    Ngoài ra còn phải:
    - Thực hiên việc chăm sóc bảo quản các loại thiết bị và dụng cụ liên quan đến nghề sửa chữa ô tô
    - Tiến hành sửa chữa nhỏ các thiết bị điện trên ô tô
    - Bồi dưỡng kèm cặp công nhân bậc thấp
    - Tổ chức và quản lý quá trình bảo dưỡng sửa chữa tương ứng với trình độ của mình
    - Có đủ sức khỏe, thần kinh vững và phản xạ tốt để làm việc với độ chính xác cao trong môi trường tiềm ẩn nhiều nguy cơ độc hại và mất an toàn lao động do xăng dầu gây nên... Là nghề đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao vì nó liên quan đến tài sản và tính mạng của nhiều người.
    2. TỔ CHỨC HỘI THẢO CẬP NHẬT KIẾN THỨC CÔNG NGHỆ HIỆN ĐẠI
    Tổ chức một hội thảo cần thực hiện các công việc chính sau:
    * Lập kế hoạch tổng thể hội thảo dự kiến tổ chức trong năm
    - Tên: Hội thảo cập nhật kiến thức công nghệ hiện đại
    - Mục đích: Nghiên cứu các công nghệ hiện đại hiện nay lắp trên ô tô và phương phướng các công nghệ khác
    - Nội dung :
    Các kiến thức công nghệ hiện đại trên ô tô hiện nay là:
    + EFI - diesel là hệ thống phun nhiên liệu diesel điều khiển bằng điện tử.
    ECU phát hiện các tình trạng hoạt động của động cơ dựa vào các tín hiệu từ các cảm biến khác nhau. Căn cứ vào thông tin này, ECU sẽ điều khiển lượng phun nhiên liệu và thời điểm phun để đạt đến một mức tối ưu bằng cách dẫn động các cơ cấu chấp hành.
    + Hộp số tự động là Một hộp số mà trong đó việc chuyển số bánh răng được điều khiển bằng một ECU (Bộ điều khiển điện tử) được gọi là ECT- Hộp số điều khiển điện tử,
    + Hệ thống chống bó cứng phanh ABS
    Chức năng chính của ABS là chống hiện tượng bánh xe bị bó cứng khi phanh gấp (má phanh không nhả khi phanh gấp) khiến bánh xe không quay dẫn đến việc tài xế không thể kiểm soát và mất lái. Những xe được trang bị phanh ABS giúp lái xe có thể duy trì khả năng kiểm soát hướng lái khi phanh
    + Hệ thống cân bằng điện tử ESP
    Hệ thống ESP có thể kiểm soát độ cân bằng của xe trong những tình huống đánh lái đột ngột khi cua gấp hay gặp chướng ngại vật trên đường.
    + Hệ thống hỗ trợ phanh gấp BA
    Hệ thống hỗ trợ phanh gấp BA là công nghệ giúp lái xe tác động một lực đủ lớn lên chân phanh trong những tình huống khẩn cấp nhờ một cảm biến sẽ ghi nhận trạng thái người lái bỏ chân ga sang chân phanh đột ngột để kích hoạt BA
    + Hệ thống kiểm soát hành trình và áp suất lốp
    Ngoài khả năng tự duy trì tốc độ ổn định, hệ thống kiểm soát hành trình thông qua cảm biến và rada có thể điều chỉnh bướm ga và phanh để duy trì một khoảng cách an toàn với xe đi trước nếu có một sự thay đổi tốc độ đột ngột của giao thông. Trong trường hợp phát hiện ra nguy cơ va chạm, hệ thống này sẽ tự kích hoạt phanh gấp và siết chặt dây an toàn. Khi giao thông an toàn trở lại, hệ thống sẽ đưa xe về tốc độ như cũ hoặc lái xe cũng có thể điều chỉnh tốc độ bằng việc sử dụng chân phanh. Những xe được trang bị hệ thống kiểm soát áp suất lốp sẽ phát tín hiệu âm thanh hoặc đèn cảnh báp trên taplô nếu áp suất lốp nằm ngoài giới hạn an toàn cho phép
    + Hệ thống lái điện
    + Động cơ Hybrid
    + Hệ thống treo điều khiển điện tử
    + Hệ thống phanh BBW (Brake By Wire)
    + Một số công nghệ khác: Ghế ngồi điều hòa, Khả năng tự dừng xe hoặc giảm tốc độ, hộp số 8 hoặc 9 cấp, ứng dụng và kết nối Internet, Chìa khóa điện tử...
    - Thời gian dự kiến; dự trù kinh phí;…
    * Soạn thảo thông báo chuẩn bị hội thảo (tên; mục đích; nội dung; thành phần tham dự; thời gian dự kiến; nhiệm vụ của các đơn vị; các yêu cầu về viết bài, nhận bài tham gia, hội thảo;…)
    * Thành lập các Ban tổ chức, Ban giám khảo (nếu cần), Bộ phận phục vụ hội thảo.
    * Phân công người phụ trách và chịu trách nhiệm tập hợp các bài viết từ các đơn vị, cá nhân để tổ chức biên tập, tài liệu phục vụ hội thảo.
    * Lập kế hoạch chi tiết tổ chức cho hội thảo (tên; mục đích; nội dung; thành phần tham dự; thời gian, địa điểm tổ chức; số lượng báo cáo; nhiệm vụ của các đơn vị liên quan; dự trù kinh phí chi tiết; …) và kèm theo các bản Phân công nhiệm vụ của Ban tổ chức (điều khiển chương trình, báo cáo đề dẫn,…), của Ban giám khảo (nếu có), của Bộ phận phục vụ (cơ sở vật chất, thiết bị,…); Chương trình hội thảo (mốc thời gian, nội dung công việc, người thực hiện);…
    * Soạn thảo thông báo thực hiện kế hoạch cho hội thảo (tên; mục đích; nội dung; thành phần tham dự; thời gian, địa điểm tổ chức; nhiệm vụ của các đơn vị;…) trình cấp trên và phát hành các thông báo này đến các đơn vị
    * Kiểm tra các điều kiện, cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiêt bị,… phục vụ cho hội thảo.
    * Tổ chức hội nghị, hội thảo.
    3. HƯỚNG DẪN KÈM CẶP
    Hướng dẫn/ kèm cặp là làm việc với các thợ bậc dưới với phương pháp định hướng mục tiêu và theo kế hoạch để thực hiện kế hoạch và công việc tay nghề. Trong việc hướng dẫn/ kèm cặp việc phát triển nghề nghiệp cá nhân được thực hiện thông qua hướng dẫn cho đối tượng kèm cặp (người được hướng dẫn) thông qua học hỏi tất cả các kinh nghiệm và bằng cách đưa ra các công việc có tính thách thức. Những yêu cầu về mặt tính sáng tạo nghề nghiệp, kỹ thuật và năng lực giải quyết các vấn đề được tăng cường ở từng bước và tất cả các bước, nhưng các bước nên đủ nhỏ để có thể xử lý.
    Việc hướng dẫn/ kèm cặp thành công là việc đối thoại chung giữa người hướng dẫn và người được hướng dẫn, dẫn đến những quá trình thực hiện được cải thiện, việc tham gia được tăng cường và mối quan hệ được thường xuyên cải thiện giữa họ.
    Tóm lại, việc hướng dẫn kèm cặp hiệu quả phải thỏa mãn bốn tiêu chuẩn:
    - Hướng tới thay đổi hành vi của người được hướng dẫn; việc này khác so với các can thiệp khác nhau của người hướng dẫn để sữa chữa các vấn đề của bản thân công việc.
    - Hướng dẫn/kèm cặp hiệu quả đem đến kết quả là mối quan hệ công việc tích cực hoặc duy trì mối quan hệ này. Điều này phân biệt việc hướng dẫn/kèm cặp với các biện pháp mang tính chỉ huy và định hướng công việc nhiều hơn, ví dụ như các chỉ dẫn làm thế nào để thực hiện công việc (tốt hơn).
    - Hướng dẫn, kèm cặp hiệu quả cũng dựa trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và trên cơ sở tăng cường năng lực của người được hướng dẫn, kèm cặp để giải quyết các vấn đề gặp phải.
    - Và cuối cùng, hướng dẫn, kèm cặp thường tuân theo một cấu trúc cụ thể khi hai bên tiếp xúc nhau nếu việc này muốn có tác động lâu dài.
    Lịch biểu hướng dẫn/kèm cặp
    Bước đầu tiên trong lịch biểu hướng dẫn kèm cặp là cùng nhau xác định các khía cạnh công việc của người được hướng dẫn là nội dung kèm cặp. Việc mở rộng chuyên môn và kỹ năng của người được huấn luyện là điểm tối quan trọng. Chỉ có những nhiệm vụ mà người được hướng dẫn đã nắm được ở một mức độ nhất định (nhưng chưa đủ để thực hiện công việc được giao) là phù hợp với việc kèm cặp hướng dẫn. Đối với những nhiệm vụ mà người được hướng dẫn chưa hề có kinh nghiệm, nên bắt đầu với việc tập huấn một thời gian thì sẽ phù hợp hơn, nhờ vậy các thành viên có thể cảm thấy thoải mái với công việc này.
    Một yếu tố quan trọng trong việc hướng dẫn/kèm cặp chính là các buổi gặp, tiếp xúc để hướng dẫn. Trong buổi tiếp xúc đầu tiên, người hướng dẫn và người được hướng dẫn, hai bên phải cùng nhau đi đến một thoả thuận, hay một dạng hợp đồng, trong đó cùng thống nhất về:
    - Mục tiêu, cả về nội dung công việc liên quan cũng như việc phát triển cá nhân của của người được hướng dẫn.
    - Thống nhất về những kỳ vọng/mong đợi chung,
    - Thời gian hai bên quyết định làm việc cũng nhau và phương pháp cũng như thời điểm đánh giá quá trình hướng dẫn/kèm cặp này.
    Sau khi đánh giá, hai bên sẽ thống nhất xem có tiếp tục quá trình hướng dẫn kèm cặp này hay không bằng một hợp đồng mới hoặc kết thúc đợt hướng dẫn này vì không còn cần thiết nữa hoặc không hứa hẹn điều gì khả quan hơn, hoặc thay đổi quá trình hướng dẫn, kèm cặp này do kết quả không đạt được như mong đợi hoặc do có thêm các nhiệm vụ mới nằm ngoài phạm vi hướng dẫn/kèm cặp cũ.
    Các chức năng cơ bản của hướng dẫn/kèm cặp
    Người hướng dẫn/kèm cặp đóng một số vai trò khác nhau tuy đều có liên hệ. Cân đối các chức năng khác nhau này là một kỹ năng được học qua hoạt động thực tế.
    - Người hướng dẫn là một người có nhiều kinh nghiệm có tay nghề cao, người cung cấp cho các thợ bậc dưới sự hiểu biết nhiều hơn về hoạt động của nghề và giúp tăng cường sự cam kết đối với quá trình tự phát triển để có thể trở thành một cán bộ độc lập.
    - Người hướng dẫn bảo ban thợ bậc dưới để có thể làm việc được trong cơ quan, xí nghiệp, tăng sự cam kết và gắn bó đối với mục tiêu, giá trị của đơn vị như vậy người hướng dẫn còn tạo ra cảm hứng và động cơ làm việc. Người hướng dẫn giúp những người được hướng dẫn tuân thủ theo các quyết định và khuyến khích họ tìm hiểu các lý do có thể khiến không thể giữ lời hứa với người khác hoặc với chính mình.
    - Người hướng dẫn là một thầy giáo, người làm việc cùng với nhân viên để tăng khả năng của cán bộ, nhân viên và dạy họ các phát triển những khả năng này một cách đầy đủ. Người hướng dẫn chia xẻ các kinh nghiệm riêng của bản thân và cho biết mình đã rút ra được điều gì từ các kinh nghiệm đó.
    - Người hướng dẫn còn là người đối chất với người được hướng dẫn về những đề xuất và kết quả hoạt động của họ, người hướng dẫn thực hiện việc này bằng cách lắng nghe, đặt câu hỏi mở để khuyến khích người nghe động não; rồi đặt câu hỏi về những kết quả của những hoạt động của người được hướng dẫn. Người hướng dẫn sau đó đưa ra các nhận định phản hồi.
    Tóm lại, người hướng dẫn tuân thủ một quy trình chặt chẽ để người được hướng dẫn tự tìm hiểu về mình, và vào những thời điểm mà người hướng dẫn bị đình trệ, thì đưa ra các hỗ trợ bằng cách đặt câu hỏi và lắng nghe tích cực. Thông qua cách tiếp cận này quá trình phát triển của người được hướng dẫn có thể tiếp tục.
    Các bước trong các cuộc tiếp xúc hướng dẫn: để giải quyết vấn đề trong trường hợp này, người được hướng dẫn là người khởi sướng cuộc thảo luận:
    - Điểm xuất phát của cuộc thảo luận luôn luôn là đặt ra các mục tiêu. Trong khâu này người hướng dẫn và được hướng dẫn có thời gian để thống nhất về những kỳ vọng chung đối với cuộc tiếp xúc này và tạo dựng cơ sở để tin tưởng lẫn nhau.
    - Bước thứ hai là phân tích và tìm kiếm các khả năng lựa chọn. Người được huấn luyện sẽ mô tả tình huống mà anh ta cho là có vấn đề đối với mình. Người hướng dẫn sẽ đặt các câu hỏi để khuyến khích người được hướng dẫn mô tả một cách rõ ràng và chính xác xem anh ta/cô ta cảm thấy chưa thoã mãn hoặc hài lòng ở điểm nào. Người hướng dẫn sẽ hỏi về những cảm xúc mà người được hướng dẫn đã trải qua.
    Bước tiếp theo là người được hướng dẫn, được trợ giúp bằng các câu hỏi và những phản hồi từ người hướng dẫn, sẽ nắm vững những gì mà anh ta đã làm trong hoàn cảnh này và hiệu ứng ra sao. Tác động (ví dụ phản ứng từ người khác) đối với người được hướng dẫn có thể hiểu được không? Người hướng dẫn sẽ giúp người được hướng dẫn thử đặt mình vào vị trí của người khác.
    Khi tình hình đã trở nên rõ ràng và sáng sủa, người hướng dẫn sẽ mời người hướng dẫn cùng đóng góp ý tưởng về các phương án có thể được sử dụng trong những trường hợp như thế. Khâu cuối cùng là ra quyết định. Khi đã có đủ các phương án người được hướng dẫn bắt đầu suy nghĩ về các hệ quả của từng phương án và chọn ra phương án nào là hứa hẹn nhất. Người được hướng dẫn lựa chọn vị trí để cố gắng tìm ra những điều này và người hướng dẫn cũng như người được hướng dẫn đồng ý về một cuộc tiếp xúc khác để đánh giá về kết quả của phương án. Cuối cùng cần xem lại những gì đã diễn ra trong cuộc gặp và xem xét những gì sẽ được thực hiện trong lần tiếp xúc kế tiếp.
    Các bước trong một cuộc tiếp xúc hướng dẫn/kèm cặp: để cải thiện hoạt động
    Trong trường hợp này người hướng dẫn sẽ khởi xướng thảo luận:
    Khâu thứ nhất chính là chất vấn. Mục đích của khâu này là hạn chế những chống đối với các chủ đề của cuộc thảo luận và hướng cho thảo luận nhằm về tương lai cũng như những thay đổi mong muốn trong hành vi ứng xử. Trong khâu này, điểm nhấn mạnh là đưa ra các phản hồi, áp dụng các quy tắc vàng. Người hướng dẫn cần phải hiểu rõ ràng về vấn đề thực tế gây ra bởi các hoạt động của người được hướng dẫn.
    Khâu thứ hai là phản hồi về những phản ứng của người được hướng dẫn. Mục tiêu của khâu này là thu thập thông tin. Người được hướng dẫn có cơ hội làm rõ và phải đã làm rõ những vấn đề trên thực tế đã xảy ra. Người hướng dẫn đặt các câu hỏi để giúp người được hướng dẫn hiểu về nguyên nhân và hậu quả của những hoạt động gây có vấn đề. Cuối cùng cả hai đi đến thống nhất về vấn đề và nguyên nhân.
    Khâu thứ ba là ra quyết định. Trong khâu này người hướng dẫn và được hướng dẫn thống nhất với nhau về việc thực hiện những cư xử khác. Mục tiêu của khâu này là đảm bảo rằng người được hướng dẫn nhận thức được anh ta/cô ta đang gặp vấn đề và có những thay đổi cần phải thực hiện. Kết quả của khâu này có thể là một kế hoạch hành động và duy trì các mối quan hệ công việc tích cực.

    CÂU HỎI – BÀI TẬP

    Câu 1: Hãy nêu phương pháp đọc tài liệu và chuẩn bị nội dung đào tạo?
    Câu 2: Hãy nêu quy trình tổ chức một cuộc hội thảo?
    Câu 3: Mục đích của quá trình hướng dẫn kèm cặp?

































    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    a) Giáo trình: Tổ chức sản xuất – Nguyễn Thượng Chính – Sở giáo dục và đào tạo Hà Nội - Nhà xuất bản Hà Nội.
    b) Thiết bị xưởng ô tô – Th.s. Huỳnh Phước Sơn – Trường Đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh.
    c) Xây dựng nhóm làm việc hiệu quả - Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
    d) Giáo trình kế toán doang nghiệp – Tổng cục dạy nghề
    e) Tài liệu bài giảng phát triển Trương trình đào tạo nghề - Nguyễn Văn Tuấn – Võ Thị Xuân – Trường Đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh.
    f) Ngô Hắc Hùng – Chẩn đoán và bảo dưỡng kỹ thuật ô tô – NXB GTVT – Hà Nội, 2001.
    g) Thiết kế cơ sở sản xuất – Đại học giao thông vận tải
    i) Giáo trình: nâng cao hiệu quả công việc sửa chữa ô tô – Tổng cục dạy nghề
     
  3. trungtin1992
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    11/9/13
    Số km:
    9
    Được đổ xăng:
    3
    Mã lực:
    1
    Xăng dự trữ:
    650 lít xăng
    Ðề: Công nghệ phục hồi chi tiết

    Chủ đề của anh rất hay...nhưng sao anh không chuyên file word rồi chia sẽ thấy hay hơn..
    Thank a
     
  4. nguyensau1970
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    2/10/13
    Số km:
    4
    Được đổ xăng:
    0
    Mã lực:
    0
    Xăng dự trữ:
    369 lít xăng
    Ðề: Công nghệ phục hồi chi tiết

    Minh co ca file word
     
  5. trinhdinhtien84
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    27/10/15
    Số km:
    77
    Được đổ xăng:
    42
    Mã lực:
    41
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    786 lít xăng
    Bác ơi! cho tôi file word của mô đun nâng cao hiệu quả công việc để tham khảo với!
    Trinhdinhtien640@gmail.com
     
  6. trinhdinhtien84
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    27/10/15
    Số km:
    77
    Được đổ xăng:
    42
    Mã lực:
    41
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    786 lít xăng
    cho mình với bác ơi: Trinhdinhtien640@gmail.com
     
  7. thuymilk
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    15/7/16
    Số km:
    1
    Được đổ xăng:
    0
    Mã lực:
    0
    Giới tính:
    Nữ
    Xăng dự trữ:
    73 lít xăng
    #8 thuymilk, 15/7/16
    Chỉnh sửa cuối: 14/8/16
  8. mayxaydunghk
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    21/1/16
    Số km:
    848
    Được đổ xăng:
    964
    Mã lực:
    166
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    1,704 lít xăng
    Cám ơ cụ nhé
     

Chia sẻ trang này