Đang tải...

Công nghệ vật liệu Dầu DO, FO và dầu thủy lực

Thảo luận trong 'Công nghệ mới' bắt đầu bởi linhautonet, 14/5/10.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. linhautonet
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    15/10/09
    Số km:
    574
    Được đổ xăng:
    62
    Mã lực:
    51
    Xăng dự trữ:
    95 lít xăng
    [​IMG]
    Dầu Diesel được đặt tên theo nhà sáng chế Rudolf Diesel, và có thể được dùng trong loại động cơ đốt trong mang cùng tên, động cơ Diesel
    Nhiên liệu diesel (Diesel oil – DO)
    Dầu diesel là một loại nhiên liệu lỏng, sản phẩm tinh chế từ dầu mỏ có thành phần chưng cất nằm giữa dầu hoả (kesosene) và dầu bôi trơn (lubricating oil). Chúng thường có nhiệt độ bốc hơi từ 175 đến 370 độ C. Các nhiên liệu Diesel nặng hơn, với nhiệt độ bốc hơi 315 đến 425 độ C còn gọi là dầu FO (Fuel oil) hay Mazut.
    Tham khảo:
    Khi chưng cất sơ cấp dầu thô ta thu được phân đoạn sôi giữa 200oC và 320oC. Phân đoạn này được gọi là gas oil hay dầu diesel. Dầu gas oil thu được từ các sản phẩm
    cracking nhiệt và cracking xúc tác rất khác với gas oil thu được từ chưng cất trực tiếp dầu thô do thành phần của chúng đã bị biến đổi. Hàm lượng parafin đã bị giảm đi do sự hình thành các hiđrocacbon không bão hoà và hiđrocacbon thơm, chất lượng nổ và chỉ số cetan của dầu bị giảm đi.
    Tên gọi dầu gas oil có nguồn gốc từ việc dùng dầu này để sản xuất khí thắp sáng bằng cracking và mặc dầu ngày nay người ta không còn dùng nữa nhưng tên phân đoạn này vẫn được giữ nguyên vì những lượng lớn dầu vẫn được dùng để sản xuất khí ướt. Vì mục đích này, dầu gas oil phải có đặc trưng parafin để khi cracking nhiệt người ta thu được hiệu suất cao khí có nhiệt trị lớn. Bởi vậy, dầu gas oil phải là distillate cất trực tiếp từ dầu mỏ parafin.
    Nhiên liệu diesel (Diesel fuel) có cùng một khoảng nhiệt độ chưng cất (200 ÷ 320oC) như dầu gas oil và dĩ nhiên chúng là cùng một nhiên liệu nhưng được sử dụng cho động cơ nén – nổ (được gọi là động cơ diesel) vì thế chúng được gọi là nhiên liệu diesel. Các động cơ diesel có rất nhiều dạng và tốc độ, sử dụng một khoảng rất rộng các nhiên liệu từ các distillat của dầu thô đến các phân đoạn chưng cất dầu than đá và các dầu thực vật.
    Nhiên liệu Mazut ( Fuel oil – FO)
    Dầu FO (Fuel Oil) là dầu thô chưa chưng cất. Nó là mẹ của DO
    Dầu Fuel oil (FO, dầu ma zút) có hai loại chính:
    Dầu FO nhẹ có độ sôi 200-3000C, tỷ trọng 0,88-0,92.
    Dầu FO nặng có độ sôi lớn hơn 3200C và tỷ trọng 0,92-1,0 hay cao hơn.
    Tỷ trọng dầu ngoài phụ thuộc vào nhiệt độ như bạn thắc mắc, còn phụ thuộc vào rất nhiều nguyên nhân: thành phần vi chất, độ nhớt , nguồn gốc địa lý…Trung bình nó ở khoảng 0,9 tức là nhẹ hơn nước nguyên chất một chút.
    Tham khảo:
    Dầu FO là phân đoạn nặng thu được khi chưng cất dầu thô parafin và asphalt ở áp suất khí quyển và trong chân không. Các dầu FO có điểm sôi cao.
    Trong kĩ thuật đôi khi người ta còn chia thành dầu FO nhẹ và FO nặng. Vì thế, các đặc trưng hoá học có những thay đổi đáng kể nhưng không phải tất cả các đặc trưng này ảnh hưởng tới việc sử dụng chúng làm nhiên liệu và các kỹ thuật sử dụng để đạt hiệu quả cao
    Một số thông tin thêm :
    Độ nhớt của dầu FO rất cao và thay đổi trong phạm vi rộng từ 250-7.000 đơn vị Red-Wood chuẩn, trong khi đó độ nhớt của dầu đo chỉ là 40-70 đơn vị.
    Dầu FO có thể đem chưng cất trong chân không để cho dầu bôi trơn, sáp hay nhựa đường và dầu DO tùy theo loại dầu thô ban đầu. Dầu hôi: Có tỷ trọng khoảng 0,78-0,83, phạm vi độ sôi 160-2800C, nó là sản phẩm của quá trình chưng cất dầu thô. Ngoài công dụng thắp sáng, người ta còn dùng dầu hôi để chạy máy kéo.
    Dầu thủy lực – Hydraulic oil
    Hoạt động của nhiều máy móc công nghiệp được điều khiển bởi hệ thống thủy lực (hydraulic system), một hệ thống sử dụng chất lỏng để truyền áp lực. Thông thường, dầu bôi trơn và đôi khi nước được sử dụng để truyền áp suất. Dầu bôi trơn không chỉ có tác dụng truyền áp suất và điều khiển dòng chảy mà còn tối thiểu hóa lực ma sát và sự mài mòn của những phần chuyển động và bảo vệ bề mặt kim loại không bị rỉ sét.
    Hoạt động thủy lực dựa trên phát hiện của Pascal rằng áp suất trong chất lỏng giống nhau trong mọi hướng và giống như một đòn bẩy thủy lực. Như hình bên dưới, vật nặng 5 kg với 1 piston 10 cm2 sinh ra 1 áp suất 49 kPa (7.1 psi) khi truyền sang một piston 100 cm2 làm piston đó có thể nâng được một vật nặng 50 kg. Khi diễn ra sự chuyển động, piston nhỏ phải chuyển động 10 cm để đẩy piston lớn đi 1 cm.
    Thành phần lớn nhất của dầu thủy lực là dầu khoáng được thêm phụ gia để đạt một số tiêu chuẩn đặc biệt. Dầu thủy lực chống mài mòn (Antiwear hydraulic fluid) là lượng dầu thủy lực lớn nhất được sử dụng, chiếm khoảng 80%. Mặt khác, nhu cầu cho dầu chống cháy (fire-resistant fluid) chỉ khoảng 5% tổng thị trường dầu công nghiệp. Dầu chống cháy được phân loại thành dầu nền nước (high water-base fluid), nhũ tương nước trong dầu, glycol và phosphate ester.
    Theo wikimedia
     

Chia sẻ trang này