Đang tải...

Cơ bản Điều kiện làm việc và các dạng hư hỏng mài mòn của xy lanh

Thảo luận trong 'Động cơ' bắt đầu bởi Escape, 12/6/10.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. Escape
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    22/10/09
    Số km:
    1,123
    Được đổ xăng:
    49
    Mã lực:
    186
    Xăng dự trữ:
    575 lít xăng
    Điều kiện làm việc và các dạng hư hỏng mài mòn của xy lanh
    1 Điều kiện làm việc :
    - Chịu nhiệt độ cao và biến thiên không đều:
    Động cơ xăng: Tmax = 2800 0K
    Động cơ Diesel: Tmax = 2200 0K
    Vùng trên chịu nhiệt độ cao hơn vùng dưới và thay đổi trong một chu kỳ.
    - Chịu ma sát lớn, đặc biệt đối với động cơ cao tốc. Ở khu vực sát buồng cháy thường phải chịu ma sát khô và tới hạn, vùng dưới ma sát tới hạn và ma sát ướt.
    - Môi trường: sản vật cháy chứa các chất ăn mòn như: CO2, NO, SO2...kết hợp với nước tạo thành các axit.
    - Chịu tải trọng lớn và thay đổi theo chu kỳ.
    Piston ép lên xi lanh theo phương vuông góc bệ chốt về 2 phía do lực ngang N.
    Vận tốc trượt do tiếp xúc giữa séc măng và thân piston thay đổi lớn. Hao mòn của xi lanh tỷ lệ thuận với lực, vận tốc trượt, nhiệt độ. Đó là hao mòn có qui luật.

    2. Các dạng hư hỏng của xy lanh:
    a. Hao mòn xy lanh theo phương dọc trục :
    [​IMG]
    b. Hao mòn theo phương hướng kính
    Theo phương lực ngang N xi lanh bị mòn nhiều nhất dọc theo chiều trục.
    c Hao mòn không theo qui luật
    Trong vùng nhiều bụi, khoảng giữa xi lanh mòn nhiều do bụi (hạt mài tỷ lệ với vận tốc trượt). Bụi càng nhiều qui luật mòn càng tăng về phía dưới.
    - Mòn nhiều theo phương vuông góc lực ngang N thì lý do là piston bị nghiêng.
    - Đối với động cơ xăng: vùng đối diện xupáp nạp thường mòn nhiều, lý do là khí nạp rửa sạch màng dầu bôi trơn hoặc do ngưng tụ sản phẩm gây mòn.

    [​IMG]
    Các dạng hư hỏng của trục khuỷu.
    1. Hao mòn trục khuỷu có qui luật :
    Hao mòn, hư hỏng bình thường do qui luật làm việc của trục khuỷu.
    Động cơ 1 xi lanh mòn cổ chính bằng 1/2 lượng mòn cổ biên.
    Động cơ nhiều xi lanh cổ giữa thường mòn nhiều hơn.
    Tiếp xúc trục bạc, nếu có hạt mài thì hạt mài đọng lại gây hao mòn ở giữa nhiều hơn.
    Giả sử hao mòn tỷ lệ thuận với lực tác dụng (áp lực) và thời gian (số lần) tác dụng của nó thì qui luật hao mòn của chốt khuỷu và cổ trục chính của động cơ xăng khác động cơ diesel. Sở dĩ vậy, là vì đồ thị phụ tải tác dụng lên chốt khuỷu của hai loại động cơ này là khác nhau:
    - Động cơ xăng cao tốc: phần đầu to lực quán tính lớn và tác dụng nhiều lần, phần đuôi mặc dù có trị số lớn hơn, nhưng chỉ một lần tác dụng. Do đó, chốt khuỷu mòn phía dưới nhiều hơn và cổ trục chính mòn phía trên nhiều hơn.
    - Động cơ diesel vận tốc góc không lớn lắm nhưng áp suất lớn, nên đồ thị lực tác dụng lên chốt khuỷu có đầu nhỏ đuôi to. Điều đó bù trừ với số lần tác dụng lực. Do đó chốt khuỷu và cổ trục chính mòn đều hơn

    2. Hao mòn trục khuỷu không có qui luật :
    Hao mòn, hư hỏng không bình thường, do các dạng kết cấu đặc biệt của trục khuỷu.
    [​IMG]
    - Do thanh truyền chế tạo lệch tâm nên phân bố lực không đều (dạng hình thang). Do đó, hao mòn không đều.
    - Khoan lỗ dầu không hợp lý: do quán tính ly tâm mà các cặn dầu bám vào thành và đem sang phía trái (hình 1.18). Vì vậy, ở phía trái chốt khuỷu mòn nhiều hơn ở phía phải.

    3.Hỏng do mỏi
    Xuất hiện các vết nứt tế vi ở nơi tập trung ứng suất: góc lượn, cạnh sắc lỗ dầu...Dưới tác dụng của tải trọng biến thiên và đổi chiều mà các vết nứt tế vi dần phát triển lớn lên đến lúc làm gãy trục, vết gãy phẳng. Thường xảy ra đối với các trục khuỷu:
    - Có kết cấu không hợp lý: ε = 0 (không có độ trùng điệp). Ví dụ: động cơ D6-3D12 (gãy 40÷50%).
    - Có quá trình gia công sửa chữa không đúng: không có góc lượn hoặc góc lượn không đúng, không làm cùn các cạnh sắc của lỗ dầu.
    - Chế độ sử dụng không tốt: thay đổi tải đột ngột.
    - Lắp ráp không tốt: các cổ trục không đồng tâm gây tải trọng phụ trong quá trình sử dụng

    Điều kiện làm việc và các dạng hu hỏng của séc măng
    a Điều kiện làm việc :
    - Chịu nhiệt độ cao: trong quá trình làm việc, séc măng trực tiếp tiếp xúc với khí cháy, do piston truyền nhiệt cho xi lanh qua séc măng và do ma sát với vách xi lanh nên séc măng có nhiệt độ cao, nhất là séc măng thứ nhất. Khi séc măng khí bị hở, không khít với xi lanh, khí cháy thổi qua chỗ bị hở làm cho nhiệt độ cục bộ vùng này tăng lên rất cao, có thể làm cháy séc măng và piston. Nhiệt độ của séc măng khí thứ nhất 623÷673K, các séc măng khí khác 473÷523K, séc măng dầu 373÷423K. Do nhiệt độ cao, sức bền cơ học bị giảm sút, séc măng dễ bị mất đàn hồi, dầu nhờn dễ bị cháy thành keo bám trên séc măng và xilanh, làm xấu thêm điều kiện làm việc, thậm chí làm bó séc măng.
    - Chịu lực va đập lớn: khi làm việc, lực khí thể và lực quán tính tác dụng lên séc măng, các lực này có giá trị rất lớn, luôn thay đổi về trị số và chiều tác dụng nên gây ra va đập mạnh giữa séc măng và rãnh séc măng.
    - Chịu mài mòn: khi làm việc, séc măng ma sát với vách xi lanh rất lớn. Công ma sát của séc măng chiếm đến 50÷60% toàn bộ công tổn thất cơ giới của động cơ đốt trong. Séc măng sở dĩ ma sát lớn và mài mòn nhiều (nhất là séc măng khí thứ nhất) là do áp suất tiếp xúc của séc măng tác dụng lên vách xi lanh lớn, tốc độ trượt lớn mà bôi trơn lại rất kém, bị ăn mòn hoá học và mài mòn bởi các tạp chất sinh ra trong quá trình cháy hoặc có lẫn trong khí nạp và trong dầu nhờn.

    b. Hao mòn séc măng
    - Séc măng hao mòn ở phần miệng và phần lưng là nhiều nhất, hình 1.19. Đối với séc măng ô tô máy kéo khi khe hở miệng δ = 1,5÷ 2mm thì loại bỏ.
    - Mòn theo chiều cao chủ yếu mòn ở các góc.
    Khi mòn nhiều lực bung giảm kiểm tra như

    [​IMG]

    Mục đích của công tác kiểm tra và phân loại chi tiết:
    Qua kiểm tra phân loại để cho phép sử dụng lại các chi tiết còn dùng lại được một cách có hiệu quả tránh lãng phí, loại bỏ những chi tiết bị hư hỏng và xác định những chi tiết có thể sửa chữa, phục hồi để dùng lại.
    - Việc kiểm tra phân loại tốt sẽ cho phép nâng cao chất lượng và hạ giá thành sửa chữa.
    - Nếu kiểm tra phân loại không tốt sẽ có hại cho việc sửa chữa và sử dụng sau này. Ví dụ: dùng lại các chi tiết hư hỏng.
    Công tác kiểm tra phân loại chi tiết được tiến hành sau khi chi tiết đã được tẩy rửa sạch sẽ, bao gồm 3 loại công việc:
    - Kiểm tra chi tiết để phát hiện và xác định trạng thái, chất lượng của chúng.
    - Đối chiếu với tài liệu kỹ thuật để phân loại chúng thành:
    + Dùng được;
    + Phải sửa chữa mới dùng được;
    + Loại bỏ.
    - Tập hợp các tài liệu sau khi kiểm tra phân loại để chỉ đạo công tác sửa chữa
     
  2. ruantingjian
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    24/9/10
    Số km:
    6
    Được đổ xăng:
    0
    Mã lực:
    1
    Xăng dự trữ:
    229 lít xăng
    ôi sợ quá!!!!!!!!!!!!!!!!!!
     
  3. phanquoctan
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    4/3/10
    Số km:
    85
    Được đổ xăng:
    6
    Mã lực:
    0
    Xăng dự trữ:
    3 lít xăng
    cam on nhung kien thuc
     
    Đã được đổ xăng bởi nguyennemo.
  4. dochanh45
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    5/11/12
    Số km:
    9
    Được đổ xăng:
    1
    Mã lực:
    1
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    319 lít xăng
    :103::102::101::100::lx:37::35::32::27::69:=)):6::7::8::9:
     
    Đã được đổ xăng bởi nguyennemo.

Chia sẻ trang này