Đang tải...

Cơ bản "Đồ án hệ thống điều hoà không khí "

Thảo luận trong 'Điều hòa' bắt đầu bởi sahookee, 20/5/13.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. sahookee
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    22/10/11
    Số km:
    11
    Được đổ xăng:
    5
    Mã lực:
    1
    Xăng dự trữ:
    316 lít xăng

    PHẦN 1. MỞ ĐẦU
    1 Lý do chọn đề tài:
    Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao. Đòi đòi hỏi được cung cấp những gì tốt nhất là một nhu cầu chính đáng.Một chiếc xe hiện đại ngày nay có thể được ví như một toà nhà di động. Như vậy có nghĩa không thể chỉ dừng lại ở biệc đảm bảo về độ an toàn, về tín hiệu quả kinh tế hay tính thẩm mỹ một chiếc xe, mà còn cần phải đảm bảo trang bị được những hệ thống, thiết bị tiện nghi nhằm thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Vì thế đó là một trong những yêu cầu hàng đầu mà buộc các nhà thiết kế, chế tạo ôtô đặc biệt quan tâm.
    Ngày nay, việc sử dụng ôtô ở Việt Nam đã trở nên rất phổ biến. Các xe được trang bị hệ thống điều hoà chiếm 1 số lượng ngày càng nhiều. Điều đó đồng nghĩa với việc nhu cầu sử chữa hệ thống điều hoà trên ôtô ngày càng lớn. Vì vậy yêu cầu đặt ra đối với người thợ, người kỹ sư sửa chữa điều hoà đó là phải có được những kiến thức về hệ thống điều hoà nói chung và và hệ thống điều hoà không khí trên xe ôtô MêKông nói riêng để thực hiện việc sửa chữa một cách hiệu quả.
    Tại khoa Cơ khí – Trường CĐ Nghề Bách Khoa Hà Nội, việc học tập và nghiên cứu mảng hệ thống điều hoà không khí trên ôtô còn hạn chế, cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy và học còn thiếu thốn. Vì vậy các học sinh, sinh viên chưa tiếp cận được nhiều với mảng đề tài này. Điều này sẽ hạn chế về mặt kiến thức cũng như gặp khó khăn hơn khi ra trường làm việc trong môi trường nghiên cứu, sửa chữa hệ thống điều hoà nói chung và hệ thống điều hoà trên xe ôtô Mê Kông nói riêng. Xuất phát từ những lý do trên em xin mạnh dạn nhận đề tài :
    “ Nghiên cứu hệ thống điều hoà không khí trên xe ôtô Mê Kông’’
    2. Mục đích nghiên cứu.
    Đề tài: “Nghiên cứu hệ thống điều hoà trên xe ôtô Mê Kông’’được thực hiện nhằm mục đích:
    - Tìm hiểu chung về hệ thống điều hoà không khí trên xe ôtô nhừm cung cấp kiến thức cơ bản về hệ thống điều hoà cho người học.
    - Tìm hiểu về hệ thống điều hoà tự động trên ôtô với nội dung tìm hiểu về các lại cảm biến được sử dụng trong hệ thống điều hoà, cấu tạo và nguyên lý làm việc của các cụm thiết bị chính, phương pháp điều khiển điều hoà.
    - Đưa ra và hướng dẫn phân tích một số sơ đồ mạch điện điều hoà của một số hãng xe tiêu biểu.
    - Chuẩn đoán và sửa chữa những hư hỏng thường gặp trong hệ thống điều hoà không khí theo phương pháp sửa chữa, chuẩn đoán thông thường và theo phương pháp sử dụng hệ thống tự chuẩn đoán.
    3. Tính cấp thiết của đề tài.
    Ngày nay ôtô được sử dụng rộng rãi như một phương tiện tham gia giao thông, thông dụng. Ôtô hiện đại nhằm cung cấp tối đa về mặt tiện nghi cũng như tính năng an toàn cho con người khi sử dụng. Các tiện nghi được sử dụng trên xe hiện đại ngày nay càng phất triển, hoàn thiện và giữ vai trò hết sức quan trọng đối với việc đảm bảo nhu cầu của khách hàng như nghe nhạc, xem phim....Một trong những tiện nghi phổ biến đó là hệ thống điều hoà không khí trên ôtô.
    Hệ thống điện lạnh ôtô ngày càng được phát triển và hoàn thiện phục vụ nhu cầu con người. Nó tạo ra một cảm giác thoái mái khi sử dụng xe trong bất kỳ thời tiết nào. Đặc biệt nó giải quyết được vấn đề khí hậu ở Việt Nam, khí hậu khăc nghiệt, không khí bụi bẩn ô nhiễm. Tuy nhiên hệ thống càng hiện đại thì khả năng tiếp cận nó càng khó khăn khi xẩy ra hư hỏng. Một sinh viên nghành công nghệ ôtô cần phải trang bị cho mình những kiến thức cơ bản nhất về tất cả các hệ thống trên ôtô.
    Đặc biệt là hệ thống điện lạnh trên ôtô mà ngày nay sự tiếp cận nó gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy việc lựa chọn đề tài tốt nghiệp: “ Tìm hiểu hệ thống điều hoà không khí trên xe ôtô Mê Kông’’ là rất cần thiết. Đề tài được hoàn thành sẽ là cơ sở cho chúng em sau này có thể tiếp cận với những hệ thống điện lạnh được trang bị trên các ôtô hiện đại. Chúng em mong rằng đề tài sẽ góp phần nhỏ vào công tác giảng dạy trong nhà trường. Đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo cho các bạn học sinh, sinh viên chuyên nghành ôtôvà các bạn sinh viên đang theo học các chuyên nghành khác thích tìm hiểu về kỹ thuật ôtô.

    Phần 2 Nội Dung
    CHƯƠNG I . TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐIỀU HÒA KHÔNG KHÍ TRÊN Ô TÔ MÊ KÔNG.
    1.1 Giới thiệu chung về hệ thống điều hòa không khí trên ô tô.
    Điều hòa không khí là một hệ thống quan trọng trên xe. Nó điều khiển nhiệt độ và tuần hoàn không khí trong xe giúp cho hành khách trên xe cảm thấy dễ chịu trong những ngày nắng nóng mà còn giúp giữ độ ẩm và lọc sạch không khí. Ngày nay, điều hòa không khí trên xe còn có thể hoạt động một cách tự động nhờ các cảm biến và các ECU điều khiển. Điều hoà không khí cũng giúp loại bỏ các chất cản trở tầm nhìn như sương mù, băng đọng trên mặt trong của kính xe.
    Để làm ấm không khí đi qua, hệ thống điều hòa không khí sử dụng ngay két nước như một két sưởi ấm. Két sưởi lấy nước làm mát động cơ đã được hâm nóng bởi động cơ và dùng nhiệt này để làm nóng không khí nhờ một quạt thổi vào xe, vì vậy nhiệt độ của két sưởi là thấp cho đến khi nước làm mát nóng lên. Do đó ngay sau khi động cơ khởi động két sưởi không làm việc.
    Để làm mát không khí trong xe, hệ thống điện lạnh ô tô hoạt động theo một chu trình khép kín. Máy nén đẩy môi chất ở thế khí có nhiệt độ cao áp suất cao đi vào giàn ngưng. Ở giàn ngưng môi chất chuyển từ thể khí sang thể lỏng. Môi chất ở dạng lỏng này chảy vào bình chứa (bình sấy khô). Bình này chứa và lọc môi chất. Môi chất lỏng sau khi đã được lọc chảy qua van giãn nở, van giãn nở này chuyển môi chất lỏng thành hỗn hợp khí - lỏng có áp suất và nhiệt độ thấp. Môi chất dạng khí - lỏng có nhiệt độ thấp này chảy tới giàn lạnh. Quá trình bay hơi chất lỏng trong giàn lạnh sẽ lấy nhiệt của không khí chạy qua giàn lạnh. Tất cả môi chất lỏng được chuyển thành hơi trong giàn lạnh và chỉ có môi chất ở thể hơi vừa được gia nhiệt đi vào máy nén và quá trình được lặp lại như trước.
    Như vậy để điều khiển nhiệt độ trong xe, hệ thống điều hòa không khí kết hợp cả két sưởi ấm và giàn lạnh đồng thời kết hợp điều chỉnh vị trí các cánh hòa trộn và vị trí của van nước.
    Để điều khiển thông khí trong xe, hệ thống điều hòa không khí lấy không khí bên ngoài đưa vào trong xe nhờ chênh áp được tạo ra do chuyển động của xe được gọi là sự thông gió tự nhiên.
    Sự phân bổ áp suất không khí trên bề mặt của xe khi nó chuyển động, một số nơi có áp suất dương, còn một số nơi khác có áp suất âm. Như vậy cửa hút được bố trí ở những nơi có áp suất dương và cửa xả khí được bố trí ở những nơi có áp suất âm.
    Trong các hệ thống thông gió cưỡng bức, người ta sử dụng quạt điện hút không khí đưa vào trong xe.
    Các cửa hút và cửa xả không khí được đặt ở cùng vị trí như trong hệ thống thông gió tự nhiên. Thông thường, hệ thống thông gió này được dùng chung với các hệ thống thông khí khác (hệ thống điều hoà không khí, bộ sưởi ấm).
    1.2 Chức năng, phân loại, lý thuyết điều hòa không khí.
    1.2.1 Chức năng của điều hòa không khí.
    + Sưởi ấm.
    Hình 1.1: Nguyên lý hoạt động của bộ sưởi ấm
    Người ta dùng một két sưởi ấm như một bộ trao đổi nhiệt để làm nóng không khí. Két sưởi lấy nước làm mát của động cơ đã được hâm nóng bởi động cơ và dùng nhiệt độ này để làm nóng không khí nhờ một quạt thổi vào xe, vì vậy nhiệt độ của két sưởi là thấp cho đến khi nước làm mát nóng lên. Do đó ngay sau khi động cơ khởi động két sưởi không làm việc như là một bộ sưởi ấm.
    + Làm mát không khí.
    Giàn lạnh làm việc như là một bộ trao đổi nhiệt để làm mát không khí trước khi đưa vào trong xe. Khi bật công tắc điều hòa không khí, máy nén bắt đầu làm việc đẩy môi chất lạnh (ga điều hòa) tới giàn lạnh. Giàn lạnh được làm mát nhờ chất làm lạnh và sau đó nó làm mát không khí được thổi vào trong xe từ quạt gió. Việc làm nóng không khí phụ thuộc vào nhiệt độ của nước làm mát động cơ nhưng việc làm mát không khí hoàn toàn độc lập với nhiệt độ nước làm mát động cơ.

    Hình 1.2: Nguyên lý hoạt động của hệ thống làm mát
    + Hút ẩm.
    Lượng hơi nước trong không khí tăng lên khi nhiệt độ không khí cao hơn và giảm xuống khi nhiệt độ không khí giảm xuống. Khi đi qua giàn lạnh, không khí được làm mát. Hơi nước trong không khí ngưng tụ lại và bám vào các cánh tản nhiệt của giàn lạnh. Kết quả là độ ẩm trong xe bị giảm xuống. Nước dính vào các cánh tản nhiệt đọng lại thành sương và được chứa trong khay xả nước. Cuối cùng, nước này được tháo ra khỏi khay của xe bằng một vòi nhỏ.
    Ngoài ba chức năng trên hệ thống điều hòa không khí còn có chức năng điều khiển thông gió trong xe. Việc lấy không khí bên ngoài đưa vào trong xe nhờ chênh áp được tạo ra do chuyển động của xe được gọi là sự thông gió tự nhiên. Sự phân bổ áp suất không khí trên bề mặt của xe khi nó chuyển động được chỉ ra trên hình vẽ, một số nơi có áp suất dương, còn một số nơi khác có áp suất âm. Như vậy cửa hút được bố trí ở những nơi có áp suất dương và cửa xả khí được bố trí ở những nơi có áp suất âm.
    Trong các hệ thống thông gió cưỡng bức, người ta sử dụng quạt điện hút không khí đưa vào trong xe. Các cửa hút và cửa xả không khí được đặt ở cùng vị trí như trong hệ thống thông gió tự nhiên. Thông thường, hệ thống thông gió này được dùng chung với các hệ thống thông khí khác (hệ thống điều hoà không khí, bộ sưởi ấm).
    1.2.2 Phân loại điều hòa không khí trên ô tô.
    Hệ thống điều hòa không khí được phân loại theo vị trí lắp đặt và theo phương thức điều khiển.
    a. Phân loại theo vị trí lắp đặt.
    + Kiểu phía trước.
    Giàn lạnh của kiểu phía trước được gắn sau bảng đồng hồ và được nối với giàn sưởi. Quạt giàn lạnh được dẫn động bằng mô tơ quạt. Gió từ bên ngoài hoặc không khí tuần hoàn bên trong được cuốn vào. Không khí đã làm lạnh (hoặc sấy) được đưa vào bên trong.

    Hình 1.3: Kiểu phía trước
    + Kiểu kép.
    Kiểu kép là kiểu kết hợp giữa kiểu phía trước với giàn lạnh phía sau được đặt trong khoang hành lý. Cấu trúc này không cho không khí thổi ra từ phía trước hoặc từ phía sau. Kiểu kép cho năng suất lạnh cao hơn và nhiệt độ đồng đều ở mọi nơi trong xe.

    Hình 1.4: Kiểu kép
    + Kiểu kép treo trần.
    Kiểu này được sử dụng trong xe khách. Phía trước bên trong xe được bố trí hệ thống điều hòa kiểu phía trước kết hợp với giàn lạnh treo trần phía sau. Kiểu kép treo trần cho năng suất lạnh cao và nhiệt độ phân bố đều.

    Hình 1.5: Kiểu kép treo trần
    b. Phân loại theo phương pháp điều khiển.
    + Kiểu bằng tay.
    Kiểu này cho phép điều khiển nhiệt độ bằng tay các công tắc và nhiệt độ đầu ra bằng cần gạt. Ngoài ra còn có cần gạt hoặc công tắc điều khiển tốc độ quạt, điều khiển lượng gió, hướng gió.

    Hình 1.6: Kiểu bằng tay (Khi trời nóng)

    Hình 1.7: Kiểu bằng tay (Khi trời lạnh)
    + Kiểu tự động.
    Điều hòa tự động điều khiển nhiệt độ mong muốn, bằng cách trang bị bộ điều khiển điều hòa và ECU động cơ. Điều hòa tự động điều khiển nhiệt độ không khí ra và tốc độ động cơ quạt một cách tự động dựa trên nhiệt độ bên trong xe, bên ngoài xe, và bức xạ mặt trời báo về hộp điều khiển thông qua các cảm biến tương ứng, nhằm điều khiển nhiệt độ bên trong xe theo nhiệt độ mong muốn.

    Hình 1.8: Kiểu tự động (Khi trời nóng)

    Hình 1.9: Kiểu tự động (Khi trời lạnh)




    1.2.3 Lý thuyết về điều hòa không khí.
    Để có thể biết và hiểu được hết nguyên lý làm việc, đặc điểm cấu tạo của hệ thống điều hòa không khí trên ô tô, ta cần phải tìm hiểu kỹ hơn về cơ sở lý thuyết căn bản của hệ thống điều hòa không khí.
    Quy trình làm lạnh được mô tả như một quá trình tách nhiệt ra khỏi vật thể. Đây cũng là mục đích chính của hệ thống làm lạnh và điều hòa không khí.
    Vì vậy hệ thống điều hòa không khí hoạt động dựa trên nguyên lý cơ bản sau đây:
    + Dòng nhiệt luôn truyền từ nơi nóng đến nơi lạnh.
    + Khi bị nén chất khí sẽ làm tăng nhiệt độ.
    + Sự giãn nở thể tích của chất khí sẽ phân bố năng lượng nhiệt ra một vùng rộng lớn và nhiệt độ của chất khí sẽ bị giảm xuống.
    + Để làm lạnh bất cứ một vật nào thì ta phải lấy nhiệt ra khỏi vật thể đó.
    + Một số lượng lớn nhiệt lượng được hấp thụ khi chất lỏng thay đổi trạng thái biến thành hơi.
    Tất cả các hệ thống điều hòa không khí ô tô đều được thiết kế dựa trên cơ sở lý thuyết của ba đặc tính căn bản: Dòng nhiệt, sự hấp thụ, áp suất và điểm sôi.
    - Dòng nhiệt: Nhiệt truyền từ nơi có nhiệt độ cao hơn (các phần tử có chuyển động mạnh hơn) đến những nơi có nhiệt độ thấp hơn (các phần tử có chuyển động yếu hơn).Ví dụ: Một vật nóng 300F được đặt cạnh một vật nóng có nhiệt độ 800F thì vật nóng có nhiệt độ là 800F sẽ truyền nhiệt cho vật 300F. Sự chênh lệch nhiệt độ càng lớn thì dòng nhiệt lưu thông càng mạnh. Sự truyền nhiệt có thể được truyền bằng: Dẫn nhiệt, đối lưu, bức xạ hay kết hợp giữa ba cách trên.
    + Dẫn nhiệt: Là sự truyền có hướng của nhiệt trong một vật hay sự dẫn nhiệt xảy ra giữa hai vật thể khi chúng tiếp xúc trực tiếp với nhau. Ví dụ khi ta nung nóng một đầu thanh thép thì đầu kia dần dần ấm lên do sự dẫn nhiệt.
    + Sự đối lưu: Là sự truyền nhiệt qua sự di chuyển của một chất lỏng hay một chất khí đã được làm nóng hay đó là sự truyền nhiệt từ vật thể này sang vật thể khác nhờ khối khung khí trung gian bao quanh nó. Khi khối không khí được đun nóng bởi một nguồn nhiệt, không khí nóng sẽ bốc lên phía trên tiếp xúc với vật thể nguội hơn và làm nóng vật thể này. Trong một phòng không khí nóng bay lên trên, không khí lạnh di chuyển xuống dưới tạo thành vòng luân chuyển khép kín, nhờ vậy các vật thể trong phòng được nung nóng đều, đó là hiện tượng của sự đối lưu.
    + Sự bức xạ: Là sự phát và truyền nhiệt dưới dạng các tia hồng ngoại, mặc dù giữa các vật không có không khí hoặc không tiếp xúc với nhau. Ta cảm thấy ấm khi đứng dưới ánh sáng mặt trời hay cả dưới ánh sáng đèn pha khi ta đứng gần nó. Đó là bởi nhiệt của mặt trời hay đèn pha được biến thành các tia hồng ngoại và khi các tia này chạm vào một vật nó sẽ làm cho các phần tử của vật đó chuyển động, gây cho ta cảm giác nóng. Tác dụng truyền nhiệt này gọi là sự bức xạ.
    - Sự hấp thụ nhiệt: Vật chất có thể tồn tại ở một trong ba trạng thái: Thể lỏng, thể rắn, thể khí. Muốn thay đổi trạng thái của một vật thể, cần phải truyền cho nó một nhiệt lượng nhất định. Ví dụ khi ta hạ nhiệt độ của nước xuống 320F (00C) thì nước đóng băng thành đá. Nó đã thay đổi trạng thái từ thể lỏng sang thể rắn. Nếu nước được đun tới 2120F (1000C), nước sẽ sôi và bốc hơi (thể khí). Ở đây đặc biệt thú vị khi thay đổi nước đá (thể rắn) thành nước ở thể lỏng và nước thành hơi ở thể khí. Trong quá trình thay đổi trạng thái của nước ta phải tác động nhiệt vào.
    Ví dụ: Khối nước đá đang ở nhiệt độ 320F ta nung nóng cho nó tan ra, nhưng nước đá đang tan vẫn giữ nhiệt độ là 320F. Đun nước nóng đến 2120F thì nước sôi, nhưng khi ta tiếp tục đun nữa nước sẽ bốc hơi và nhiệt độ đo được vẫn là 2120F (1000C) chứ không nóng hơn nữa. Lượng nhiệt được hấp thụ trong nước sôi, trong nước đá để làm thay đổi trạng thái của nước gọi là ẩn nhiệt.
    - Áp suất và điểm sôi: Áp suất giữ vai trò quan trọng trong hệ thống điều hòa không khí. Khi tác động áp suất trên mặt chất lỏng thì sẽ làm thay đổi điểm sôi của chất lỏng này. Áp suất càng lớn điểm sôi càng cao có nghĩa là nhiệt độ lúc chất lỏng sôi cao hơn so với mức bình thường. Ngược lại nếu giảm áp suất tác động lên một vật chất thì điểm sôi của vật chất đó sẽ bị giảm xuống. Ví dụ điểm sôi của nước ở nhiệt độ bình thường là 1000C. Điểm sôi này có thể tăng cao hơn bằng cách tăng áp suất trên chất lỏng đồng thời cũng có thể hạ thấp điểm sôi bằng cách giảm bớt áp suất trên chất lỏng hay đặt chất lỏng trong chân không. Đối với điểm ngưng tụ của hơi nước, áp suất cũng có tác dụng như thế. Trong hệ thống điều hòa không khí, cũng như hệ thống điện lạnh ô tô đã áp dụng hiện tượng này của áp suất đối với sự bốc hơi và ngưng tụ của một số loại chất lỏng đặc biệt tham gia vào quá trình sinh lạnh và điều hòa của hệ thống.
    1.2.4 Đơn vị đo nhiệt lượng, môi chất lạnh và dầu bôi trơn.
    a. Đơn vị đo nhiệt lượng.
    Để đo nhiệt lượng truyền từ vật này sang vật kia người ta dùng đơn vị BTU. Nếu cần nung một Pound nước (0,454 kg) nóng đến 10F (0,550C) thì phải truyền cho nước 1 BTU nhiệt. Năng suất của một hệ thống nhiệt lạnh ô tô được định rõ bằng BTU/giờ, vào khoảng 12000 đến 24000 BTU/giờ.(1BTU= 0,252 cal = 252 kcal), (1 kcal = 4,187 kJ).
    b. Môi chất lạnh.
    Môi chất lạnh còn gọi là tác nhân lạnh hay ga lạnh trong hệ thống điều hòa không khí phải đạt được những yêu cầu sau đây:
    + Môi chất lạnh phải có điểm sôi thấp dưới 320F (00C) để có thể bốc hơi và hấp thụ ẩn nhiệt tại những nhiệt độ thấp.
    + Phải có tính chất tương đối trơ, hòa trộn được với dầu bôi trơn để tạo thành một hóa chất bền vững, không ăn mòn kim loại hoặc các vật liệu khác như cao su, nhựa.
    + Đồng thời chất làm lạnh phải là chất không độc, không cháy, và không gây nổ, không sinh ra các phản ứng phá hủy môi sinh và môi trường khi nó xả ra vào khí quyển.
    Phân loại và kí hiệu môi chất lạnh.
    - Các freon: Là các cacbuahydro no hoặc chưa no mà các nguyên tử hydro được thay thế một phần hoặc toàn bộ bằng nguyên tử clo, flo hoặc brom.
    + R (refrigerant): Chất làm lạnh, môi chất lạnh.
    + Các đồng phân có thêm chữ a, b để phân biệt. Ví dụ như R-134a
    + Các olefin có số 1 đứng trước 3 chữ số. Ví dụ như C3F6 kí hiệu là R1216.
    + Các hợp chất có cấu trúc mạch vòng thêm chữ C.Ví dụ như C4H8 là RC138.
    - Các chất vô cơ: Kí hiệu là R7M, trong đó với M là phân tử lượng làm tròn của chất đó.Ví dụ NH3 kí hiệu là R717.
    - Môi chất lạnh R-12.
    Môi chất lạnh R-12 là hợp chất của cacbon, clo và flo có công thức hóa học là CCl2F2 (CFC). Nó là một chất khí không màu nó nặng hơn không khí bốn lần ở 300C, có mùi thơm rất nhẹ, có điểm sôi là 21,70C (-29,80C), áp suất hơi của nó trong bộ bốc hơi là 30 PSI và trong bộ ngưng tụ là 150-300 PSI, và có nhiệt lượng ẩn để bốc hơi là 70 BTU trên 1 Pound.
    R-12 rất dễ hòa tan trong dầu khoáng chất, và không tham gia phản ứng với các kim loại, các ống mềm và đệm kín sử dụng trong hệ thống. Cùng với đặc tính có khả năng lưu thông xuyên suốt hệ thống ống dẫn nhưng không bị làm giảm hiệu suất, chính những đặc điểm này đã làm cho R-12 là môi chất lý tưởng sử dụng trong hệ thống điều hòa ô tô.
    Tuy nhiên R-12 lại có đặc tính phá hủy tầng ôzôn và gây ra hiệu ứng nhà kính, do các phân tử này có thể bay lên bầu khí quyển trước khi phân giải, và tại bầu khí quyển, nguyên tử clo đã tham gia phản ứng hóa học với nguyên tử O3 trong tầng ôzôn khí quyển. Do đó ngày nay môi chất lạnh R-12 đã bị cấm sử dụng và lưu hành trên thị trường.


    Hình 1.10: Sự phá hủy tầng ôzôn của CFC
    - Môi chất lạnh R-134a.
    Môi chất lạnh R134a có công thức hóa học là CF3-CH2F (HFC). Do trong thành phần hợp chất không có chứa clo nên đây chính là lý do cốt yếu mà ngành công nghiệp ô tô chuyển từ việc sử dụng môi chất lạnh R-12 sang sử dụng môi chất lạnh R134a.
    Các đặc tính, các mối quan hệ áp suất và nhiệt độ của môi chất R134a có điểm sôi là -15,20F (-26,90C), và có lượng nhiệt ẩn để bốc hơi là 77,74 BTU/Pound. Điểm sôi này cao hơn so với môi chất R-12 nên hiệu suất có phần không bằng so với R-12. Vì vậy hệ thống điều hòa không khí ô tô dùng môi chất lạnh R134a được thiết kế với áp suất bơm cao hơn, đồng thời phải tăng khối lượng lớn không khí giải nhiệt thổi xuyên qua giàn nóng (bộ ngưng tụ). R134a có nhược điểm nữa là không kết hợp được với các dầu khoáng dùng để bôi trơn hệ thống.
    Đồ thị mô tả mối quan hệ giữa áp suất và nhiệt độ. Đồ thị chỉ ra điểm sôi của R134a ở mỗi cặp giá trị nhiệt độ và áp suất. Phần diện tích trên đường cong áp suất biểu diễn R134a ở trạng thái khí và phần diện tích dưới đường cong áp suất biểu diễn R134a ở trạng thái lỏng. Ga lạnh ở thể khí có thể chuyển sang thể lỏng chỉ bằng cách tăng áp suất mà không cần thay đổi nhiệt độ hoặc giảm nhiệt độ mà không cần thay đổi áp suất. Ngược lại ga lỏng có thể chuyển sang ga khí bằng cách giảm áp suất mà không cần thay đổi nhiệt độ hoặc tăng nhiệt độ mà không cần thay đổi áp suất.

    Hình 1.11: Đường cong áp suất hơi của môi chất lạnh R-134a
    Khi thay thế môi chất lạnh R-12 của hệ thống điều hòa không khí bằng môi chất R134a thì phải thay đổi các bộ phận của hệ thống nếu nó không phù hợp với R134a, cũng như phải thay đổi dầu bôi trơn, chất khử ẩm của hệ thống. Dầu bôi trơn chuyên dùng cùng với môi chất lạnh R134a là các chất bôi trơn tổng hợp polyalkalineglycol (PAG) hay polyolester (POE). Hai chất này không hòa trộn với môi chất lạnh R-12. Ta có thể phân biệt được giữa hai môi chất lạnh R-12 và R134a vì thông thường nó được ghi rõ và dán trên các bộ phận chính của hệ thống.
    c. Dầu bôi trơn.
    + Tùy theo quy định của nhà chế tạo lượng dầu bôi trơn vào khoảng 150-200 ml được nạp vào máy nén nhằm đảm bảo các chức năng sau đây: Bôi trơn các chi tiết của máy nén tránh mòn và két cứng, một phần dầu nhờn sẽ hòa trộn với môi chất lạnh và lưu thông khắp nơi trong hệ thống, giúp van giãn nở hoạt động chính xác, bôi trơn cổ trục máy nén.
    + Dầu bôi trơn máy nén phải tinh khiết không được sủi bọt, không lẫn lưu huỳnh. Dầu bôi trơn máy nén không có mùi, trong suốt màu vàng nhạt. Khi bị lẫn tạp chất nó có màu nâu đen. Vì vậy nếu phát hiện dầu bôi trơn trong hệ thống điện lạnh đổi sang màu nâu đen, thì dầu đã bị nhiễm bẩn. Nó cần được xả sạch và thay dầu mới theo đúng chủng loại và đúng dung lượng quy định.
    + Chủng loại và độ nhớt của dầu bôi trơn máy nén tùy thuộc vào quy định của nhà chế tạo máy nén và tùy thuộc vào lượng môi chất lạnh đang sử dụng trong hệ thống. Dầu nhờn được hòa ta với môi chất lạnh và lưu thông xuyên suốt hệ thống, do vậy bên trong mỗi bộ phận đều có dầu bôi trơn khi tháo rời các bộ phận đó ra khỏi hệ thống. Lượng dầu bôi trơn phải được cho thêm sau khi thay mới bộ phận được quy định do nhà chế tạo.

    1.3 Cấu tạo, nguyên lý hoạt động của hệ thống điện lạnh trên ô tô.
    1.3.1 Cấu tạo chung của hệ thống điện lạnh trên ô tô.
    Thiết bị lạnh nói chung và thiết bị lạnh ô tô nói riêng bao gồm các bộ phận và thiết bị nhằm thực hiện một chu trình lấy nhiệt từ môi trường cần làm lạnh và thải nhiệt ra môi trường bên ngoài. Thiết bị lạnh ô tô bao gồm các bộ phận: Máy nén, thiết bị ngưng tụ (giàn nóng), bình lọc và tách ẩm, thiết bị giãn nở (van tiết lưu), thiết bị bay hơi (giàn lạnh), và một số thiết bị khác nhằm đảm bảo cho hệ thống hoạt động có hiệu quả nhất. Hình vẽ dưới đây giới thiệu các bộ phận trong hệ thống điện lạnh ô tô.






    Hình 1.12: Sơ đồ cấu tạo hệ thống điện lạnh ô tô
    A. Máy nén (bốc lạnh) F. Van tiết lưu
    B. Bộ ngưng tụ (Giàn nóng) G. Bộ bốc hơi
    C. Bộ lọc hay bình hút ẩm H. Van xả phía thấp áp
    D. Công tắc áp suất cao I. Bộ tiêu âm
    E. Van xả phía cao áp



    1.3.2 Nguyên lý hoạt động chung của hệ thống điện lạnh ô tô.
    Hệ thống điện lạnh ô tô hoạt động theo các bước cơ bản sau đây.

    Hình 1.13. Chu trình hoạt động của hệ thống lạnh

    + Môi chất lạnh được bơm đi từ máy nén (A) dưới áp suất cao và dưới nhiệt độ bốc hơi cao, giai đoạn này môi chất lạnh được bơm đến bộ ngưng tụ (B) hay giàn nóng ở thể hơi.
    + Tại bộ ngưng tụ (B) nhiệt độ của môi chất rất cao, quạt gió thổi mát giàn nóng, môi chất ở thể hơi được giải nhiệt, ngưng tụ thành thể lỏng dưới áp suất cao nhiệt độ thấp.
    + Môi chất lạnh dạng thể lỏng tiếp tục lưu thông đến bình lọc hay bộ hút ẩm (C), tại đây môi chất lạnh được làm tinh khiết hơn nhờ được hút hết hơi ẩm và tạp chất.
    + Van giãn nở hay van tiết lưu (F) điều tiết lưu lượng của môi chất lỏng chảy vào bộ bốc hơi (Giàn lạnh) (G), làm hạ thấp áp suất của môi chất lạnh. Do giảm áp nên môi chất từ thể lỏng biến thành thể hơi trong bộ bốc hơi.
    + Trong quá trình bốc hơi, môi chất lạnh hấp thụ nhiệt trong cabin ô tô, có nghĩa là làm mát khối không khí trong cabin.
    Không khí lấy từ bên ngoài vào đi qua giàn lạnh (Bộ bốc hơi). Tại đây không khí bị dàn lạnh lấy đi nhiều năng lượng thông qua các lá tản nhiệt, do đó nhiệt độ của không khí sẽ bị giảm xuống rất nhanh đồng thời hơi ẩm trong không khí cũng bị ngưng tụ lại và đưa ra ngoài. Tại giàn lạnh khi môi chất ở thể lỏng có nhiệt độ, áp suất cao sẽ trở thành môi chất ở thể hơi có nhiệt độ, áp suất thấp.
    Khi quá trình này xảy ra môi chất cần một năng lượng rất nhiều, do vậy nó sẽ lấy năng lượng từ không khí xung quanh giàn lạnh (năng lượng không mất đi mà chuyển từ dạng này sang dạng khác). Không khí mất năng lượng nên nhiệt độ bị giảm xuống, tạo nên không khí lạnh. Môi chất lạnh ở thể hơi, dưới nhiệt độ cao và áp suất thấp được hồi về máy nén.
    1.3.3 Vị trí lắp đặt của hệ thống điện lạnh trên ô tô.
    - Đối với xe du lịch diện tích trong xe nhỏ vì vậy hệ thống điều hòa được lắp ở phía trước (táp lô) hoặc phía sau (cốp xe) là đảm bảo được việc cung cấp khí mát vào trong xe khi cần thiết.

    - Đối với xe khách diện tích trong xe lớn nếu lắp hệ thống điều hòa giống xe con thì sẽ không đảm bảo làm mát toàn bộ xe hay quá trình làm mát sẽ kém đi nhiều. Vì vậy xe khách được lắp hệ thống điều hòa trên trần xe để đảm bảo làm mát toàn bộ xe tạo ra cảm giác thoải mái cho hành khách trên xe.

    Hình 1.14: Sơ đồ bố trí các bộ phận của hệ thống điều hòa xe du lịch

    Hình 1.15: Sơ đồ bố trí các bộ phận của hệ thống điều hòa xe khác.
    1.4 Các thành phần chính trong hệ thống điện lạnh.
    1.4.1 Máy nén.
    a. Chức năng.
    Máy nén nhận dòng khí ở trạng thái có nhiệt độ và áp suất thấp. Sau đó dòng khí này được nén, chuyển sang trạng thái khí có nhiệt độ và áp suất cao và được đưa tới giàn nóng. Máy nén là bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống lạnh, công suất, chất lượng, tuổi thọ và độ tin cậy của hệ thống lạnh chủ yếu đều do máy nén quyết định. Trong quá trình làm việc tỉ số nén vào khoảng 5÷8,1. Tỉ số này phụ thuộc vào nhiệt độ không khí môi trường xung quanh và loại môi chất lạnh.

    Hình 1.16: Kết cấu của máy nén
    b. Phân loại.
    Nhiều loại máy nén được sử dụng trong hệ thống điện lạnh ô tô, mỗi loại máy nén đều có đặc điểm cấu tạo và nguyên lý làm việc khác nhau. Nhưng tất cả các loại máy nén đều thực hiện một chức năng như nhau: Nhận hơi có áp suất thấp từ bộ bốc hơi và chuyển thành hơi có áp suất cao bơm vào bộ ngưng tụ.
    Thời gian trước đây, hầu hết các máy nén sử dụng loại hai piston và một trục khuỷu, piston chuyển động tịnh tiến trong xy lanh, loại này hiện nay không còn sử dụng nữa. Hiện nay loại đang sử dụng rộng rãi nhất là loại máy nén piston dọc trục và máy nén quay dùng cánh trượt.

    Hình 1.17: Các loại máy nén trong hệ thống làm mát
    c. Nguyên lý hoạt động của máy nén.
    + Bước 1: Sự hút môi chất của máy nén: Khi piston đi từ điểm chết trên xuống điểm chết dưới, các van hút mở ra môi chất được hút vào xy lanh công tác và kết thúc khi piston xuống điểm chết dưới.
    + Bước 2: Sự nén của môi chất: Khi piston từ điểm chết dưới lên điểm chết trên, van hút đóng van xả mở ra với tiết diện nhỏ hơn nên áp suất của môi chất ra sẽ cao hơn khi được hút vào. Quá trình kết thúc khi piston nên đến điểm chết trên.
    + Bước 3: Khi piston nên đến điểm chết trên thì quá trình được lặp lại như trên
    d. Một số loại máy nén thông dụng
    + Máy nén loại piston.
    - Cấu tạo.

    Hình 1.18: Cấu tạo máy nén loại piston
    Một cặp piston được gắn chặt với đĩa chéo cách nhau một khoảng 720 đối với máy nén có 10 xylanh và 1200 đối với loại máy nén 6 xilanh. Khi một phía piston ở hành trình nén, thì phía kia ở hành trình hút.
    - Nguyên lý hoạt động.
    Khi trục quay và kết hợp với đĩa vát làm cho piston dịch chuyển qua trái hoặc qua phải. Kết quả làm môi chất bị nén lại. Khi piston qua trái, nhờ chênh lệch áp suất giữa bên trong xy lanh và ống áp suất thấp. Van hút được mở ra và môi chất đi vào xy lanh.

    Hình 1.19: Sơ đồ nguyên lý máy nén loại piston
    Khi piston sang phải, van hút đóng lại và môi chất bị nén. Khi môi chất trong xy lanh cao, làm van đẩy mở ra. Môi chất được nén vào đường ống áp suất cao (van hút và van đẩy được làm kín và ngăn chặn môi chất quay trở lại).
    Nếu vì một lý do nào đó, áp suất ở phần cao áp của hệ thống lạnh quá cao, van an toàn được lắp trong máy nén sẽ xả một phần môi chất ra ngoài. Điều này giúp bảo vệ các bộ phận của hệ thống điều hòa.

    Hình 1.20: Van an toàn
    Van an toàn được thiết kế để hoạt động khi gặp tình huống khẩn cấp. Bình thường máy nén được ngắt bởi công tắc áp suất cao trong hệ thống điều khiển
    + Máy nén loại đĩa lắc.
    - Cấu tạo.

    Hình 1.21: Cấu tạo máy nén loại đĩa lắc
    - Nguyên lý hoạt động của máy nén loại đĩa lắc.
    Khi trục quay, chốt dẫn hướng quay đĩa chéo thông qua đĩa có vấu được nối trực tiếp với trục. Chuyển động quay này của đĩa chéo được chuyển thành chuyển động của piston trong xylanh để thực hiện việc hút, nén và xả trong môi chất.
    Để thay đổi dung tích của máy nén có 2 phương pháp: Một là dùng van điều khiển được nêu ở trên và dùng loại van điều khiển điện từ.
    Khi độ lạnh của dàn lạnh nhiều, áp suất và nhiệt độ khoang áp suất thấp (Suction) đều nhỏ. Ống xếp bị co lại để đóng van, không cho áp suất cao từ khoang áp suất cao thông vào khoang đĩa chéo, nên đĩa chéo nằm ở một vị trí nhất định.


    Hình 1.22: Nguyên lý hoạt động máy nén loại đĩa lắc
    Khi độ lạnh kém thì nhiệt độ và áp suất của khoang ống xếp tăng lên. Ống xếp nở ra đẩy van mở cho một phần ga áp suất cao từ khoang áp suất cao, đưa vào khoang đĩa chéo đẩy đĩa chéo nghiêng lên, làm tăng hành trình của piston và tăng lưu lượng của máy nén
    + Máy nén loại trục khuỷu.
    - Cấu tạo.

    Hình 1.23: Cấu tạo máy nén loại trục khuỷu
    - Nguyên lý hoạt động của máy nén loại trục khuỷu.
    Ở máy nén khí dạng chuyển động tịnh tiến qua lại, chuyển động quay của trục khuỷu máy nén thành chuyển động tịnh tiến qua lại của piston.
    e. Ly hợp điện từ.
    Ly hợp từ được động cơ dẫn động bằng đai. Ly hợp từ là một thiết bị để nối động cơ với máy nén. Ly hợp từ dùng để dẫn động và dùng máy nén khi cần thiết.
    - Cấu tạo.
    Ly hợp từ gồm có một Stator (nam châm điện), puli, bộ phận định tâm và các bộ phận khác. Bộ phận định tâm được lắp cùng với trục máy nén và stator được lắp ở thân trước của máy nén.





    Hình 1.24: Cấu tạo của ly hợp điện từ
    - Nguyên lý hoạt động của ly hợp điện từ.
    Khi ly hợp mở, cuộn dây stato được cấp điện. Stato trở thành nam châm điện và hút chốt trung tâm, quay máy nén cùng với puli.

    Hình 1.25: Nguyên lý hoạt động của ly hợp điện từ
    Khi ly hợp từ tắt, cuộn dây stato không được cấp điện. Bộ phận chốt không bị hút làm puli quay trơn.

    Hình 1.26: Nguyên lý hoạt động của ly hợp điện từ
    1.4.2 Bộ ngưng tụ (Giàn nóng).
    a. Chức năng của bộ ngưng tụ.
    Công dụng của bộ ngưng tụ là làm cho môi chất lạnh ở thể hơi dưới áp suất và nhiệt độ cao, từ máy nén bơm đến, ngưng tụ thành thể lỏng
    b. Cấu tạo.
    Bộ ngưng tụ được cấu tạo bằng một ống kim loại dài uốn cong thành nhiều hình chữ U nối tiếp nhau, xuyên qua vô số cánh tản nhiệt mỏng. Các cánh tỏa nhiệt bám sát quanh ống kim loại. Kiểu thiết kế này làm cho bộ ngưng tụ có diện tích tỏa nhiệt tối đa và không gian chiếm chỗ là tối thiểu.


    Hình 1.27: Cấu tạo của giàn nóng (Bộ ngưng tụ)
    1. Giàn nóng 6. Môi chất giàn nóng ra
    2. Cửa vào 7. Không khí lạnh
    3. Khí nóng 8. Quạt giàn nóng
    4. Đầu từ máy nén đến 9. Ống dẫn chữ U
    5. Cửa ra 10. Cánh tản nhiệt
    Trên ô tô bộ ngưng tụ được lắp ráp ngay trước đầu xe, phía trước thùng nước tỏa nhiệt của động cơ, ở vị trí này bộ ngưng tụ tiếp nhận tối đa luồng không khí mát thổi xuyên qua do đang lao tới và do quạt gió tạo ra.
    c. Nguyên lý hoạt động.
    Trong quá trình hoạt động, bộ ngưng tụ nhận được hơi môi chất lạnh dưới áp suất và nhiệt độ rất cao do máy nén bơm vào. Hơi môi chất lạnh nóng chui vào bộ ngưng tụ qua ống nạp bố trí phía trên giàn nóng, dòng hơi này tiếp tục lưu thông trong ống dẫn đi dần xuống phía dưới, nhiệt của khí môi chất truyền qua các cánh toả nhiệt và được luồng gió mát thổi đi. Quá trình trao đổi này làm toả một lượng nhiệt rất lớn vào trong không khí. Lượng nhiệt được tách ra khỏi môi chất lạnh thể hơi để nó ngưng tụ thành thể lỏng tương đương với lượng nhiệt mà môi chất lạnh hấp thụ trong giàn lạnh để biến môi chất thể lỏng thành thể hơi.
    Dưới áp suất bơm của máy nén, môi chất lạnh thể lỏng áp suất cao này chảy thoát ra từ lỗ thoát bên dưới bộ ngưng tụ, theo ống dẫn đến bầu lọc (hút ẩm). Giàn nóng chỉ được làm mát ở mức trung bình nên hai phần ba phía trên bộ ngưng tụ vẫn còn ga môi chất nóng, một phần ba phía dưới chứa môi chất lạnh thể lỏng, nhiệt độ nóng vừa vì đã được ngưng tụ.Ngày nay trên xe người ta trang bị giàn nóng kép hay còn gọi là giàn nóng tích hợp để nhằm hóa lỏng ga tốt hơn và tăng hiệu suất của quá trình làm lạnh trong một số chu trình.

    Hình 1.28: Cấu tạo của giàn nóng kép (Giàn nóng tích hợp)
    Trong hệ thống có giàn lạnh tích hợp, môi chất lỏng được tích lũy trong bộ chia hơi-lỏng, nên không cần bình chứa hoặc lọc ga. Môi chất được làm mát tốt ở vùng làm mát trước làm tăng năng suất lạnh.

    Hình 1.29: Chu trình làm lạnh cho giàn nóng tích hợp
    Ở chu trình làm lạnh của giàn nóng làm mát phụ, bộ chia hoạt động như là bình chứa, bộ hút ẩm và lưu trữ môi chất ở dạng lỏng bên trong bộ chia. Ngoài ra môi chất tiếp tục được làm mát ở bộ phận làm mát để được chuyển hoàn toàn thành dạng lỏng và do đó khả năng làm mát được cải thiện. Trong bộ chia có bộ phận lọc và hút ẩm để loại trừ hơi ẩm cũng như vật thể lạ trong môi chất.

    Hình 1.30: Cấu tạo của bộ chia hơi - lỏng
    Bộ phân chia hơi-lỏng bao gồm một phi lọc và chất hút ẩm để giữ hơi nước và cặn bẩn của môi chất.
    1.4.3 Bình lọc (hút ẩm môi chất).
    a. Chức năng.
    Bình chứa là một thiết bị để chứa môi chất được hoá lỏng tạm thời bởi giàn nóng và cung cấp một lượng môi chất theo yêu cầu tới giàn lạnh. Bộ hút ẩm có chất hút ẩm và lưới lọc dùng để loại trừ các tạp chất hoặc hơi ấm trong chu trình làm lạnh.
    Nếu có hơi ấm trong chu trình làm lạnh, thì các chi tiết ở đó sẽ bị mài mòn hoặc đóng băng ở bên trong van giãn nở dẫn đến bị tắc kẹt.
    b. Cấu tạo của bình lọc.
    Bình lọc (hút ẩm) môi chất lạnh là một bình kim loại bên trong có lưới lọc (2) và chất khử ẩm (3). Chất khử ẩm là vật liệu có đặc tính hút chất ẩm ướt lẫn trong môi chất lạnh. Bên trong bầu lọc/hút ẩm, chất khử ẩm được đặt giữa hai lớp lưới lọc hoặc được chứa trong một túi khử ẩm riêng. Túi khử ẩm được đặt cố định hay đặt tự do trong bầu lọc. Khả năng hút ẩm của chất này tùy thuộc vào thể tích và loại chất hút ẩm cũng như tuỳ thuộc vào nhiệt độ.
    Phía trên bình lọc (hút ẩm) có gắn cửa sổ kính (6) để theo dõi dòng chảy của môi chất, cửa này còn được gọi là mắt ga. Bên trong bầu lọc, ống tiếp nhận môi chất lạnh được lắp đặt bố trí tận phía đáy bầu lọc nhằm tiếp nhận được 100% môi chất thể lỏng cung cấp cho van giãn nở.

    Hình 1.31: Sơ đồ cấu tạo của bình lọc
    1. Cửa vào 4. Ống tiếp nhận
    2. Lưới lọc 5. Cửa ra
    3. Chất khử ẩm 6. Kính quan sát
    c. Nguyên lý hoạt động.
    Môi chất lạnh, thể lỏng, chảy từ bộ ngưng tụ vào lỗ (1) bình lọc (hút ẩm), xuyên qua lớp lưới lọc (2) và bộ khử ẩm (3). Chất ẩm ướt tồn tại trong hệ thống là do chúng xâm nhập vào trong quá trình lắp ráp sửa chữa hoặc do hút chân không không đạt yêu cầu. Nếu môi chất lạnh không được lọc sạch bụi bẩn và chất ẩm thì các van trong hệ thống cũng như máy nén sẽ chóng bị hỏng.
    Sau khi được tinh khiết và hút ẩm, môi chất lỏng chui vào ống tiếp nhận (4) và thoát ra cửa (5) theo ống dẫn đến van giãn nở.
    Môi chất lạnh R-12 và môi chất lạnh R-134a dùng chất hút ẩm loại khác nhau. Ống tiếp nhận môi chất lạnh được bố trí phía trên bình tích luỹ. Một lưới lọc tinh có công dụng ngăn chặn tạp chất lưu thông trong hệ thống. Bên trong lưới lọc có lỗ thông nhỏ cho phép một ít dầu nhờn trở về máy nén.
    Kính quan sát là lỗ để kiểm tra được sử dụng để quan sát môi chất tuần hoàn trong chu trình làm lạnh cũng như để kiểm tra lượng môi chất.
    Có hai loại kính kiểm tra: Một loại được lắp ở đầu ra của bình chứa và loại kia được lắp ở giữa bình chứa và van giãn nở.
    1.4.4 Van tiết lưu hay van giãn nở.
    a. Chức năng.
    + Sau khi qua bình chứa tách ẩm, môi chất lỏng có nhiệt độ cao, áp suất cao được phun ra từ lỗ tiết lưu. Kết quả làm môi chất giãn nở nhanh và biến môi chất thành hơi sương có áp suất thấp va nhiệt độ thấp.
    + Van tiết lưu điều chỉnh được lượng môi chất cấp cho giàn lạnh theo tải nhiệt một cách tự động.
    b. Phân loại.

    Hình 1.32: Sơ đồ cấu tạo của van tiết lưu
    + Van tiết lưu kiểu hộp.
    Van tiết lưu kiểu hộp gồm thanh cảm ứng nhiệt, phần cảm ứng nhiệt được thiết kế để tiếp xúc trực tiếp với môi chất.
    Thanh cảm ứng nhiệt nhận biết nhiệt độ của môi chất (tải nhiệt) tại cửa ra của giàn lạnh và truyền đến hơi chắn trên màn. Lưu lượng của môi chất được điều chỉnh khi kim van di chuyển. Điều này xảy ra khi có sự chênh lệch áp suất trên màn thay đổi. giãn ra hoặc co lại do nhiệt độ và tác dụng của lò xo.
    - Nguyên lý hoạt động.
    Khi tải nhiệt tăng, nhiệt độ tại cửa ra của giàn lạnh tăng. Điều này làm nhiệt truyền đến hơi chắn trên màn tăng, vì thế hơi chắn đó dãn ra. Màn chắn di chuyển sang phía bên trái, làm thanh cảm biến nhiệt độ và đầu của kim van nén lò xo. Lỗ tiết lưu mở ra cho một lượng lớn môi chất vào trong giàn lạnh. Điều này làm tăng lưu lượng môi chất tuần hoàn trong hệ thống lạnh, bằng cách đó làm tăng khả năng làm lạnh cho hệ thống.

    Hình 1.33: Sơ đồ nguyên lý van tiết lưu kiểu hộp (khi tải cao)
    Khi tải nhiệt nhỏ, nhiệt độ tại cửa ra của giàn lạnh giảm. Điều đó làm cho nhiệt truyền đến hơi chắn trên màn giảm nên hơi môi chất co lại. Màng di chuyển về phía phải, làm thanh cảm ứng nhiệt và đầu của kim van đẩy sang phía phải bởi lò xo. Lỗ tiết lưu đóng bớt lại, nên lưu lượng môi chất tuần hoàn trong hệ thống giảm, bằng cách đó làm giảm mức độ lạnh của hệ thống.

    Hình 1.34: Sơ đồ nguyên lý van tiết lưu kiểu hộp (khi tải thấp)
    - Van tiết lưu loại thường.
    Trong van tiết lưu loại thường, bộ phận cảm ứng nhiệt (đầu cảm ứng) được lắp ở ống ra của giàn lạnh. Có hai loại: Van tiết lưu cân bằng trong và van tiết lưu cân bằng ngoài, phụ thuộc vào nơi lấy tín hiệu áp suất hơi của giàn lạnh. Van tiết lưu cân bằng ngoài gồm có một ống cân bằng và một đầu cảm ứng nhiệt, nhưng có cùng hoạt động như van tiết lưu cân bằng trong.
    Khoang trên của màn chắn được nối với đầu cảm ứng nhiệt được điền đầy môi chất. Nhiệt độ tại cửa ra của giàn lạnh thay đổi làm cho áp suất của hơi chắn trên màn thay đổi. Lưu lượng của môi chất được điều chỉnh khi kim van thay đổi. Điều đó xảy ra do sự chênh lệch lực tác dụng phía trên màng và phía dưới màng.

    Hình 1.35: Sơ đồ cấu tạo của van tiết lưu loại thường
    - Nguyên lý hoạt động.
    Khi nhiệt độ tại cửa ra của giàn lạnh cao (tải nhiệt lớn), môi chất nhận được một lượng nhiệt lớn từ không khí trong xe. Điều đó làm cho quá trình bay hơi hoàn toàn diễn ra sớm hơn và làm tăng nhiệt độ của môi chất tại cửa ra của giàn lạnh.
    Khi cả nhiệt độ và áp suất của đầu cảm ứng nhiệt tăng, màn dịch chuyển xuống phía dưới, đẩy kim van xuống. Do đó kim van mở ra và cho một lượng lớn môi chất đi vào trong giàn lạnh. Điều đó làm tăng lưu lượng của môi chất tuần hoàn trong hệ thống, bằng cách đó làm tăng năng suất lạnh.

    Hình 1.36: Sơ đồ nguyên lý của van tiết lưu loại thường (tải nhiệt cao)
    Khi nhiệt độ tại cửa ra của giàn lạnh thấp (tải nhiệt nhỏ), môi chất nhận được một lượng nhiệt nhỏ từ không khí trong xe. Quá trình bay hơi không hoàn toàn, làm giảm nhiệt độ của môi chất lạnh tại cửa ra của giàn lạnh.

    Hình 1.37: Sơ đồ nguyên lý của van tiết lưu loại thường (tải nhiệt thấp)
    Khi cả nhiệt độ và áp suất của đầu cảm ứng nhiệt đều giảm, màn dịch chuyển lên phía trên, kéo kim van lên. Điều đó làm kim van đóng lại và giới hạn lưu lượng môi chất đi vào trong giàn lạnh. Điều đó làm giảm lưu lượng môi chất tuần hoàn trong hệ thống, bằng cách đó làm giảm năng suất lạnh.
    Một số xe không sử dụng van bốc hơi mà sử dụng ống tiết lưu cố định. Nó là một đường ống có tiết diện cố định, khi môi chất qua ống tiết lưu thì áp suất của môi chất sẽ bị giảm xuống.
    Bình tích luỹ được trang bị trên hệ thống điện lạnh thuộc kiểu dùng ống tiết lưu cố định thay cho van giãn nở. Bình này được đặt giữa bộ bốc hơi và máy nén. Cấu tạo của bình tích lũy được mô tả như vẽ dưới đây.

    Hình 1.38: Cấu tạo của bình tích lũy
    1. Môi chất lạnh từ bộ bốc hơi đến 5. Lưới lọc
    2. Bộ khử ẩm 6. Môi chất đến máy nén
    3. Ống tiếp nhận hình chữ U 7. Hút môi chất lạnh ở thể khí
    4. Lỗ khoan để nạp môi chất lạnh 8. Cái nắp bằng chất dẻo
    - Nguyên lý hoạt động.
    Trong quá trình hoạt động của hệ thống điện lạnh, ở một vài chế độ tiết lưu, ống tiết lưu cố định có thể cung cấp một lượng dư môi chất lạnh thể lỏng cho bộ bốc hơi. Nếu để cho lượng môi chất lạnh này trở về máy nén sẽ làm hỏng máy nén.
    Để giải quyết vấn đề này, bình tích luỹ được thiết kế để tích luỹ môi chất lạnh thể hơi lẫn thể lỏng cũng như dầu nhờn bôi trơn từ bộ bốc hơi thoát ra, sau đó giữ lại môi chất lạnh thể lỏng và dầu nhờn, chỉ cho phép môi chất lạnh thể hơi trở về máy nén.
    1.4.5 Bộ bốc hơi (Giàn lạnh).
    a. Chức năng.
    Giàn lạnh làm bay hơi môi chất ở dạng sương sau khi qua van giãn nở có nhiệt độ và áp suất thấp, và làm lạnh không khí ở xung quanh nó.
    b. Phân loại giàn lạnh.
    Giàn lạnh làm bay hơi hỗn hợp lỏng khí (dạng sương) có nhiệt độ thấp, áp suất được cung cấp từ van tiết lưu. Do đó làm lạnh không khí xung quanh giàn lạnh. Có hai loại giàn lạnh. Giàn lạnh cánh phẳng thường được sử dụng.

    Hình 1.39: Hình dạng của bộ bốc hơi
    c. Cấu tạo.
    Bộ bốc hơi (giàn lạnh) được cấu tạo bằng một ống kim loại (5) dài uốn cong chữ chi xuyên qua vô số các lá mỏng hút nhiệt, các lá mỏng hút nhiệt được bám sát tiếp xúc hoàn toàn quanh ống dẫn môi chất lạnh. Cửa vào của môi chất bố trí bên dưới và cửa ra bố trí bên trên bộ bốc hơi. Với kiểu thiết kế này, bộ bốc hơi có được diện tích hấp thu nhiệt tối đa trong lúc thể tích của nó được thu gọn tối thiểu.
    Trong xe ô tô bộ bốc hơi được bố trí dưới bảng đồng hồ. Một quạt điện kiểu lồng sóc thổi một số lượng lớn không khí xuyên qua bộ này đưa khí mát vào cabin ô tô.

    Hình 1.40: Cấu tạo (bộ bốc hơi) giàn lạnh
    1. Cửa dẫn môi chất vào 4. Luồng khí lạnh
    2. Cửa dẫn môi chất ra 5. Ống dẫn môi chất
    3. Cánh tản nhiệt 6. Luồng khí nóng
    d. Nguyên lý hoạt động.
    Trong quá trình hoạt động, bên trong bộ bốc (giàn lạnh) hơi xảy ra hiện tượng sôi và bốc hơi của môi chất lạnh. Quạt gió sẽ thổi luồng không khí qua giàn lạnh, khối không khí đó được làm mát và được đưa vào trong xe. Trong thiết kế chế tạo, một số yếu tố kỹ thuật sau đây quyết định năng suất của bộ bốc hơi:
    + Đường kính và chiều dài ống dẫn môi chất lạnh.
    + Số lượng và kích thước các lá mỏng bám quanh ống kim loại.
    + Số lượng các đoạn uốn cong của ống kim loại.
    + Khối lượng và lưu lượng không khí thổi xuyên qua bộ bốc hơi.
    + Tốc độ của quạt gió.
    Bộ bốc hơi hay giàn lạnh còn có chức năng hút ẩm, chất ẩm sẽ ngưng tụ thành nước và được hứng đưa ra bên ngoài ô tô nhờ ống xả bố trí dưới giàn lạnh. Đặc tính hút ẩm này giúp cho khối không khí mát trong cabin được tinh chế và khô ráo.
    Tóm lại, nhờ hoạt động của van giãn nở hay của ống tiết lưu, lưu lượng môi chất phun vào bộ bốc hơi được điều tiết để có được độ mát lạnh thích ứng với mọi chế độ tải của hệ thống điện lạnh. Trong công tác tiết lưu này, nếu lượng môi chất chảy vào bộ bốc hơi quá lớn, nó sẽ bị tràn ngập, hậu quả là độ lạnh kém vì áp suất và nhiệt độ trong bộ bốc hơi cao. Môi chất không thể sôi cũng như không bốc hơi hoàn toàn được, tình trạng này có thể gây hỏng hóc cho máy nén. Ngược lại, nếu môi chất lạnh lỏng nạp vào không đủ, độ lạnh sẽ rất kém do lượng môi chất ít sẽ bốc hơi rất nhanh khi chưa kịp chạy qua khắp bộ bốc hơi.
    1.5 Các phần phụ khác trong hệ thống điện lạnh ô tô.
    1.5.1 Ống dẫn môi chất lạnh.
    Những thiết bị khác nhau trong hệ thống điều hòa không khí ô tô phải được nối liền với nhau, để môi chất lạnh lưu thông tuần hoàn trong hệ thống. Cả hai loại ống mềm và ống cứng được sử dụng để nối các thiết bị lại với nhau. Khi nối hệ thống với máy nén phải sử dụng ống mềm, điều này cho phép máy nén và động cơ có thể chuyển động tương đối với nhau. Các loại ống mềm được sử dụng trong hệ thống điều hòa không khí hiện nay được chế tạo bằng cao su có thêm một hoặc hai lớp không thấm ở bên trong và bên ngoài còn gia cố thêm một lớp nilon không thấm tạo ra một lớp màng chắn không bị rò rỉ.
    Các loại ống làm bằng kim loại được sử dụng nhiều trong hệ thống làm lạnh, để nối những thiết bị cố định như từ giàn ngưng tụ đến van tiết lưu, từ van đến bộ bốc hơi. Mặc dù ống kim loại không bị thấm qua nhưng nước hoặc dung dịch trong ắc quy tràn ra có thể ăn mòn và làm thủng ống và gây ra rò rỉ. Đường ống dẫn trong hệ thống điều hòa không khí được đặt tên theo công việc của chúng hoặc theo trạng thái của chất làm lạnh chứa bên trong. Đường ống thoát nối từ máy nén đến bộ ngưng tụ được gọi là ống ga nóng. Đường ống dẫn chứa dung dịch chất làm lạnh nối từ bộ ngưng tụ đến phin sấy lọc và đến thiết bị giãn nở. Đường ống hút nối bộ bốc hơi đến máy nén thường có đường kính lớn nhất vì nó truyền dẫn hơi môi chất lạnh ở áp suất thấp.
    1.5.2 Cửa sổ kính (mắt ga).

    Hình 2.41: Hình dạng của cửa sổ kính
    Cấu tạo của kính xem ga bao gồm phần thân hình trụ tròn, phía trên có lắp một kính tròn có khả năng chịu áp lực tốt và trong suốt để quan sát lỏng. Kính được áp chặt lên phía trên nhờ một lò xo đặt bên trong. Trên đường ống cấp môi chất của hệ thống lạnh có lắp đặt kính xem ga, mục đích là báo hiệu lưu lượng lỏng và chất lượng của nó một cách định tính. Cụ thể như sau:
    + Báo hiệu lượng ga chảy qua đường ống có đủ không. Trong trường hợp lỏng chảy điền đầy đường ống, hầu như không nhận thấy sự chuyển động của dòng môi chất lỏng, ngược lại nếu thiếu môi chất, trên mắt kính sẽ thấy sủi bọt. Khi thiếu ga trầm trọng trên mắt kính sẽ có các vệt dầu chảy qua hình gợn sóng.
    + Báo hiệu độ ẩm của môi chất. Khi trong môi chất lỏng có lẫn ẩm thì màu sắc của nó bị biến đổi. Màu xanh: Khô; Màu vàng: Có lọt ẩm cần thận trọng; Màu nâu: Lọt ẩm nhiều, cần sử lý. Để tiện so sánh, trên vòng tròn chu vi của mắt kính người ta có in sẵn các màu đặc trưng để có thể kiểm tra và so sánh.
    + Ngoài ra khi trong lỏng có lẫn các tạp chất cũng có thể nhận biết qua mắt kính. trong trường hợp các hạt hút ẩm bị hỏng, xỉ hàn trên đường ống.

    Hình 1.42: Trạng thái môi chất qua cửa sổ kính


    1.6 Điều khiển hệ thống điều hòa không khí trên ô tô.
    1.6.1 Bộ điều khiển nhiệt độ.
    a. Kiểu điện trở, nhiệt điện trở.
    Cụm sưởi và cụm làm lạnh độc lập nhau. Loại thermistor được sử dụng khi hỗn hợp không khí thay đổi. Thermistor được làm từ chất bán dẫn đặc trưng bởi sự thay đổi điện trở theo nhiệt độ. Điện trở tăng khi nhiệt độ giảm, và điện trở giảm khi nhiệt độ tăng. Nhiệt điện trở được đặt ở phía sau giàn lạnh, để cảm ứng nhiệt độ của gió sau khi đi qua giàn lạnh.

    Hình 1.43: Kiểu điện trở
    Hệ thống điều hòa không khí ô tô dùng loại nhiệt điện trở còn có một biến trở gắn trên bảng điều khiển. biến trở này dùng để điều chỉnh nhiệt độ trong xe. Tín hiệu điều khiển nhiệt độ được lấy từ cần phân áp gồm giá trị điện trở của biến trở và giá trị nhiệt điện trở.

    Hình 1.44: Kiểu nhiệt điện trở
    Khi nhiệt độ không khí trong xe tăng lên, cảm ứng lên nhiệt điện trở (giá trị điện trở nhỏ), hoặc chuyển nhiệt độ tới vị trí cài đặt cao (giá trị điện trở lớn) làm giảm điện áp rơi trên mạch cảm ứng nhiệt độ của bộ khuếch đại. Mạch cảm ứng trong bộ khuếch đại nhận biết mạch điều hòa không khí đang ở trạng thái ON, làm cho transistor mở ra. Điều này cho phép rơ le ly hợp từ đóng mạch và máy nén hoạt động, bắt đầu quá trình làm lạnh.

    Hình 1.45: Kiểu nhiệt điện trở (khi nhiệt độ cao)
    Khi nhiệt độ bên trong xe giảm, điện trở của thermistor tăng (giá trị điện trở lớn), hoặc khi chuyển nhiệt độ cài đặt tới vị trí lạnh ít (giá trị điện trở lớn) làm tăng điện áp rơi trên mạch cảm ứng nhiệt độ trong bộ khuếch đại của hệ thống điều hòa không khí. Mạch cảm ứng nhiệt độ trong bộ khuếch đại nhận biết được trạng thái OFF của hệ thống điều hòa không khí, làm cho transistor đóng lại. Điều này làm cho rơ le của ly hợp từ không đóng mạch, và máy nén không hoạt động, ngừng quá trình làm lạnh.

    Hình 1.46: Kiểu nhiệt điện trở (khi nhiệt độ thấp)
    b. Loại Thermostat.
    Thermostat gồm một đầu cảm ứng nhiệt, màng và công tắc. Bên trong đầu cảm ứng nhiệt có chứa đầy môi chất. Đầu cảm ứng nhiệt đặt tại lối ra của giàn lạnh. Khi nhiệt độ bay hơi thấp thì áp suất trong bầu cảm ứng giảm. Công tắc được ngắt nhờ màng. Điều này làm cho ly hợp từ bị ngắt, từ đó điều chỉnh được nhiệt độ ra.

    Hình 1.47: Loại thermostat (nhiệt độ giàn lạnh thấp)

    Hình 1.48: Loại thermostat (nhiệt độ giàn lạnh cao)
    1.6.2 Bộ điều khiển tốc độ quạt.
    Lưu lượng gió được điều chỉnh bởi sự thay đổi tốc độ quay của mô tơ quạt. Tốc độ quay của mô tơ quạt phụ thuộc vào điện áp giữa hai đầu mô tơ. Trong hệ thống điều hòa ô tô, công tắc quạt thay đổi giá trị điện trở mắc nối tiếp với động cơ. Bằng cách này có thể điều chỉnh tốc độ quay của mô tơ.

    Hình 1.49: Bộ điều chỉnh tốc độ quạt gió
    Khi công tắc quạt cài đặt ở vị trí ở vị trí Low , dòng điện chạy qua cuộn dây của rơ le sưởi và làm cho rơ le này ở vị trí ON. Điện áp qua tiếp điểm của rơ le sưởi của bộ sưởi ấm.

    Hình 1.50: Bộ điều chỉnh tốc độ quạt gió (ở vị trí Low)
    Khi bật công tắc ở vị trí Me, rơ le sưởi ở vị trí ON giống như khi ta cài đặt ở chế độ Low. Điều này cho phép gửi điện áp tới động cơ quạt. Sau khi đi qua động cơ quạt, dòng điện đi qua một phần qua điện trở quạt rồi ra mát.
    So với chế độ Low, hiệu diện thế giữa hai đầu động cơ quạt lớn hơn. Điều này cho phép động cơ làm việc ở chế độ trung bình.

    Hình 1.51: Bộ điều chỉnh tốc độ quạt gió (ở vị trí Medium)
    Khi công tắc quạt ở vị trí High thì rơ le ở vị trí giống như ở chế độ thấp và có điện áp đưa tới quạt. Tuy nhiên dòng điện chạy qua động cơ mà không đi qua điện trở nào, rồi ra mát theo công tắc quạt. Điều này cho phép điện áp nguồn cấp trực tiếp cho động cơ nên mô tơ quạt quay ở tốc độ cao.

    Hình 2.52: Bộ điều chỉnh tốc độ quạt gió (ở vị trí High)
    1.6.3 Bộ điều khiển tốc độ không tải (bù ga).
    Khi động cơ chạy không tải, công suất của động cơ nhỏ. Bật máy nén sẽ làm quá tải động cơ. Điều này có thể gây chết máy hoặc động cơ quá nóng, máy điều hòa hoạt động khi xe dừng, tốc độ động cơ phải được tăng lên một cách tự động, gọi là điều khiển tốc độ bù ga không tải.
    a. Bù ga kiểu điện.
    ECU điều khiển động cơ nhận tín hiệu công tắc A/C ON từ bộ khuếch đại A/C và mở van điều chỉnh tốc độ không tải. Cả lượng không khí và nhiên liệu đều tăng lên, giúp tăng tốc độ động cơ tới nhiệt độ thích hợp. Có hai kiểu bù ga kiểu điện là: Kiểu cho không khí đi tắt và kiểu dùng van điều chỉnh không tải ISCV (rpm- Revolution per minute: Số vòng quay trên phút).

    Hình 1.53: Bộ điều khiển bù ga không tải (kiểu điện)
    b. Bù ga kiểu cơ.
    Loại này được dùng trên động cơ điesel loại không có hộp điều khiển điện từ và động cơ xăng sử dụng chế hòa khí. Khi hệ thống điều hòa hoạt động, van điện từ bù ga hoạt động, áp suất chân không trong bầu chân không được dẫn tới cơ cấu chấp hành và đẩy bướm ga. Điều này làm tăng tốc độ không tải của động cơ.

    Hình 1.54: Bộ điều khiển bù ga không tải (kiểu cơ khi chưa có điện)

    Hình 1.55: Bộ điều khiển bù ga không tải (kiểu cơ khi A/C bật)
    1.6.4 Bộ điều khiển chống đóng băng giàn lạnh.
    a. Loại EPR.
    Bộ điều hòa áp suất giàn lạnh (EPR) là một van điều chỉnh áp suất gồm một ống kim loại và một Piston. Bộ phận này được lắp giữa giàn lạnh và máy nén để duy trì áp suất môi chất bên trong giàn lạnh ở 0,18 MPa, hoặc cao hơn, ngăn chặn sự đóng băng. Máy nén hoạt động liên tục trong loại sử dụng van EPR, vì vậy sự thay đổi nhiệt độ đầu ra là thấp. Loại điều hòa không khí sử dụng van EPR không gây ra tiếng ồn, nên được dùng rộng rãi trong các loại xe đắt tiền.

    Hình 1.56: Cấu tạo van EPR
    Khi nhiệt độ trong xe cao, tải nhiệt cao, áp suất bay hơi (Pe) tăng cao hơn áp lực của lò xo (Ps), Piston dịch chuyển sang phái trái làm mở van. Môi chất bay hơi ở giàn lạnh và được hút vào máy nén. Trong quá trình hoạt động, Piston của van EPR sẽ đóng và mở. Chuyển động này điều chỉnh áp suất bay hơi (Pe) cho giàn lạnh, vì thế áp suất không xuống dưới 0,18 MPa, ngăn chặn sự đóng băng giàn lạnh.

    Hình 1.57: Nguyên lý hoạt động van EPR (nhiệt độ trong xe cao)
    Khi nhiệt độ trong xe giảm và nhiệt độ tải giảm, áp suất (Pe) trở nên thấp hơn. Lúc này trong van EPR, giá trị của (Pe) nhỏ hơn áp lực của lò xo và Piston bị kéo trở lại bên phải. Van được đóng lại và ngắt dòng môi chất lạnh để điều chỉnh năng suất lạnh phù hợp với tải nhiệt.

    Hình 1.58: Nguyên lý hoạt động van EPR (nhiệt độ trong xe thấp)
    b. Loại thermistor.
    Khi nhiệt độ giàn lạnh tăng, nhiệt độ của cảm biến nhiệt cũng thay đổi theo. Giá trị điện trở giảm, làm cho điện thế tại điểm A trong bộ khuếch đại A/C giảm. Khi điện thế tại điểm A giảm, bộ khuếch đại A/C làm cho transistor chuyển trạng thái ON và ly hợp từ hoạt động. Máy nén hoạt động để bắt đầu quá trình làm lạnh.

    Hình 1.59: Nguyên lý hoạt động thermistor (khi nhiệt độ cao)
    Khi nhiệt độ giàn lạnh xấp xỉ 00C, điện trở của cảm biến nhiệt tăng. Điện thế tại điểm A trong bộ khuếch đại tăng. Khi điện thế tại điểm A tăng lên thì bộ khuếch đại cho transistor khóa và ly hợp không đóng mạch làm cho máy nén ngừng hoạt động. Điều đó ngăn chặn được sự đóng băng của giàn lạnh.

    Hình 1.60: Nguyên lý hoạt động thermistor (khi nhiệt độ thấp)
    1.6.5 Bộ điều khiển đóng ngắt máy nén.
    a. Tín hiệu ra điều khiển máy nén.
    Trạng thái ON/OFF của máy nén được điều khiển nhờ rơ le điện từ. Có ba loại gửi tín hiệu đến rơ le.
    Kiểu A: Tín hiệu điều khiển được truyền đi từ bộ điều khiển, cùng với các tín hiệu điều khiển khác được cung cấp từ ECU động cơ.
    Kiểu B: Nhận tín hiệu điều khiển từ máy nén từ bộ điều khiển A/C. Đưa ra tín hiệu tới ECU động cơ.
    Kiểu C: Nhận tín hiệu độc lập từ bộ điều khiển A/C.

    Hình 1.61: Các kiểu điều khiển máy nén

    Hình 1.62: Điều khiển máy nén kiểu A
    Bộ điều khiển truyền các tín hiệu sau: Cho phép bật máy nén hoạt động, và bắt đầu bù ga. ECU có thể truyền tín hiệu trở lại phụ thuộc vào trạng thái của động cơ lúc đó.
    b. Công tắc điều khiển A/C và ECON.
    Công tắc điều khiển A/C và ECON phân ra làm hai mức cảm nhận nhiệt độ không khí sau khi đã làm lạnh, để điều khiển hoạt động của máy nén ON/OFF. Công tắc hệ thống điều hòa không khí được dùng để chọn chế độ A/C hay ECON. Cảm biến nhiệt độ giàn lạnh cảm nhận nhiệt độ của khí lạnh ngay sau khi chúng đi qua khỏi giàn lạnh. Việc điều khiển dựa vào nhiệt độ của khí lạnh.

    Hình 1.63: Công tắc điều khiển A/C và ECON
    Để làm lạnh nhanh không khí bên trong xe ta bật công tắc điều hòa A/C ở vị trí ON. Khi nhiệt độ giàn lạnh nhỏ hơn 3 C, máy nén được ngắt. Khi nhiệt độ giàn lạnh lớn hơn 4 C, máy nén được bật và hệ thống bắt đầu làm việc.

    Hình 1.64: Công tắc điều khiển A/C (ở vị trí ON)

    Hình 1.65: Công tắc điều khiển A/C (ở vị trí OFF)
    Khi muốn điều hòa không khí hoạt động ở chế độ tiết kiệm hoặc làm khô không khí, bật công tắc ECON ở vị trí ON. Khi nhiệt độ giàn lạnh xấp xỉ 10 C hoặc thấp hơn thì máy nén dừng hoạt động. Khi nhiệt độ xấp xỉ 11 C hoặc cao hơn thì máy nén thì máy nén hoạt động trở lại. So với công tắc A/C khi ở vị trí ON, thì việc làm lạnh yếu hơn. Thời gian làm việc của máy nén giảm tiết kiệm được nhiên liệu và xe chạy bốc hơn.

    Hình 1.66: Công tắc điều khiển ECON (ở vị trí ON)

    Hình 1.67: Công tắc điều khiển ECON (ở vị trí OFF)
    c. Điều khiển theo tốc độ động cơ.
    Khi máy nén hoạt động lúc động cơ đang ở trạng thái không tải, công suất của động cơ nhỏ nên động cơ có thể bị chết máy. Khi máy nén hoạt động, việc điều khiển tốc độ động cơ giúp bù ga để duy trì tốc độ động cơ hoặc trên tốc độ quay định. Khi tốc độ động cơ giảm, máy nén sẽ được ngắt. Những chức năng này giúp ngăn ngừa động cơ chết máy nhờ việc điều khiển máy nén ON/OFF phụ thuộc vào tốc độ của động cơ (rpm- Revolution per minute: Số vòng quay trên phút).

    Hình 1.68: Điều khiển máy nén theo tốc độ động cơ
    d. Điều khiển ngắt A/C để tăng tốc độ động cơ.

    Hình 1.69: Điều khiển ngắt A/C (qua ECU và bộ điều khiển A/C)
    Kiểu điều khiển này sử dụng hiệu quả trong việc kiểm soát công suất của động cơ của các xe có công suất động cơ nhỏ. Máy nén được ngắt tức thời trong quá trình tăng tốc để giảm tải cho động cơ. Quá trình tăng tốc được nhận biết bởi ECU động cơ, dựa vào một loạt tín hiệu. Khi sự tăng tốc được nhận biết gửi tín hiệu đến bộ điều khiển A/C. Bộ điều khiển này sẽ điều khiển ngắt máy nén trong vài giây.

    Hình 1.70: Điều khiển ngắt A/C (bằng công tắc)
    Loại này gồm một công tắc được đặt ở phía dưới chân ga. Khi đạp chân ga, máy nén ngừng hoạt động trong một thời gian ngắn đủ để tăng tốc độ động cơ.
    e. Điều khiển ngắt máy nén trong trường hợp khẩn cấp.
    Công tắc áp suất kép được lắp ở phần cao áp của hệ thống lạnh. Khi áp suất quá cao được phát hiện trong hệ thống lạnh, máy nén sẽ dừng hoạt động. Điều này ngăn chặn hư hỏng và bảo vệ các bộ phận quan trọng trong hệ thống điều hòa không khí.

    Hình 1.71: Cấu tạo công tắc áp suất kép


    Hình 1.72: Vị trí lắp đặt công tắc áp suất kép
    Khi môi chất lạnh trong hệ thống còn ít do bị dò rỉ hoặc do các nguyên nhân khác dẫn đến thiếu dầu tuần hoàn để bôi trơn máy nén. Điều này có thể làm cháy máy nén. Khi áp suất quá thấp (áp suất môi chất 0,2MPa hoặc thấp hơn) công tắc áp suất kép chuyển sang trạng thái ngắt. Nguồn điện tới bộ điều khiển A/C không được cấp và ly hợp từ bị ngắt dẫn đến nén ngừng hoạt động. Điều này đảm bảo an toàn cho các bộ phận trong hệ thống điều hòa không khí trên ô tô.

    Hình 1.73: Công tắc áp suất kép (khi có sự cố xảy ra)
    Khi áp suất môi chất lạnh quá cao do việc giải nhiệt giàn nóng kém dẫn đến quá tải môi chất, các bộ phận trong hệ thống điều hòa có thể bị phá hỏng. Khi áp suất môi chất quá cao (áp suất môi chất khoảng 3,1MPa hoặc cao hơn), công tắc áp suất kép chuyển sang trạng thái ngắt. Nguồn điện tới bộ khuếch đại A/C không được cấp và ly hợp từ bị ngắt dẫn đến nén ngừng hoạt động. Điều này đảm bảo an toàn cho các bộ phận trong hệ thống điều hòa không khí trên ô tô.
    f. Điều khiển A/C khi nhiệt độ nước cao.

    Hình 1.74: Cảm biến nhiệt độ nước
    Cảm biến nhiệt độ nước làm cảm nhận nhiệt độ nước làm mát của động cơ, để ngăn quá nhiệt động cơ. Khi đạt nhiệt độ quy định (xấp xỉ 1000C) ly hợp từ ngừng hoạt động và máy nén bị ngắt. Điều này làm giảm tải cho động cơ.
    Trong một vài loại xe, điều này có thể thực hiện trong máy nén loại thay đổi lưu lượng. Khi nhiệt độ nước lên tới 1000C hoặc cao hơn công suất máy nén giảm 50%. Khi nhiệt độ nước từ 950C hoặc thấp hơn, công suất máy nén có thể đạt 100%. Điều này làm giảm tải cho động cơ.
    1.6.6 Điều chỉnh tốc độ quạt.
    Khi máy nén hoạt động, nếu cả áp suất môi chất lạnh và nhiệt độ nước làm mát đều thấp, thì quạt giàn nóng và quạt két nước làm mát động cơ được mắc nối tiếp với nhau và quay ở tốc độ thấp.

    Hình 1.75: Quạt giàn nóng và quạt két nước mắc nối tiếp
    Khi máy nén hoạt động, nếu cả áp suất môi chất lạnh và nhiệt độ nước làm mát đều cao, thì quạt giàn nóng và quạt két nước làm mát động cơ được mắc song song với nhau và quay ở tốc độ cao. Khi máy nén ngừng hoạt động thì quạt giàn nóng không quay.

    Hình 1.76: Quạt giàn nóng và quạt két nước mắc song song
    - Nguyên lý điều khiển quạt giàn nóng và quạt két nước.
    + Chế độ 1: Nhiệt độ nước thấp, điều hòa không bật . Khi đó công tắc áp suất ở trạng thái OFF tức là ở trạng thái đóng (áp suất ga lớn hơn hoặc bằng 15 kg/cm2 ), công tắc nhiệt độ nước làm mát cũng ở trạng thái OFF khi nhiệt độ nước lớn hơn hoặc bằng 900C. Quạt giàn nóng và quạt két nước không hoạt động.

    Hình 1.77: Nguyên lý điều khiển quạt giàn nóng và quạt két nước
    + Chế độ 2: Nhiệt độ nước thấp, bật điều hòa, áp suất ga lớn hơn hoặc bằng 15 kg/cm2 (hai quạt mắc nối tiếp nhau chạy ở tốc độ thấp).
    + Chế độ 3: Không bật điều hòa, nhiệt độ nước cao (ví dụ như khi leo dốc). Quạt giàn nóng không hoạt động, quạt két nước quay ở tốc độ cao. Bởi vì khi đó công tắc nhiệt độ nước sẽ mở ra và cuộn dây của Rơ le số 1 không có điện qua do đó tiếp điểm vẫn đóng, dòng điện đi thẳng từ công tắc máy tới thẳng quạt két nước làm mát động cơ. Do đó quạt két nước sẽ quay ở tốc độ cao.
    + Chế độ 4: Bật điều hòa, nhiệt độ nước thấp, áp suất ga lớn hơn 15 kg/cm2. Khi đó công tắc áp suất sẽ mở ra do đó rơ le 1 vẫn đóng. Khi đó quạt giàn nóng và quạt két nước làm mát được mắc song song với nhau. Do đó dòng điện tăng lên và hai quạt chạy ở tốc độ cao.
    CHƯƠNG II. NHỮNG HƯ HỎNG CỦA HỆ THỐNG ĐIỀU HOÀ TRÊN XE ÔTÔ MÊKÔNG
    1.Những hư hỏng .
    Hư hỏng Nguyên Nhân KT,KP sửa chữa
    • Máy nén chạy ồn:
    Dư gas.
    Có chi tiết bên trong máy nén bị hư.
    Có các bulong hay đinh vít bị lỏng
    Chưa tháo các tấm vận chuyển
    Có sự tiếp xúc của 1 ống này với ống khác hoặc vỏ máy Rút bớt lượng gas đã sạc
    Thay máy nén
    Vặn chặt các bulông hay vis
    Tháo các tấm vận chuyển
    Nắn thẳng hay cố định ống sao cho không tiếp xúc với ống hoặc các chi tiết kim loại khác
    • Quá lạnh: Bộ điều khiển nhiệt độ (thermostat) bị hư
    Kiểm tra thông mạch của bộ điều khiển nhiệt độ và dây dẫn
    • Máy chạy liên
    tục nhưng không đủ lạnh.
    Thiếu gas
    Đường ống gas lỏng bị cản trở hoặc nghẹt
    Lọc gió bị dơ
    Dàn lạnh bị dơ
    Không đủ không khí đi qua dàn lạnh
    Dàn ngưng tụ bị dơ hay bị nghẹt một phần
    Có không khí hay khí không ngưng trong máy lạnh
    Không khí giải nhiệt không tuần hoàn
    Máy nén hoạt động không hiệu quả
    Tải quá nặng Thử xì, đo Gas, xạc Gas, kiểm tra P ht , xả…
    Thay thế chi tiết cản trở
    Làm sạch hay thay
    Làm sạch
    Kiểm tra quạt
    Bảo trì dàn nóng
    Rút gas hút chân không và sạc gas mới
    Tháo dỡ các vật cản dòng không khí giải nhiệt
    Kiểm tra hiệu suất máy nén
    Kiểm tra tải

    • Áp suất hút thấp Thiếu gas
    Đường ống gas lỏng bị cản trở hoặc nghẹt
    Lọc gió bị dơ
    Dàn lạnh bị dơ
    Không đủ không khí đi qua dàn lạnh
    Van tiết lưu bị nghẹt
    Van tiết lưu hay ống mao bị nghẹt hoàn toàn
    Bầu cảm biến của van tiết lưu bị xì Thử xì
    Thay thế chi tiết cản trở
    Làm sạch hay thay
    Làm sạch
    Kiểm tra quạt
    Thay valve
    Thay valve hoặc ống mao
    Thay valve
    • Áp suất hút cao.
    Dư gas
    Máy nén hoạt động không hiệu quả
    Vị trí lắp cảm biến không đúng
    Tải quá nặng Rút bớt lượng gas đã sạc
    Kiểm tra hiệu suất máy nén.
    Đổi vị trí lắp cảm biến
    Kiểm tra tải

    • Áp suất nén thấp.
    Thiếu gas
    Máy nén hoạt động không hiệu quả Thử xì
    Kiểm tra hiệu suất máy nén
    • Áp suất nén cao.
    Dư gas
    Dàn ngưng tụ bị dơ hay bị nghẹt một phần
    Có không khí hay khí không ngưng trong máy lạnh
    Không khí giải nhiệt không tuần hoàn
    Nhiệt độ của không khí hoặc nước giải nhiệt cao
    Thiếu không khí hoặc nước giải nhiệt Rút bớt lượng gas đã sạc
    Bảo trì dàn nóng
    Rút gas hút chân không và sạc gas mới
    Tháo dỡ các vật cản dòng không khí giải nhiệt
    Cưa my nn ra kiểm tra, sửa chữa, thay thế.
    Kiểm tra v tăng quá trình giải nhiệt ln.

    • Máy nén chạy và dừng liên tục do quá tải.
    Cuộn dây contactor máy nén bị hư
    Điện thế thấp
    Thiếu gas
    Dư gas
    Dàn ngưng tụ bị dơ hay bị nghẹt một phần Kiểm tra thông mạch của coil và các tiếp điểm
    Kiểm tra điện thế
    Thử xì
    Rút bớt lượng gas đã sạc
    Bảo trì dàn nóng
    • Máy chạy và ngưng liên tục. Cuộn dây contactor máy nén bị hư
    Điện thế thấp
    Thiếu gas
    Đường ống gas lỏng bị cản trở hoặc nghẹt
    Dư gas
    Dàn ngưng tụ bị dơ hay bị nghẹt một phần
    Van tiết lưu hay ống mao bị nghẹt hoàn toàn
    Bầu cảm biến của van tiết lưu bị xì Kiểm tra thông mạch của coil và các tiếp điểm
    Kiểm tra điện thế
    Thử xì
    Thay thế chi tiết cản trở
    Rút bớt lượng gas đã sạc
    Bảo trì dàn nóng
    Thay valve hoặc ống mao
    Thay valve

    • Quạt dàn nóng không chạy.
    Ngắn mạch hay đứt dây
    Bộ điều khiển nhiệt độ (thermostat) bị hư
    Tụ điện bị hư hay ngắn mạch
    Cuộn dây contactor quạt bị hư
    Động cơ quạt bị ngắn mạch hay chạm vỏ Kiểm tra mạch điện bằng đồng hồ
    Kiểm tra thông mạch của bộ điều khiển nhiệt độ và dây dẫn
    Kiểm tra tụ điện bằng đồng hồ
    Kiểm tra thông mạch của coil và các tiếp điểm
    Kiểm tra độ cách điện bằng đồng hồ
    • Quạt dàn lạnh không chạy. Ngắn mạch hay đứt dây
    Tụ điện bị hư hay ngắn mạch
    Cuộn dây contactor quạt bị hư
    Động cơ quạt bị ngắn mạch hay chạm vỏ Kiểm tra mạch điện bằng đồng hồ
    Kiểm tra tụ điện bằng đồng hồ
    Kiểm tra thông mạch của coil và các tiếp điểm
    Kiểm tra độ cách điện bằng đồng hồ
    • Máy nén và quạt dàn ngưng không chạy.

    Ngắn mạch hay đứt dây
    Bộ điều khiển nhiệt độ (thermostat) bị hư
    Cuộn dây contactor máy nén bị hư Kiểm tra mạch điện bằng đồng hồ
    Kiểm tra thông mạch của bộ điều khiển nhiệt độ và dây dẫn
    Kiểm tra thông mạch của coil và các tiếp điểm
    • Máy nén không chạy, quạt chạy. Ngắn mạch hay đứt dây
    Bộ điều khiển nhiệt độ (thermostat) bị hư
    Tụ điện bị hư hay ngắn mạch
    Cuộn dây contactor máy nén bị hư
    Máy nén bị ngắn mạch hay chạm vỏ
    Máy nén bị kẹt
    Kiểm tra mạch điện bằng đồng hồ
    Kiểm tra thông mạch của bộ điều khiển nhiệt độ và dây dẫn
    Kiểm tra tụ điện bằng đồng hồ
    Kiểm tra thông mạch của coil và các tiếp điểm
    Kiểm tra độ cách điện bằng đồng hồ
    Cưa my nn ra kiểm tra, sửa chữa, thay thế.
    • Máy không chạy Không có điện nguồn
    Đứt cầu chì hoặc vasitor
    Lỏng mối nối điện
    Ngắn mạch hay đứt dây
    Thiết bị an toàn mở
    Biến thế bị hư
    Kiểm tra điện thế
    Kiểm tra cỡ và loại cầu chì
    Kiểm tra mối nối điện – xiết chặt lại
    Kiểm tra mạch điện bằng đồng hồ
    Kiểm tra thông mạch của thiết bị bảo vệ
    Kiểm tra mạch điều khiển bằng đồng hồ.


    CHƯƠNG III. QUY TRÌNH THÁO,ĐO ĐẠC, KIỂM TRA,BẢO DƯỠNG 1 Qui trình chẩn đoán ban hệ thống điều hòa nhiệt độ.

    Hình 1.78. Qui trình chẩn đoán pan hệ thống điều hòa nhiệt độ
    1.1 Xác định triệu chứng
    Để định dạng hư hỏng và kiểm tra các triệu chứng người thợ cần kiểm tra kỹ lưỡng các triệu chứng và tình trạng khí nó xảy ra. Nừu triệu chứng xảy ra không liên tục, cần hỏi về những điều kiện khi nó xảy ra,

    Hình 1.79. Phương pháp xác định triệu chứng pan
    hệ thống điều hòa nhiệt độ.

    1.2 Kiểm tra sơ bộ
    - Kiểm tra bảng điều khiển

    Hình 1.80. Phương pháp kiểm tra bảng điều khiển
    Cho các cần gạt và công tắc trên bảng điều khiển hoạt động .
    Kiểm tra sự chuyển động nhẹ nhàng của các cửa.
    Kiểm tra độ tin cậy hoạt động của các chức năng điều hoà không khí ô tô
    Đặc biệt kiểm tra một cách kỹ lưỡng tốc độ không tải so với giá trị tiêu chuẩn.
    Các giá trị tiêu chuẩn tìm thấy trong sổ tay bảo trì xe.
    - Kiểm tra sức căng dây curoa (dây đai)

    Hình 1.81 . Phương pháp kiểm tra dây curoa.
    + Kiểm tra vết nứt và mức hư hỏng của dây curoa .
    + Kiểm tra sức căng dây curoa cả khi căng đúng.
    + Sử dụng thiết bị đo căng dây curoa để kiểm tra.
    Kiểm tra chất lượng lãnh chất bằng cách qua sát trên mắt ga

    Hình 1.82. Phương pháp kiểm tra lãnh chất.
    + Lượng lãnh chất nạp vào có thể dễ dàng kiểm tra bằng cách sử dụng mắt ga.
    +Sự quan sát trên mắt ga bị ảnh hưởng nhỏ bởi nhiệt độ bên ngoài.
    +Lượng lãnh chất là đúng khi không thấy bọt và lãnh chất trở nên trong khi tốc dộ động cơ tăng lên.


    Hình1.83. Hình dạng của mắt gas
    - Kiểm tra rò rỉ tại các ống nối

    Hình 1.84. Vị trí kiểm tra rò rỉ
    + Nếu vếch đầu xuất hiện tại khớp nối ống thì lãnh chất có thẻ bị rò rỉ .
    + Hãy làm sạch vết dầu và tiến hành kiểm tra rò rỉ.
    1.3. Kiểm tra hệ thống lạnh
    a. Đồng hồ đo áp suất dùng để kiểm tra hệ thống lạnh
    - Đồng hồ đo áp suất dùng để kiểm tra áp suất trong hệ thống lạnh khi hút chân không hay nạp gas. Khi ta vặn van LO và HI trên phía trước của đồng hồ sẽ mở và đóng van áp suất thấp và áp suất cao.
    - Cấu tạo của đồng hồ đo áp suất như hình vẽ bên dưới


    Hình 1.85. Đồng hồ đo áp suất dùng để kiểm tra hệ thống lạnh

    +. Xả khí
    Trạng thái van dùng để xả khí:
    Van áp suất thấp: đóng
    Van áp suất cao: đóng
    Đường ống nạp được nối vào hệ thống lạnh.
    Khi mở và đóng van LO và HI, khí được xả ra từ đường ống A và C.


    Hình 1.86. Trạng thái van dùng để xả khí
    +. Nạp lãnh chất hoặc thu hồi ga ở phía áp thấp
    Trạng thái van dùng để nạp lãnh chất hoặc thu hồi ga ở phía áp thấp như sau:
    Van áp suất thấp: mở
    Van áp suất cao: đóng

    Hình 1.87. Trạng thái van dùng để nạp lãnh chất
    và thu hồi gas ở phía áp thấp
    +.Nạp lãnh chất và thu hồi ga ở phía áp cao khi động cơ không hoạt động
    Trạng thái van dùng để nạp lãnh chất và thu hồi ga ở phía áp cao khi động cơ không hoạt động:
    Van áp suất thấp: đóng
    Van áp suất cao: mở
    Chú ý: Không được mở van HI khi máy nén đang hoạt động

    Hình 1.88. Trạng thái van dùng để nạp lãnh chất
    và thu hồi gas ở phía áp cao
    +. Hút chân không trong hệ thống, hay thu hồi và tái tạo lãnh chất
    Trạng thái van dùng để hút chân không trong hệ thống, hay thu hồi và tái tạo lãnh chất:
    Van áp suất thấp: mở
    Van áp suất cao: mở

    Hình 1.89. Trạng thái van dùng để hút chân không trong hệ thống,
    hay thu hồi và tái tạo lãnh chất
    b. Chẩn đoán tình trạng kỹ thuật của hệ thống lạnh bằng đồng hồ đo áp suất
    +. Điều kiện đo
    - Cửa: mở
    - Công tắc dòng khí vào: để ở vị trí gió trong
    - Tốc độ động cơ: 1500 v/ph.
    - Nhiệt độ vào A/C : 25 - 35OC
    - Tốc độ quạt gió: ở mức HI.
    - Cài đặt nhiệt độ: ở vị trí lạnh nhất.
    +. Nếu hệ thống lạnh làm việc bình thường thì các đồng hồ hiển thị như sau:
    - Đồng hồ áp thấp: P = 0.15 – 0.25 Mpa(1.5 tới 2.5kgf/cm2)
    - Đồng hồ áp cao: P = 1.6 – 1.8 Mpa(16.3 tới 18.4kgf/cm2)

    Hình 1.90. Giá trị đồng hồ báo khi hệ thống lạnh làm việc bình thường
    +. Hệ thống lạnh không đủ lãnh chất (thiếu gas)
    Nếu hệ thống lạnh không đủ lãnh chất (thiếu gas) thì giá trị báo trên các đồng hồ áp suất thấp và cao đều thấp hơn bình thường
    * Triệu chứng:
    áp suất thấp ở cả hai vùng
    Có bọt ở mắt gas.
    Lạnh yếu.
    * Nguyên nhân:
    Thiếu lãnh chất
    Rò rỉ gas
    * Biện pháp khắc phục:
    Kiểm tra sửa chữa rò rỉ gas.
    Nạp thêm gas.

    Hình 1.91. Giá trị đồng hồ báo khi hệ thống lạnh thiếu gas

    +. Hệ thống lạnh thừa gas hay giải nhiệt giàn nóng kém

    Hình 1.92. Giá trị đồng hồ báo khi hệ thống lạnh thừa gas
    hay giải nhiệt kém
    Nếu hệ thống lạnh thừa gas hay giải nhiệt giàn nóng kém thì giá trị báo trên các đồng hồ, triệu chứng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục được trình bày như sau
    * Triệu chứng:
    áp suất cao ở cả hai vùng
    Không có bọt ở mắt gas.
    Lạnh yếu.
    * Nguyên nhân:
    Thừa lãnh chất
    Giải nhiệt giàn nónh kém
    * Biện pháp khắc phục:
    Kiểm tra, sửa chữa hệ thống làm mát (quạt giải nhiệt).
    Vệ sinh giàn nóng
    Điều chỉnh đúnh lượng gas.
    +. Có hơi ẩm trong hệ thống lạnh
    Nếu có hơi ẩm trong hệ thống lạnh thì giá trị báo trên các đồng hồ, triệu chứng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục được trình bày như sau
    * Triệu chứng:
    Khi mới bật máy lạnh hệ thống hoạt động bình thường. Sau một thời gian, phía áp thấp giảm tới áp suất chân không, tính năng làm lạnh
    giảm.
    * Nguyên nhân:
    Không lọc được ẩm.
    * Biện pháp khắc phục:
    Thay bình chứa hoặc lọc gas.
    Hút chân không triệt để trước khi lọc gas.

    Hình 1.93. Giá trị đồng hồ báo khi hệ thống lạnh có hơi ẩm
    +. Máy nén của hệ thống lạnh làm việc yếu
    Nếu máy nén của hệ thống lạnh làm việc yếu thì giá trị báo trên các đồng hồ, triệu chứng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục được trình bày như sau
    * Triệu chứng:
    - áp suất phía áp thấp: cao hơn bình thường
    - áp suất phía áp cao: thấp hơn bình thường
    - Khi tắt máy lạnh thì áp suất phía áp thấp và phía áp cao bằng nhau ngay lập tức.
    - Khi sờ thân máy nén không thấy nóng
    - Không đủ lạnh
    * Nguyên nhân:
    Máy nén bị hư.
    * Biện pháp khắc phục:
    Kiểm tra sửa chữa máy nén.



    Hình 1.94. Giá trị đồng hồ báo khi máy nén
    của hệ thống lạnh làm việc yếu

    +. Hệ thống lạnh bị tắc nghẽn
    Nếu hệ thống lạnh bị tắc nghẽn thì giá trị báo trên các đồng hồ, triệu chứng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục được trình bày như sau
    * Triệu chứng:
    - áp suất phía áp thấp: rất thấp (bằng áp suất chân không)
    - Không thể làm lạnh.
    * Nguyên nhân:
    - Gas bị bẩn.
    - Gas bị ẩm, đóng băng thành khối tại van tiết lưu, EPR và các lỗ làm ngăn dòng lãnh chất.
    - Rò rỉ gas trong đầu cảm ứng nhiệt.
    * Biện pháp khắc phục:
    - Kiểm tra, sửa chữa bộ phân bị nghẹt.
    - Hút hết chân không trong hệ thống.

    Hình 1.95. Giá trị đồng hồ báo khi hệ thống lạnh bị tắt nghẽn
    +. Hệ thống lạnh bị lọt không khí
    Nếu hệ thống lạnh bị lọt không khí vào thì giá trị báo trên các đồng hồ, triệu chứng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục được trình bày như sau
    * Triệu chứng
    - Giá trị áp suất ở cả hai vùng áp cao và áp thấp đều cao.
    - Tính năng làm lạnh giảm
    - Nếu gas đủ, có sự sủi bọt tại mắt gas giống như lúc hoạt động bình thường.
    * Nguyên nhân
    - Khí xâm nhập
    * Biện pháp khắc phục
    - Thay lãnh chất
    - Hút chân không.

    Hình 1.96. Giá trị đồng hồ báo khi hệ thống lạnh bị bọt khí
    +. Van tiết lưu mở quá lớn
    * Triệu chứng
    - áp suất ở vùng áp thấp tăng
    - Tính năng làm lạnh giảm
    -Tuyết bám trên ống áp suất thấp.
    * Nguyên nhân
    - Hư van tiết lưu
    * Biện pháp khắc phục
    - Kiểm tra, sửa chữa đầu cảm ứng nhiệt.

    Hình 1.97. Giá trị đồng hồ báo khi van tiết lưu
    của hệ thống lạnh mở quá lớn


    2. Phần Bảo Dưỡng
    2.1 Bảo dưỡng máy nén
    - Việc bảo dưỡng máy nén là cực kỳ quan trọng đảm bảo cho hệ thống hoạt động được tốt, bền , hiệu suất làm việc cao nhất ,đặc biệt đối với các máy có công suất lớn.
    - Máy lạnh dễ xẩy ra sự cố ở trong 3 thời kỳ:Thời kỳ ban đầu khi mới chạy thử và thời kỳ khi đã xảy ra các hao mòn ccas chi tiết máy.
    a, Cứ sau 6.000 giờ thì phải đại tu máy một lần.Dù máy ít chạy thì 01 năm cũng phải đại tu 01 lần.
    b, Các máy dừng lâu ngày , trức khi chạy lại phải tiến hành kiểm tra.
    + Công tác đại tu và kiểm tra bao gồm:
    – Kiểm tra dộ kín và tình trạng của van xả van hút máy nén .
    - Kiểm tra bên trong máy nén , tình trạng dầu , các chi tiết máy có bị hen rỉ ,lau chùi các chi tiết. Trong các kỳ đại tu càn phải tháo các chi tiết , lau chùi và thay dầu mỡ.
    – Kiểm tra dầu bên trong cacte qua các cửa quan sát dầu . Nếu thấy bọt kim loại màu vang, cặn bẩn thì phải kiểm tra nguyên nhân do bẩn trên đường hút , do mài mòn các chi tiết máy .
    – Kiểm tra mức độ mài mòn của các thiết bị như trục khuỷu, các đệm kín , vòng bạc , pittong, vòng gioăng ,thanh truyền..vv.. so với kích thước tiêu chuẩn .Mỗi chi tiết yêu cầu độ mòn tối đa khác nhau .Khi độ mòn vượt quá mức cho phép thì phải thay thế cái mới .
    – Thử tác động của các thiết bị điều khiển HP,OP,WP,LP và các bộ phận cấp dầu.
    – Lau chùi vệ sinh bộ lọc hút máy nén .
    Đối với các loại máy nén lạnh các bộ lọc bao gồm :Lọc hút máy nén ,bộ lọc dầu kiểu đĩa và bộ lọc tinh.
    Đối với bộ lọc hút : Kiểm tra xem lưới có bị tắc , bị rách hay không .Sau đó sử dụng các hoá chất chuyên dụng để lau rửa lưới lọc.
    Đối với bộ lọc tin cần kiểm tra bộ lọc có xoay nhẹ nhàng không . Nếu cặn bẩn bám giữa các miếng gạt thì sử dụng miếng thép mỏng như dao để gạt cặn bẩn. Sau đó chùi sạch bên trong .Sau khi lau chùi xong thổi hơi nén từ trong ra ngoài để làm sạch bộ lọc .
    – Kiểm tra hệ thống nước giải nhiệt.
    - Vệ sinh bên trong mô tơ :Trong quá trình làm việc không khí được hút vào giải nhiệt cuộn dây mô tơ và cuốn theo bụi khá nhiều ,bụi đó lâu ngày tích tụ trở thành lớp cách nhiệt ảnh hưởng giải nhiệt cuộn dây.
    Bảo dưỡng định kỳ : Theo quy định cứ sau 72 đến 100 giờ làm việc đầu tiên phải tiến hành thay dầu máy nén .Trong 5 lần đầu tiên phải tiến hành thay dầu hoàn toàn ,bằng cách mở nắp bên tháo sạch dầu,dùng giẻ sạch thấm hết dầu bên trong cắc te, vệ sinh sạch sẽ và châm dầu mwosi vào với số lượng đầy đủ .
    Kiểm tra dự phòng : Cứ sau 3 tháng phải mở và kiểm tra các chi tiết qua trọng của máy như : Xilanh, piston, tay quay thanh truyền, clắppe,nắp bít vv..
    Phá cặn áo nước làm mát : Nếu trên áo nước làm mát bị đóng cáu cặn nhiều thì phải tiến hành xả bỏ cặn bằng cách dùng hỗn hợp axit clohidric 25% ngâm 8÷ 12 giờ sau đó rửa sạch bằng dung dich NaOH 10÷ 15% và rửa sạch băng nước sạch.
    Tiến hành cân chỉnh và căng lại dây đai và mô tơ khi tháy lỏng.Công việc này tiến hành kiểm tra hang tuần.
    2.2 Bảo dưỡng thiết bị ngưng tụ .
    Tình trạng làm việc của thiế bị ngưng tụ ảnh hưởng nhiều đến hiệu suất làm việc của hệ thống , độ an toàn , độ bền của các thiết bị .
    Bảo dưỡng thiết bị ngưng tụ bao gồm các công việc chính sau đây:
    Vệ sinh bề mặt trao đổi nhiệt.
    Xả dầu tích bên trong thiết bị.
    Bảo dưỡng cân chỉnh bơm quạt giải nhiệt.
    Xả khí ngưng ở thiết bị ngưng tụ.
    Vệ sinh bể nước ,xả cặn.
    Kiểm tra thay thế các vòi phun nước ,các tấm chắn nước (nếu có).
    Sơn sửa bên ngoài.
    Sửa chữa thay thế thiết bị điện , các thiết bị an toàn và van điều khiển liên quan.
    + Bảo dưỡng bình ngưng.
    Để vệ sinh bình ngưng có thể tiến hành bằng thủ công hoặc có thể dùng hoá chất để vệ sinh.
    Khi cáu bẩn bám vào bên trong thành lớp dày,bám chặt thì nên sử dụng hoá chất phá cặn bẩn.Rửa bằng dung dịch 〖NaCO〗_3ấm sau đó thổi khô bằng khí nén.
    Trong trường hợp cáu cặn dễ vệ sinh thì có thể tiến hành bằng phương pháp vệ sinh cơ học. Khi tiến hanhfveej sinh , phải tháo nắp bình ,dùng que thepscos quấn vải để lau chùi bên trong đường ống . Cần chú ý trong quá trình vệ sinh không đượclàm xây xước bên trong đường ống , các vết xước có thể làm cho đường ống hen rỉ hoặc tích tụ bẩn dễ hơn .
    Vệ sinh tháp giải nhiệt , thay nước mới.
    Xả dầu: Nói chung dầu ít khi tích tụ trong bình ngưng mà chảy theo đường lỏng về bình chứa nên thực tế thường không có.
    Định kỳ xả ari và cặn bẩn ở các nắp bình về phía đường nước giải nhiệt.
    Xả khí không ngưng trong bình ngưng:Khi áp suất trong bình khác với áp suất ngưng tụ của môi chấtở cùng nhiệt độ thì chứng tỏ trong bình có lọt khí không ngưng.Để xả khi không ngưng ta cho nước tuàn hoàn nhiều lần qua bình ngưng để ngưng tụ hết gas còn trong bình ngưng.Nếu hệ thống vó bình xả khí không ngưng thì nối thông bình ngưng với bình xả không ngưng sau đó tiến hành làm mát và xả khí không ngưng.Nếu không có thiết bị xả khí không ngưng thì có thể xả trực tiếp.
    Bảo dưỡng bơm giải nhiệt và quạt giải nhiệt của tháp giải nhiệt .Bảo dưỡng giàn ngưng tụ bay hơi
    Khi giàn ống trao đổi nhiệt của giàn ngưng bị bàm bẩn có thể lau chùi bằng giẻ hoặc dùng hoá chất như trường hợp bình ngưng.Công việc này cần tiến hành thường xuyên. Bề mặt câc ông trao đổi nhiệt thường xuyên tiếp xuc với nước và không khí nên tốc độ ăn mòn khá nhanh.Vì vậy thường các ống được nhũng kém nongskhi vệ sinh cẩn thận,không được gây xước ăn mòn cục bộ.
    Quá trình làm việc của giàn ngưng đã làm bay hơi một lượng nước lớn, cặn bẩn được tích tụ lại ở bể. Sau một thời gian ngắn nước ở trong bể sẽ bẩn.Nếu tiếp tục sử dụng các đấu phun sẽ bị tắc hoặc cặn bẩn bám trên bề mặt gìn trao đổi nhiệt làm giảm hiệu quả của chúng.Vì vậy phải thường xuyên xả cặn bẩn ở trong bể, công việc này được tiến hành tuỳ thuộc chât lượng nguồn nước.
    Vệ sinh và thay thế giàn phun:Kích thước các lỗ phun rất nhỏ nên rất dễ bị tắc bẩn ,đặc biệt khi chất lượng ngồn nước kém .Khi một số mũi phun bị tắc , một số vùng của giàn ngưng không được giải nhiệt làm giảm hiệu quả troa đổi rõ rệt . Vì vậy phải thường xuyên kiểm tra,vệ sinh và thay thế các vòi phun bị hư hỏng.
    Định kỳ cân chỉnh cánh quạt giàn ngưng đảm bảo cân bằng tốt nhất .
    Bảo dưỡng các bơm , mô tơ quạt , thay dầu mỡ.
    Kiểm tra thay thế tấm chắn nước ,nếu không quạt bị ẩm chóng hỏng.
    Giàn ngưng kiểu tưới .
    Đặc thù của giàn ngưng kiểu tưới là các giàn trao đổi nhiệu để trần trong môi trường kí nước thường xuyên nên để lại các loại rêu thường hay phát triển.Vì vậy giàn thường bị bám bẩn rất nhanh. Việc vệ sinh giàn trao đổi nhiệt tương đối dễ dàng. Trong trường hợp này dùng bản chải mềm để lau chùi cặn bẩn.
    Nguồn nước sử dụng ,có chất lượng không cao nên thường xuyên xả cặn bẩn bể nước.
    Xả dầu tồn đọng bên trong giàn ngưng.
    Bảo dưỡng bơm nước tuần hoàn , thay dầu mỡ.
    + Bảo dưỡng giàn ngưng tụ không khí .
    Vệ sinh giàn trao đổi nhiệt: Một số giàn trao đổi nhiệt có bộ lọc không khí băng nhựa hoặc sắt đặt phía trước. Trong trường hợp này có thể rút bộ lọc ra lau chùi bằng chổi hoặc sử dụng nước.
    Đối với dàn bình thường : Dùng chổi mềm quét sạch bụi bẫn bám trên các ống và cánh trao đổi nhiệt. Trong trường hợp bụi bẫn bám nhiều và sâu bên trong có thể dùng khí nén hoặc nước phun mạnh vào để rửa.
    Cân chỉnh cánh quạt và bảo dưỡng mô tơ quạt
    Tiến hành xả dầu trong dàn ngưng.
    2.3 Bảo dưỡng thiết bị bay hơi.
    + Bảo dưỡng giàn bay hơi không khí
    - Xả băng giàn lạnh : Khi băng bám trên giàn lạnh nhiều sẽ làm tăng nhiệt trở của giàn lạnh, dòng không khí đi qua giàn bị tắc, giảm lưu lượng gió, trong một số trường hợp làm tắc các cánh quạt, mô tơ không thể quay làm cháy mô tơ.
    Vì vậy phải thường xuyên cả băng giàn lạnh.
    Trong 01 ngày tối thiểu xả 02 lần. Trong nhiều hệ thống có thể quan sát dòng điện quạt giàn lạnh để tiến hành xả băng. Nói chung khi băng bám
    nhiều, dòng không khí bị thu hẹp dòng làm tăng trở lực kéo theo dòng
    điện của quạt tăng. Theo dỏi dòng điện quạt dàn lạnh có thể biết chừng
    nào xả băng là hợp lý nhất.
    Quá trình xả băng chia ra làm 3 giai đoạn :
    + Giai đoạn 1 : Hút hết gas trong giàn lạnh
    + Giai đoạn 2 : Xả băng giàn lạnh
    + Giai đoạn 3 : Làm khô giàn lạnh
    - Bảo dưỡng quạt dàn lạnh.
    - Vệ sinh giàn trao đổi nhiệt, muốn vậy cần ngừng hệ thống hoàn toàn, để khô giàn lạnh và dùng chổi quét sạch. Nếu không được cần phải rửa bằng nước, hệ thống có xả nước ngưng bằng nuớc có thể dùng để vệ sinh giàn.
    - Xả dầu giàn lạnh về bình thu hồi dầu hoặc xả trực tiếp ra ngoài.
    - Vệ sinh máng thoát nước giàn lạnh.
    - Kiểm tra bảo dưỡng các thiết bị đo lường, điều khiển.
    +Bảo dưỡng giàn lạnh xương cá
    Đối với giàn lạnh xương cá khả năng bám bẫn ít vì thường xuyên ngập
    trong nước muối. Các công việc liên quan tới giàn lạnh xương cá bao gồm:
    - Định kỳ xả dầu tích tụ trong giàn lạnh. Do dung tích giàn lạnh xương cá rất lớn nên khả năng tích tụ ở giàn rất nhiều dầu. Khi dầu tích ở giàn lạnh xương cá hiệu quả trao đổi nhiệt giảm, quá trình tuần hoàn môi chất bị ảnh hưởng và đặc biệt làm máy thiếu dầu nghiêm trọng ảnh hưởng nhiều tới chế độ bôi trơn.
    - Bảo dưỡng bộ cánh khuấy.
    Đồng thời với quá trình bảo dưỡng giàn lạnh xương cá cần tiến hành kiểm tra, lọc nước bên trong bể. Nếu quá bẫn có thể xả bỏ để thay nước mới. Trong quá trình làm việc, nước có thể chảy tràn từ các khuôn đá ra bể làm giảm nống độ muối, nếu nồng độ nước muối không đảm bảo cần bổ dung thêm muối.
    +Bảo dưỡng bình bay hơi
    Bình bay hơi ít xả ra hỏng hóc, ngoại trừ tình trạng tích tụ dầu bên trong bình. Vì vậy đối với bình bay hơi cần lưu ý thường xuyên xả dầu tồn động bên trong bình. Trường hợp sử dụng làm lạnh nước, có thể xảy ra tình trạng bám bẩn bên trong theo hướng đường nước, do đó cũng cần phải vệ sinh, xả cặn trong trường hợp đó.
    +Bảo dưỡng tháp giải nhiệt
    Nhiệm vụ của tháp giải nhiệt trong hệ thống lạnh là làm nguội nước giải nhiệt từ bình ngưng. Vệ sinh bảo dưỡng tháp giải nhiệt nhằm nâng cao hiệu quả giải nhiệt bình ngưng.
    Quá trình bảo dưỡng bao gồm các công việc chủ yếu sau:
    - Kiểm tra hoạt động của cánh quạt, môtơ, bơm, dây đai, trục ria phân phối nước.
    - Định kỳ vệ sinh lưới nhựa tản nước.
    - Xả cặn bẫn ở đáy tháp, vệ sinh, thay nước mới.
    - Kiểm tra dòng hoạt động của môtơ bơm, quạt, tình trạng làm việc của van phao. Bảo dưỡng bơm quạt giải nhiệt.
    +Bảo dưỡng bơm
    Bơm trong hệ thống lạnh gồm :
    - Bơm nước giải nhiệt, bơm nước xả băng và bơm nước lạnh.
    - Bơm glycol và các chất tải lạnh khác.
    - Bơm môi chất lạnh.
    Tất cả các bơm này dù sử dụng bơm các tác nhân khác nhau nhưng về nguyên lý và cấu tạo lại hoàn toàn tương tự. Vì vậy quy trình bảo dưỡng của chúng cũng tương tự nhau, cụ thể là:
    - Kiểm tra tình trạng làm việc, bạc trục, đệm kín nước, xả air cho bơm kiểm tra khớp nối truyền động. Bôi trơn bạc trục .
    - Kiểm tra áp suất trước sau bơm đảm bảo bộ lọc không bị tắc.
    - Hoán đổi chức năng của các bơm dự phòng.
    - Kiểm tra hiệu chỉnh hoặc thay thế dây đai (nếu có).
    - Kiểm tra dòng điện và so sánh với bình thường.
    +Bảo dưỡng quạt.
    - Kiểm tra độ ồn , rung động bất thường .
    - Kiểm tra độ căng dây đai, hiệu chỉnh và thay thế.
    - Kiểm tra bạc trục, vô dầu mỡ.
    - Vệ sinh cánh quạt, trong trường hợp cánh quạt chạy không êm cần tiến hành sửa chữa để cân bằng động tốt nhất.
    CHƯƠNG III. QUY TRÌNH THÁO,ĐO ĐẠC, KIỂM TRA,BẢO DƯỠNG 1 Qui trình chẩn đoán ban hệ thống điều hòa nhiệt độ.

    Hình 1.78. Qui trình chẩn đoán pan hệ thống điều hòa nhiệt độ
    1.1 Xác định triệu chứng
    Để định dạng hư hỏng và kiểm tra các triệu chứng người thợ cần kiểm tra kỹ lưỡng các triệu chứng và tình trạng khí nó xảy ra. Nừu triệu chứng xảy ra không liên tục, cần hỏi về những điều kiện khi nó xảy ra,

    Hình 1.79. Phương pháp xác định triệu chứng pan
    hệ thống điều hòa nhiệt độ.

    1.2 Kiểm tra sơ bộ
    - Kiểm tra bảng điều khiển

    Hình 1.80. Phương pháp kiểm tra bảng điều khiển
    Cho các cần gạt và công tắc trên bảng điều khiển hoạt động .
    Kiểm tra sự chuyển động nhẹ nhàng của các cửa.
    Kiểm tra độ tin cậy hoạt động của các chức năng điều hoà không khí ô tô
    Đặc biệt kiểm tra một cách kỹ lưỡng tốc độ không tải so với giá trị tiêu chuẩn.
    Các giá trị tiêu chuẩn tìm thấy trong sổ tay bảo trì xe.
    - Kiểm tra sức căng dây curoa (dây đai)

    Hình 1.81 . Phương pháp kiểm tra dây curoa.
    + Kiểm tra vết nứt và mức hư hỏng của dây curoa .
    + Kiểm tra sức căng dây curoa cả khi căng đúng.
    + Sử dụng thiết bị đo căng dây curoa để kiểm tra.
    Kiểm tra chất lượng lãnh chất bằng cách qua sát trên mắt ga

    Hình 1.82. Phương pháp kiểm tra lãnh chất.
    + Lượng lãnh chất nạp vào có thể dễ dàng kiểm tra bằng cách sử dụng mắt ga.
    +Sự quan sát trên mắt ga bị ảnh hưởng nhỏ bởi nhiệt độ bên ngoài.
    +Lượng lãnh chất là đúng khi không thấy bọt và lãnh chất trở nên trong khi tốc dộ động cơ tăng lên.


    Hình1.83. Hình dạng của mắt gas
    - Kiểm tra rò rỉ tại các ống nối

    Hình 1.84. Vị trí kiểm tra rò rỉ
    + Nếu vếch đầu xuất hiện tại khớp nối ống thì lãnh chất có thẻ bị rò rỉ .
    + Hãy làm sạch vết dầu và tiến hành kiểm tra rò rỉ.
    1.3. Kiểm tra hệ thống lạnh
    a. Đồng hồ đo áp suất dùng để kiểm tra hệ thống lạnh
    - Đồng hồ đo áp suất dùng để kiểm tra áp suất trong hệ thống lạnh khi hút chân không hay nạp gas. Khi ta vặn van LO và HI trên phía trước của đồng hồ sẽ mở và đóng van áp suất thấp và áp suất cao.
    - Cấu tạo của đồng hồ đo áp suất như hình vẽ bên dưới


    Hình 1.85. Đồng hồ đo áp suất dùng để kiểm tra hệ thống lạnh

    +. Xả khí
    Trạng thái van dùng để xả khí:
    Van áp suất thấp: đóng
    Van áp suất cao: đóng
    Đường ống nạp được nối vào hệ thống lạnh.
    Khi mở và đóng van LO và HI, khí được xả ra từ đường ống A và C.


    Hình 1.86. Trạng thái van dùng để xả khí
    +. Nạp lãnh chất hoặc thu hồi ga ở phía áp thấp
    Trạng thái van dùng để nạp lãnh chất hoặc thu hồi ga ở phía áp thấp như sau:
    Van áp suất thấp: mở
    Van áp suất cao: đóng

    Hình 1.87. Trạng thái van dùng để nạp lãnh chất
    và thu hồi gas ở phía áp thấp
    +.Nạp lãnh chất và thu hồi ga ở phía áp cao khi động cơ không hoạt động
    Trạng thái van dùng để nạp lãnh chất và thu hồi ga ở phía áp cao khi động cơ không hoạt động:
    Van áp suất thấp: đóng
    Van áp suất cao: mở
    Chú ý: Không được mở van HI khi máy nén đang hoạt động

    Hình 1.88. Trạng thái van dùng để nạp lãnh chất
    và thu hồi gas ở phía áp cao
    +. Hút chân không trong hệ thống, hay thu hồi và tái tạo lãnh chất
    Trạng thái van dùng để hút chân không trong hệ thống, hay thu hồi và tái tạo lãnh chất:
    Van áp suất thấp: mở
    Van áp suất cao: mở

    Hình 1.89. Trạng thái van dùng để hút chân không trong hệ thống,
    hay thu hồi và tái tạo lãnh chất
    b. Chẩn đoán tình trạng kỹ thuật của hệ thống lạnh bằng đồng hồ đo áp suất
    +. Điều kiện đo
    - Cửa: mở
    - Công tắc dòng khí vào: để ở vị trí gió trong
    - Tốc độ động cơ: 1500 v/ph.
    - Nhiệt độ vào A/C : 25 - 35OC
    - Tốc độ quạt gió: ở mức HI.
    - Cài đặt nhiệt độ: ở vị trí lạnh nhất.
    +. Nếu hệ thống lạnh làm việc bình thường thì các đồng hồ hiển thị như sau:
    - Đồng hồ áp thấp: P = 0.15 – 0.25 Mpa(1.5 tới 2.5kgf/cm2)
    - Đồng hồ áp cao: P = 1.6 – 1.8 Mpa(16.3 tới 18.4kgf/cm2)

    Hình 1.90. Giá trị đồng hồ báo khi hệ thống lạnh làm việc bình thường
    +. Hệ thống lạnh không đủ lãnh chất (thiếu gas)
    Nếu hệ thống lạnh không đủ lãnh chất (thiếu gas) thì giá trị báo trên các đồng hồ áp suất thấp và cao đều thấp hơn bình thường
    * Triệu chứng:
    áp suất thấp ở cả hai vùng
    Có bọt ở mắt gas.
    Lạnh yếu.
    * Nguyên nhân:
    Thiếu lãnh chất
    Rò rỉ gas
    * Biện pháp khắc phục:
    Kiểm tra sửa chữa rò rỉ gas.
    Nạp thêm gas.

    Hình 1.91. Giá trị đồng hồ báo khi hệ thống lạnh thiếu gas

    +. Hệ thống lạnh thừa gas hay giải nhiệt giàn nóng kém

    Hình 1.92. Giá trị đồng hồ báo khi hệ thống lạnh thừa gas
    hay giải nhiệt kém
    Nếu hệ thống lạnh thừa gas hay giải nhiệt giàn nóng kém thì giá trị báo trên các đồng hồ, triệu chứng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục được trình bày như sau
    * Triệu chứng:
    áp suất cao ở cả hai vùng
    Không có bọt ở mắt gas.
    Lạnh yếu.
    * Nguyên nhân:
    Thừa lãnh chất
    Giải nhiệt giàn nónh kém
    * Biện pháp khắc phục:
    Kiểm tra, sửa chữa hệ thống làm mát (quạt giải nhiệt).
    Vệ sinh giàn nóng
    Điều chỉnh đúnh lượng gas.
    +. Có hơi ẩm trong hệ thống lạnh
    Nếu có hơi ẩm trong hệ thống lạnh thì giá trị báo trên các đồng hồ, triệu chứng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục được trình bày như sau
    * Triệu chứng:
    Khi mới bật máy lạnh hệ thống hoạt động bình thường. Sau một thời gian, phía áp thấp giảm tới áp suất chân không, tính năng làm lạnh
    giảm.
    * Nguyên nhân:
    Không lọc được ẩm.
    * Biện pháp khắc phục:
    Thay bình chứa hoặc lọc gas.
    Hút chân không triệt để trước khi lọc gas.

    Hình 1.93. Giá trị đồng hồ báo khi hệ thống lạnh có hơi ẩm
    +. Máy nén của hệ thống lạnh làm việc yếu
    Nếu máy nén của hệ thống lạnh làm việc yếu thì giá trị báo trên các đồng hồ, triệu chứng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục được trình bày như sau
    * Triệu chứng:
    - áp suất phía áp thấp: cao hơn bình thường
    - áp suất phía áp cao: thấp hơn bình thường
    - Khi tắt máy lạnh thì áp suất phía áp thấp và phía áp cao bằng nhau ngay lập tức.
    - Khi sờ thân máy nén không thấy nóng
    - Không đủ lạnh
    * Nguyên nhân:
    Máy nén bị hư.
    * Biện pháp khắc phục:
    Kiểm tra sửa chữa máy nén.



    Hình 1.94. Giá trị đồng hồ báo khi máy nén
    của hệ thống lạnh làm việc yếu

    +. Hệ thống lạnh bị tắc nghẽn
    Nếu hệ thống lạnh bị tắc nghẽn thì giá trị báo trên các đồng hồ, triệu chứng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục được trình bày như sau
    * Triệu chứng:
    - áp suất phía áp thấp: rất thấp (bằng áp suất chân không)
    - Không thể làm lạnh.
    * Nguyên nhân:
    - Gas bị bẩn.
    - Gas bị ẩm, đóng băng thành khối tại van tiết lưu, EPR và các lỗ làm ngăn dòng lãnh chất.
    - Rò rỉ gas trong đầu cảm ứng nhiệt.
    * Biện pháp khắc phục:
    - Kiểm tra, sửa chữa bộ phân bị nghẹt.
    - Hút hết chân không trong hệ thống.

    Hình 1.95. Giá trị đồng hồ báo khi hệ thống lạnh bị tắt nghẽn
    +. Hệ thống lạnh bị lọt không khí
    Nếu hệ thống lạnh bị lọt không khí vào thì giá trị báo trên các đồng hồ, triệu chứng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục được trình bày như sau
    * Triệu chứng
    - Giá trị áp suất ở cả hai vùng áp cao và áp thấp đều cao.
    - Tính năng làm lạnh giảm
    - Nếu gas đủ, có sự sủi bọt tại mắt gas giống như lúc hoạt động bình thường.
    * Nguyên nhân
    - Khí xâm nhập
    * Biện pháp khắc phục
    - Thay lãnh chất
    - Hút chân không.

    Hình 1.96. Giá trị đồng hồ báo khi hệ thống lạnh bị bọt khí
    +. Van tiết lưu mở quá lớn
    * Triệu chứng
    - áp suất ở vùng áp thấp tăng
    - Tính năng làm lạnh giảm
    -Tuyết bám trên ống áp suất thấp.
    * Nguyên nhân
    - Hư van tiết lưu
    * Biện pháp khắc phục
    - Kiểm tra, sửa chữa đầu cảm ứng nhiệt.

    Hình 1.97. Giá trị đồng hồ báo khi van tiết lưu
    của hệ thống lạnh mở quá lớn


    2. Phần Bảo Dưỡng
    2.1 Bảo dưỡng máy nén
    - Việc bảo dưỡng máy nén là cực kỳ quan trọng đảm bảo cho hệ thống hoạt động được tốt, bền , hiệu suất làm việc cao nhất ,đặc biệt đối với các máy có công suất lớn.
    - Máy lạnh dễ xẩy ra sự cố ở trong 3 thời kỳ:Thời kỳ ban đầu khi mới chạy thử và thời kỳ khi đã xảy ra các hao mòn ccas chi tiết máy.
    a, Cứ sau 6.000 giờ thì phải đại tu máy một lần.Dù máy ít chạy thì 01 năm cũng phải đại tu 01 lần.
    b, Các máy dừng lâu ngày , trức khi chạy lại phải tiến hành kiểm tra.
    + Công tác đại tu và kiểm tra bao gồm:
    – Kiểm tra dộ kín và tình trạng của van xả van hút máy nén .
    - Kiểm tra bên trong máy nén , tình trạng dầu , các chi tiết máy có bị hen rỉ ,lau chùi các chi tiết. Trong các kỳ đại tu càn phải tháo các chi tiết , lau chùi và thay dầu mỡ.
    – Kiểm tra dầu bên trong cacte qua các cửa quan sát dầu . Nếu thấy bọt kim loại màu vang, cặn bẩn thì phải kiểm tra nguyên nhân do bẩn trên đường hút , do mài mòn các chi tiết máy .
    – Kiểm tra mức độ mài mòn của các thiết bị như trục khuỷu, các đệm kín , vòng bạc , pittong, vòng gioăng ,thanh truyền..vv.. so với kích thước tiêu chuẩn .Mỗi chi tiết yêu cầu độ mòn tối đa khác nhau .Khi độ mòn vượt quá mức cho phép thì phải thay thế cái mới .
    – Thử tác động của các thiết bị điều khiển HP,OP,WP,LP và các bộ phận cấp dầu.
    – Lau chùi vệ sinh bộ lọc hút máy nén .
    Đối với các loại máy nén lạnh các bộ lọc bao gồm :Lọc hút máy nén ,bộ lọc dầu kiểu đĩa và bộ lọc tinh.
    Đối với bộ lọc hút : Kiểm tra xem lưới có bị tắc , bị rách hay không .Sau đó sử dụng các hoá chất chuyên dụng để lau rửa lưới lọc.
    Đối với bộ lọc tin cần kiểm tra bộ lọc có xoay nhẹ nhàng không . Nếu cặn bẩn bám giữa các miếng gạt thì sử dụng miếng thép mỏng như dao để gạt cặn bẩn. Sau đó chùi sạch bên trong .Sau khi lau chùi xong thổi hơi nén từ trong ra ngoài để làm sạch bộ lọc .
    – Kiểm tra hệ thống nước giải nhiệt.
    - Vệ sinh bên trong mô tơ :Trong quá trình làm việc không khí được hút vào giải nhiệt cuộn dây mô tơ và cuốn theo bụi khá nhiều ,bụi đó lâu ngày tích tụ trở thành lớp cách nhiệt ảnh hưởng giải nhiệt cuộn dây.
    Bảo dưỡng định kỳ : Theo quy định cứ sau 72 đến 100 giờ làm việc đầu tiên phải tiến hành thay dầu máy nén .Trong 5 lần đầu tiên phải tiến hành thay dầu hoàn toàn ,bằng cách mở nắp bên tháo sạch dầu,dùng giẻ sạch thấm hết dầu bên trong cắc te, vệ sinh sạch sẽ và châm dầu mwosi vào với số lượng đầy đủ .
    Kiểm tra dự phòng : Cứ sau 3 tháng phải mở và kiểm tra các chi tiết qua trọng của máy như : Xilanh, piston, tay quay thanh truyền, clắppe,nắp bít vv..
    Phá cặn áo nước làm mát : Nếu trên áo nước làm mát bị đóng cáu cặn nhiều thì phải tiến hành xả bỏ cặn bằng cách dùng hỗn hợp axit clohidric 25% ngâm 8÷ 12 giờ sau đó rửa sạch bằng dung dich NaOH 10÷ 15% và rửa sạch băng nước sạch.
    Tiến hành cân chỉnh và căng lại dây đai và mô tơ khi tháy lỏng.Công việc này tiến hành kiểm tra hang tuần.
    2.2 Bảo dưỡng thiết bị ngưng tụ .
    Tình trạng làm việc của thiế bị ngưng tụ ảnh hưởng nhiều đến hiệu suất làm việc của hệ thống , độ an toàn , độ bền của các thiết bị .
    Bảo dưỡng thiết bị ngưng tụ bao gồm các công việc chính sau đây:
    Vệ sinh bề mặt trao đổi nhiệt.
    Xả dầu tích bên trong thiết bị.
    Bảo dưỡng cân chỉnh bơm quạt giải nhiệt.
    Xả khí ngưng ở thiết bị ngưng tụ.
    Vệ sinh bể nước ,xả cặn.
    Kiểm tra thay thế các vòi phun nước ,các tấm chắn nước (nếu có).
    Sơn sửa bên ngoài.
    Sửa chữa thay thế thiết bị điện , các thiết bị an toàn và van điều khiển liên quan.
    + Bảo dưỡng bình ngưng.
    Để vệ sinh bình ngưng có thể tiến hành bằng thủ công hoặc có thể dùng hoá chất để vệ sinh.
    Khi cáu bẩn bám vào bên trong thành lớp dày,bám chặt thì nên sử dụng hoá chất phá cặn bẩn.Rửa bằng dung dịch 〖NaCO〗_3ấm sau đó thổi khô bằng khí nén.
    Trong trường hợp cáu cặn dễ vệ sinh thì có thể tiến hành bằng phương pháp vệ sinh cơ học. Khi tiến hanhfveej sinh , phải tháo nắp bình ,dùng que thepscos quấn vải để lau chùi bên trong đường ống . Cần chú ý trong quá trình vệ sinh không đượclàm xây xước bên trong đường ống , các vết xước có thể làm cho đường ống hen rỉ hoặc tích tụ bẩn dễ hơn .
    Vệ sinh tháp giải nhiệt , thay nước mới.
    Xả dầu: Nói chung dầu ít khi tích tụ trong bình ngưng mà chảy theo đường lỏng về bình chứa nên thực tế thường không có.
    Định kỳ xả ari và cặn bẩn ở các nắp bình về phía đường nước giải nhiệt.
    Xả khí không ngưng trong bình ngưng:Khi áp suất trong bình khác với áp suất ngưng tụ của môi chấtở cùng nhiệt độ thì chứng tỏ trong bình có lọt khí không ngưng.Để xả khi không ngưng ta cho nước tuàn hoàn nhiều lần qua bình ngưng để ngưng tụ hết gas còn trong bình ngưng.Nếu hệ thống vó bình xả khí không ngưng thì nối thông bình ngưng với bình xả không ngưng sau đó tiến hành làm mát và xả khí không ngưng.Nếu không có thiết bị xả khí không ngưng thì có thể xả trực tiếp.
    Bảo dưỡng bơm giải nhiệt và quạt giải nhiệt của tháp giải nhiệt .Bảo dưỡng giàn ngưng tụ bay hơi
    Khi giàn ống trao đổi nhiệt của giàn ngưng bị bàm bẩn có thể lau chùi bằng giẻ hoặc dùng hoá chất như trường hợp bình ngưng.Công việc này cần tiến hành thường xuyên. Bề mặt câc ông trao đổi nhiệt thường xuyên tiếp xuc với nước và không khí nên tốc độ ăn mòn khá nhanh.Vì vậy thường các ống được nhũng kém nongskhi vệ sinh cẩn thận,không được gây xước ăn mòn cục bộ.
    Quá trình làm việc của giàn ngưng đã làm bay hơi một lượng nước lớn, cặn bẩn được tích tụ lại ở bể. Sau một thời gian ngắn nước ở trong bể sẽ bẩn.Nếu tiếp tục sử dụng các đấu phun sẽ bị tắc hoặc cặn bẩn bám trên bề mặt gìn trao đổi nhiệt làm giảm hiệu quả của chúng.Vì vậy phải thường xuyên xả cặn bẩn ở trong bể, công việc này được tiến hành tuỳ thuộc chât lượng nguồn nước.
    Vệ sinh và thay thế giàn phun:Kích thước các lỗ phun rất nhỏ nên rất dễ bị tắc bẩn ,đặc biệt khi chất lượng ngồn nước kém .Khi một số mũi phun bị tắc , một số vùng của giàn ngưng không được giải nhiệt làm giảm hiệu quả troa đổi rõ rệt . Vì vậy phải thường xuyên kiểm tra,vệ sinh và thay thế các vòi phun bị hư hỏng.
    Định kỳ cân chỉnh cánh quạt giàn ngưng đảm bảo cân bằng tốt nhất .
    Bảo dưỡng các bơm , mô tơ quạt , thay dầu mỡ.
    Kiểm tra thay thế tấm chắn nước ,nếu không quạt bị ẩm chóng hỏng.
    Giàn ngưng kiểu tưới .
    Đặc thù của giàn ngưng kiểu tưới là các giàn trao đổi nhiệu để trần trong môi trường kí nước thường xuyên nên để lại các loại rêu thường hay phát triển.Vì vậy giàn thường bị bám bẩn rất nhanh. Việc vệ sinh giàn trao đổi nhiệt tương đối dễ dàng. Trong trường hợp này dùng bản chải mềm để lau chùi cặn bẩn.
    Nguồn nước sử dụng ,có chất lượng không cao nên thường xuyên xả cặn bẩn bể nước.
    Xả dầu tồn đọng bên trong giàn ngưng.
    Bảo dưỡng bơm nước tuần hoàn , thay dầu mỡ.
    + Bảo dưỡng giàn ngưng tụ không khí .
    Vệ sinh giàn trao đổi nhiệt: Một số giàn trao đổi nhiệt có bộ lọc không khí băng nhựa hoặc sắt đặt phía trước. Trong trường hợp này có thể rút bộ lọc ra lau chùi bằng chổi hoặc sử dụng nước.
    Đối với dàn bình thường : Dùng chổi mềm quét sạch bụi bẫn bám trên các ống và cánh trao đổi nhiệt. Trong trường hợp bụi bẫn bám nhiều và sâu bên trong có thể dùng khí nén hoặc nước phun mạnh vào để rửa.
    Cân chỉnh cánh quạt và bảo dưỡng mô tơ quạt
    Tiến hành xả dầu trong dàn ngưng.
    2.3 Bảo dưỡng thiết bị bay hơi.
    + Bảo dưỡng giàn bay hơi không khí
    - Xả băng giàn lạnh : Khi băng bám trên giàn lạnh nhiều sẽ làm tăng nhiệt trở của giàn lạnh, dòng không khí đi qua giàn bị tắc, giảm lưu lượng gió, trong một số trường hợp làm tắc các cánh quạt, mô tơ không thể quay làm cháy mô tơ.
    Vì vậy phải thường xuyên cả băng giàn lạnh.
    Trong 01 ngày tối thiểu xả 02 lần. Trong nhiều hệ thống có thể quan sát dòng điện quạt giàn lạnh để tiến hành xả băng. Nói chung khi băng bám
    nhiều, dòng không khí bị thu hẹp dòng làm tăng trở lực kéo theo dòng
    điện của quạt tăng. Theo dỏi dòng điện quạt dàn lạnh có thể biết chừng
    nào xả băng là hợp lý nhất.
    Quá trình xả băng chia ra làm 3 giai đoạn :
    + Giai đoạn 1 : Hút hết gas trong giàn lạnh
    + Giai đoạn 2 : Xả băng giàn lạnh
    + Giai đoạn 3 : Làm khô giàn lạnh
    - Bảo dưỡng quạt dàn lạnh.
    - Vệ sinh giàn trao đổi nhiệt, muốn vậy cần ngừng hệ thống hoàn toàn, để khô giàn lạnh và dùng chổi quét sạch. Nếu không được cần phải rửa bằng nước, hệ thống có xả nước ngưng bằng nuớc có thể dùng để vệ sinh giàn.
    - Xả dầu giàn lạnh về bình thu hồi dầu hoặc xả trực tiếp ra ngoài.
    - Vệ sinh máng thoát nước giàn lạnh.
    - Kiểm tra bảo dưỡng các thiết bị đo lường, điều khiển.
    +Bảo dưỡng giàn lạnh xương cá
    Đối với giàn lạnh xương cá khả năng bám bẫn ít vì thường xuyên ngập
    trong nước muối. Các công việc liên quan tới giàn lạnh xương cá bao gồm:
    - Định kỳ xả dầu tích tụ trong giàn lạnh. Do dung tích giàn lạnh xương cá rất lớn nên khả năng tích tụ ở giàn rất nhiều dầu. Khi dầu tích ở giàn lạnh xương cá hiệu quả trao đổi nhiệt giảm, quá trình tuần hoàn môi chất bị ảnh hưởng và đặc biệt làm máy thiếu dầu nghiêm trọng ảnh hưởng nhiều tới chế độ bôi trơn.
    - Bảo dưỡng bộ cánh khuấy.
    Đồng thời với quá trình bảo dưỡng giàn lạnh xương cá cần tiến hành kiểm tra, lọc nước bên trong bể. Nếu quá bẫn có thể xả bỏ để thay nước mới. Trong quá trình làm việc, nước có thể chảy tràn từ các khuôn đá ra bể làm giảm nống độ muối, nếu nồng độ nước muối không đảm bảo cần bổ dung thêm muối.
    +Bảo dưỡng bình bay hơi
    Bình bay hơi ít xả ra hỏng hóc, ngoại trừ tình trạng tích tụ dầu bên trong bình. Vì vậy đối với bình bay hơi cần lưu ý thường xuyên xả dầu tồn động bên trong bình. Trường hợp sử dụng làm lạnh nước, có thể xảy ra tình trạng bám bẩn bên trong theo hướng đường nước, do đó cũng cần phải vệ sinh, xả cặn trong trường hợp đó.
    +Bảo dưỡng tháp giải nhiệt
    Nhiệm vụ của tháp giải nhiệt trong hệ thống lạnh là làm nguội nước giải nhiệt từ bình ngưng. Vệ sinh bảo dưỡng tháp giải nhiệt nhằm nâng cao hiệu quả giải nhiệt bình ngưng.
    Quá trình bảo dưỡng bao gồm các công việc chủ yếu sau:
    - Kiểm tra hoạt động của cánh quạt, môtơ, bơm, dây đai, trục ria phân phối nước.
    - Định kỳ vệ sinh lưới nhựa tản nước.
    - Xả cặn bẫn ở đáy tháp, vệ sinh, thay nước mới.
    - Kiểm tra dòng hoạt động của môtơ bơm, quạt, tình trạng làm việc của van phao. Bảo dưỡng bơm quạt giải nhiệt.
    +Bảo dưỡng bơm
    Bơm trong hệ thống lạnh gồm :
    - Bơm nước giải nhiệt, bơm nước xả băng và bơm nước lạnh.
    - Bơm glycol và các chất tải lạnh khác.
    - Bơm môi chất lạnh.
    Tất cả các bơm này dù sử dụng bơm các tác nhân khác nhau nhưng về nguyên lý và cấu tạo lại hoàn toàn tương tự. Vì vậy quy trình bảo dưỡng của chúng cũng tương tự nhau, cụ thể là:
    - Kiểm tra tình trạng làm việc, bạc trục, đệm kín nước, xả air cho bơm kiểm tra khớp nối truyền động. Bôi trơn bạc trục .
    - Kiểm tra áp suất trước sau bơm đảm bảo bộ lọc không bị tắc.
    - Hoán đổi chức năng của các bơm dự phòng.
    - Kiểm tra hiệu chỉnh hoặc thay thế dây đai (nếu có).
    - Kiểm tra dòng điện và so sánh với bình thường.
    +Bảo dưỡng quạt.
    - Kiểm tra độ ồn , rung động bất thường .
    - Kiểm tra độ căng dây đai, hiệu chỉnh và thay thế.
    - Kiểm tra bạc trục, vô dầu mỡ.
    - Vệ sinh cánh quạt, trong trường hợp cánh quạt chạy không êm cần tiến hành sửa chữa để cân bằng động tốt nhất.
     
    Đã được đổ xăng bởi kinhnguyenmau, sonlong123, thanhvu2 tài xế khác.
  2. tuantuantuan1988
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    7/6/14
    Số km:
    2
    Được đổ xăng:
    0
    Mã lực:
    0
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    220 lít xăng
    [MERGETIME="1402149649"][/MERGETIME]
    binh thuong qua
     
  3. camry_291089
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    28/11/10
    Số km:
    11
    Được đổ xăng:
    4
    Mã lực:
    1
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    282 lít xăng
    hay lắm
     
  4. hoanbugatti
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    4/4/13
    Số km:
    40
    Được đổ xăng:
    8
    Mã lực:
    26
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    334 lít xăng
    tiếc quá.thiếu hình anh.cám ơn bạnTuyet
     
  5. tungnguyen_tny9x
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    29/4/13
    Số km:
    213
    Được đổ xăng:
    125
    Mã lực:
    76
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    300 lít xăng
    Tài liệu của bác rất hay. Nếu có thêm phần hình ảnh nữa thì sẽ dễ hình dung hơn rất nhiều...
     
  6. buidinhduong
    Offline

    Bằng lái Hạng C
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    29/3/12
    Số km:
    988
    Được đổ xăng:
    1,437
    Mã lực:
    266
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    31,694 lít xăng
    Trong đây nếu đủ " xăng " cụ có thể load mỏi tay đồ án về điều hòa nhé cụ http://www.oto-hui.com/forum/trung-tam-du-lieu-oto.128.html?prefix_id=194 !
     

Chia sẻ trang này