Đang tải...

CLB Máy bay - Không quân Hàng không mẫu hạm - Aircraft carrier

Thảo luận trong 'Câu lạc bộ các ngành kỹ thuật' bắt đầu bởi vothanhtam19, 9/3/11.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. vothanhtam19
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    28/7/09
    Số km:
    1,936
    Được đổ xăng:
    88
    Mã lực:
    401
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    2,088 lít xăng
    Với chiều dài gần gấp 3 lần sân bóng đá, trọng tải lên tới hàng chục vạn tấn, có giá trị hàng tỷ USD... các tàu sân bay (hàng không mẫu hạm) thực sự là những người khổng lồ trên đại dương. Nó không chỉ là căn cứ không quân trên biển mà còn là phương tiện để các cường quốc như Mỹ, Anh phô trương uy lực của mình.



    Aircraft carrier đơn giản chỉ là một con tàu được trang bị thêm flight deck, ngoài ra còn co khu vực runaway, landing dành cho máy bay. Khái niệm về tàu sân bay đã tồn tại từ lâu, cùng thời với khái niệm airpalnes. Trong khoảng 10 năm sau chuyến bay của anh nhà Wright. Mỹ, Anh, và Đức đã thử nghiệm chuyến bay từ bệ phóng gắn trên tàu tuần dương. Với thí nghiệm trên chứng minh khả năng thành công cao và lực lượng hải quân đã tiến hành sửa chửa các loại tàu chiến hiện có phục vụ cho mục đích trên. Với loại tàu mới này cho phép lực lượng bộ binh có thế di chuyển trên những chiếc máy bay cự ly ngắn đi khắp thế giới.

    Aricraft carrier trong thế chiến I không đóng vai trò quan trọng. Nhưng trong thế chiến II aircraft carrier lại là trung tâm của những trận không chiến. VD: hải quân Nhật đã dùng aircraft carrier để tấn công Pearl Harbor năm 1941. Ngày nay hầu hết super aircraft carrier là trung tâm điều khiển quân sự. Khi một con tàu chính nó không đóng một vai trò quan trọng về vũ khí nhưng lại là sức mạnh về hàng không - nó có thể tạo sự khác nhau giữa chiến thắng và thất bại.

    Ngày nay, các hàng không mẫu hạm là thành phần chủ yếu trong các chiến dịch quân sự do quân đội Mỹ thực hiện. Aircraft carrier - được xem như là căn cứ di động khi một nước muốn gây sức ép tới nước khác - nó di chuyển thành từng nhóm (1 aircraft carrier có 6-8 tàu chiến bảo vệ). Carrier di chuyển với tốc độ hơn 35 knots (40 mph, 64 kph), với tốc độ này carrier có thế di chuyển nhanh đến bất kỳ đâu trên đại dương trong vòng vài tuấn. Hải quân Mỹ có 7 nhóm carrier đóng quân trên khắp thế giới, sẵn sàng di chuyển khi có lệnh. Mặc dù không được trang bị những loại vũ khí đặc biệt, khi thực hiện nhiệm vụ luôn cần một đội tàu hộ tống từ 5 đến 7 chiếc, nhưng sức mạnh của tàu sân bay với ưu thế về không lực có thể tạo ra sự khác biệt giữa chiến thắng và thất bại. Vì vậy không có gì lạ khi Mỹ muốn hăm doạ hoặc tấn công nước nào là hàng loạt các tàu sân bay được điều động tới hải phận của quốc gia đó.



    Cấu trúc vận hành

    Thân tàu được thiết kế bằng những lá thép siêu cứng có độ dày vài inch. Vỏ tàu có khả năng bảo vệ hiệu quả trước các cuộc tấn công và phá hoại. Phần vỏ tàu nằm dưới mặt nước thu nhỏ hơn so với phần nổi. Cấu trúc này giúp tăng cường bảo vệ trước các cuộc tấn công bằng ngư lôi hay tai nạn trên biển. Giống như các loại tàu thuỷ khác, tàu sân bay chuyển động bằng lực đẩy với các động cơ đẩy quay tròn. 4 cánh quạt của động cơ làm bằng đồng được nối với tuabin hoạt động bằng năng lượng hạt nhân. Một tàu sân bay mang hai lò phản ứng hạt nhân đặt tại khu vực giữa tàu và được bảo vệ nghiêm ngặt. Năng lượng được giải phóng sẽ tạo ra áp suất cao nhằm quay cánh quạt trong tuabin và tạo ra lực đẩy làm tàu chuyển động. Thông thường công suất của động cơ trên tàu sân bay đạt tới 280000 sức ngựa, đạt vận tốc gần 70km/h.



    Cất và hạ cánh trên tàu sân bay

    Khu vực boong (Flight-deck) trên tàu sân bay là một môi trường làm việc nguy hiểm và cũng nhộn nhịp nhất. Flight-deck cũng giống như một đường băng trên mặt đất, nhưng thực tế nó rất khác do bị bó buộc trong không gian nhỏ hơn. Để cất cánh, máy bay phải tạo ra một luồng không khí chuyển động trên cánh để tạo ra lực nâng. Để máy bay cất cánh dễ dàng, tàu sân bay có thể hỗ trợ lực đẩy không khí trên mặt đường băng theo hướng máy bay cất cánh. Nó làm giảm tốc độ cất cánh tối thiểu của máy bay. Việc tạo luồng không khí do một thiết bị được gọi là máy phóng (Catapult) tạo ra. Trung bình tàu sân bay thường có 4 máy phóng, giúp cho máy bay tăng tốc cực nhanh trong khoảng cách ngắn. Hệ thống máy phóng có thể đẩy một máy bay trọng lượng hơn 20 tấn lên tốc độ 266km/h trong vòng 2 giây. Nếu mọi chuyện đều ổn, tốc độ của máy bay sẽ đủ để tạo ra lực nâng và máy bay sẽ cất cánh. Ngược lại, phi công sẽ phải kích hoạt hệ thống đẩy ghế lái (Ejector Seat) bật ra khỏi máy bay và nhảy dù trước khi máy bay rơi xuống biển.


    Cất cánh đã phức tạp như vậy nhưng hạ cánh còn nguy hiểm hơn nhiều. Đây được coi là việc khó nhất mà các phi công phải thực hiện với đường băng trên tàu chỉ dài khoảng 150m, quá ngắn cho việc hạ cánh thông thường. Để hạ cánh mỗi máy bay cần phải có một chiếc móc (taihook) ở phía đuôi. Phi công cần làm sao cho Taihook vướng vào 1 trong 4 đoạn cáp hãm (Arresting wire) cực chắc được tạo từ thép siêu bền. Các đoạn cáp hãm được căng ngang boong và được gắn vào hai đầu của một xilanh sử dụng áp lực nước nằmg phía dưới. Nếu chiếc móc của máy bay vướng vào một trong những đoạn cáp hãm, nó sẽ làm căng dây cáp và hệ thống xilanh sẽ sinh ra năng lượng làm máy bay dừng lại. Hệ thống cáp hãm có khả năng hãm một máy bay nặng 24,5 tấn với tốc độ 241km/h chỉ trong vòng 2 giây. Khi chuẩn bị hạ cánh, phi công cần tiếp cận mặt boong chính xác từ góc phải. Các thao tác hạ cánh bắt đầu khi máy bay lượn theo hình ô van quanh tàu. Khi nhận lệnh cho cho phép hạ cánh, phi công cho máy bay tiếp cận mặt boong và đẩy động cơ tới mức tối đa, thay vì đưa về mức thấp để hãm máy bay lại. Điều này có vẻ vô lý nhưng nếu chiếc móc không không vướng vào bất cứ đoạn cáp nào thì máy bay vẫn đủ tốc độ để cất cánh lại, tiếp tục bay và tìm cách hạ cánh sau.


    [​IMG]


    Trong Thế chiến thứ hai, máy bay phải hạ cánh trên một đường băng song song với trục dài của thân tàu. Máy bay nào đã đỗ trên sàn được cho đỗ ở mũi tàu, chỗ cuối đường băng. Một thanh ngăn va chạm được dựng lên phía sau chúng để ngăn máy bay đang hạ cánh khỏi lao vào khu vực đố bởi vì móc giữ của nó móc trượt vào các dây giảm tốc. Nếu điều này xảy ra, thường gây ra thiệt hại nghiêm trọng, thương vong hay thậm chí, nếu thanh chắn không đủ chắc, còn phá hủy các máy bay đã đỗ.

    Một phát triển quan trọng trong thập niên 1940 khi Anh phát minh ra đường băng chéo, nơi đường băng được đặt chéo vài độ so với trục thân tàu. Nếu một máy bay không móc được cáp giảm tốc, phi công chỉ cần tăng sức động cơ lên tối đa rồi lại cất cánh lại và sẽ không đâm phải các máy bay đã đỗ bởi vì đường băng chéo góc hướng ra ngoài biển.

    Trung tâm chỉ huy ( The Island)



    The island là trung tâm chỉ huy của tàu sân bay, cao 150feet (46m), nhưng chỉ có 6m dùng làm căn cứ chỉ huy, island không chiếm quá nhiều khoảng không của flight deck. Trên đỉnh island là dãy rada và antennas thông tin liên lạc giữa tàu và máy bay, chặn đứng và vô hiệu antennas của đối phương, vô hiệu tên lửa địch, điều khiển vệ tinh, antennas TV … Tầng dưới là trung tâm chỉ huy chính Frimary Flight Control (Pri_fly) – nơi chỉ huy và trợ lí làm việc (hay còn gọi là “Air Boss” và “Mini Boss”) điều khiển và chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động của máy bay trên flight deck và trong bán kính 5-8km.

    Khoang chứa máy ( The Hangar)

    Boong tàu chỉ có khả năng đáp ứng chỗ đỗ cho một số lượng nhỏ máy bay trong khi mỗi tầu sân bay thông thường có 80-100 máy bay. Khi không sử dụng, hầu hết các máy bay được cất giữ an toàn trong khoang chứa máy bay (Hangbar Bay) vốn được coi như một garage của tàu sân bay. Khoang chứa máy bay nằm ở lớp boong thứ hai, có kích thước rộng khoảng 34m, khoảng 209m và cao khoảng 8m, bằng 2/3 kích thước lòng tàu, có thể chứa khoảng 60 máy bay và các thiết bị khác. Xung quanh có bốn hệ thống thang máy khổng lồ có khả năng nâng mỗi lần hai máy bay nặng khoảng 34 tấn với tốc độ nhanh. Phía cuối là nơi bảo dưỡng, sửa chữa và thay thế các hỏng hóc cho máy bay.


    Cuộc sống trên tàu sân bay

    Các tàu sân bay hiện đại đủ rộng để có thể ví như một “thành phố trên biển”. Tàu có khả năng đáp ứng từ 5.000 đến 6.000 người làm việc, nghỉ ngơi, sinh hoạt trên tàu trong 4 tháng. Tuy nhiên, điều kiện sinh hoạt trên tàu bị bó buộc hơn nhiều. Để di chuyển đến một chỗ nào đó, người ta phải vừa đi vừa giữ thăng bằng trên những hành lang hẹp. Chỗ nghỉ ngơi là những chiếc giường tầng chật chội. Công việc trên tàu cũng đa dạng như trên đất liền. khoảng 2.500 con người chuyên phục vụ các máy bay, khoảng 3.000 người khác phục vụ cho tàu bao gồm điều khiển tàu, chuẩn bị bữa ăn, dọn dẹp, vận hành lò phản ứng hạt nhân…

    Trên tàu có đủ mọi thứ phục vụ nhu cầu cuộc sống của con người tuy không được tiện lợi lắm. Hệ thống bếp và nhà ăn công cộng có thể phục vụ 18.000 suất ăn mỗi ngày. Ngoài ra, còn có các dịch vụ giặt là, y tế, ngân hàng, viễn thông…Và một nhà máy lọc nước có khả năng khử độ mặn của nước biển có thể cung cấp 1,5 triệu lít nước ngọt mỗi ngày, đủ đap ứng cho khoảng 2.000 hộ gia đình sử dụng.

    Các quốc gia sở hữu tàu sân bay

    Chín nước có sở hữu các hàng không mẫu hạm là: Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Brasil, Ý, Ấn Độ và Thái Lan. Hơn nữa Quân đội giải phóng nhân dân của Trung Quốc sở hữu chiếc hàng không mẫu hạm cũ của Liên Xô: chiếc Varyag, nhưng đa số các nhà phân tích hải quân tin rằng họ không có ý định đưa nó vào sử dụng, mà chỉ sử dụng chiếc Varyag để học cách sử dụng các hàng không mẫu hạm Trung Quốc trong tương lai. Canada, Trung Quốc, Nhật Bản, Pakistan, Úc, Chile, New Zealand và Singapore cũng đang sở hữu các tàu mang máy bay trực thăng.

    Thông thường các hàng không mẫu hạm được hộ tống theo bởi nhiều tàu khác, để bảo vệ chiếc tàu to lớn đó, để cung cấp hậu cần, và để tăng khả năng tấn công. Những nhóm này thường được gọi bằng thuật ngữ nhóm chiến đấu hay nhóm hàng không mẫu hạm, thỉnh thoảng là một nhóm hàng không mẫu hạm chiến đấu.\
    nguồn : suu tầm
     

Chia sẻ trang này