Đang tải...

Lịch sử của vô-lăng xe hơi

Thảo luận trong 'Hội chơi xe' bắt đầu bởi autovn, 24/5/10.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. autovn
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    29/7/09
    Số km:
    979
    Được đổ xăng:
    91
    Mã lực:
    201
    Xăng dự trữ:
    499 lít xăng
    Vô-lăng là thành phần ít được chú ý nhất nhưng lại có vai trò không thể thiếu trong xe hơi. Hãy cùng tìm hiểu lịch sử phát triển của chiếc vô-lăng.
    Vô-lăng xe hơi là một trong những bộ phận ít được quan tâm nhất khi mua xe. Khi chọn mua một chiếc xe hơi mới, bạn sẽ hỏi người bán về động cơ, mức tiêu thụ nhiên liệu, trang thiết bị điện tử, nội thất… chứ rất ít khi hỏi về chiếc vô-lăng.
    Tuy nhiên, đây lại là một thành phần không thể thiếu được và có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của một chiếc xe. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu lịch sử phát triển của chiếc vô-lăng xe hơi.
    Nhiều người nghĩ rằng chiếc vô-lăng được ra đời cùng lúc với phát minh về xe hơi. Sự thực là phát minh về vô-lăng ra đời sau phát minh về xe hơi. Sau này, nhờ hình dạng thích hợp một cách hoàn hảo cho nhiệm vụ chỉnh hướng xe, vô-lăng xe hơi tồn tại đến ngày nay.
    Sự hình thành
    Quay trở về đầu thế kỷ 19, khi ý tưởng về những chiếc xe hơi mới chỉ nhen nhóm trong đầu những nhà phát minh, chỉ có một phương tiện cơ khí di chuyển được có khả năng chỉnh hướng là thuyền.
    Tàu hỏa thì không thể chỉnh hướng được, chỉ có thể đi theo tuyến cố định. Khi đó, điều hướng một chiếc xe ngựa chỉ là kéo dây cương sang trái hoặc phải theo ý muốn, chẳng cần đến một công cụ cơ khí nào cả.
    Chính vì thế, chỉ có một nguồn cảm hứng cho các nhà phát minh xe hơi về vấn đề điều hướng là những chiếc thuyền. Tàu thuyền chuyển hướng nhờ các bánh lái, được con người điều khiển thông qua cần lái thuyền dạng thanh.
    Cho đến năm 1894, việc ứng dụng cần lái thuyền để điều khiển xe hơi ngày càng trở nên không hiệu quả. Lấy cảm hứng từ ngành hàng hải, các nhà chế tạo xe hơi bắt đầu thay thế các cần lái bằng các tay lái có dạng hình tròn như tay lái thuyền nhưng nhỏ hơn. Và vô-lăng xe hơi ra đời.
    Được thiết kế nhỏ và đơn giản hơn nguyên mẫu trên tàu thuyền, vô-lăng xe hơi đặt dấu ấn trong cuộc đua Paris – Rouen khi tay đua Alfred Vacheron điều khiển mẫu xe Panhard sử dụng vô-lăng về đích đầu tiên.
    Sự dễ dàng và thuận tiện trong hoạt động của vô-lăng được chứng tỏ rõ ràng trong cuộc đua này đã mang tới những bước tiến trong ứng dụng vô-lăng. Năm 1898, dòng xe Panhard et Levassor ra đời với vô-lăng là một trong các trang thiết bị tiêu chuẩn.
    Nguyên lý hoạt động của hệ thống vô-lăng nhanh chóng được các nhà chế tạo xe hơi khắp thế giới học hỏi và ứng dụng. Tại Anh, Charles Stewart Rolls mua một chiếc Panhard từ Pháp và đưa vô-lăng vào các thiết kế xe hơi của ông.
    Cho tới năm 1899, cơn sốt vô-lăng đã tràn khắp nước Mỹ. Packard giới thiệu hệ thống vô-lăng trên một những mẫu xe của hãng này. Cho tới khi chiếc Ford Model T nổi tiếng ra đời, chiếc vô-lăng đã trở thành một trong những thành phần thiết yếu của xe hơi.
    Từ đó tới nay, chiếc vô-lăng vẫn giữ hình dạng phổ biến nhất là hình tròn trong suốt hơn một thế kỷ. Sự thay đổi chỉ ở những tính năng. Những chiếc vô-lăng của thế kỷ 21 trở thành trung tâm điều khiển của chiếc xe.
    Hệ thống trợ lực
    Trong nhiều thập kỷ, vô-lăng vẫn chỉ là một vòng tròn bằng gỗ gắn bên trong xe để người lái xe điều chỉnh hướng di chuyển.
    Với cơ cấu hoạt động đơn giản, việc lái xe quả là một công việc nặng nhọc. Tuy chỉ là quay vô-lăng sang trái hoặc phải nhưng các bánh xe dường như luôn chống lại lệnh do ma sát, đặc biệt là khi xe đang dừng.
    Do đó, nhiều kỹ sư đã nghiên cứu để cố gắng chế tạo một hệ thống trợ lực vô-lăng. G.W. Fitts đã được nhận một bằng sáng chế cho hệ thống trợ lực cơ khí vào năm 1876 và một bắng sáng chế khác cho hệ thống trợ lực chân không vào năm 1904.
    Năm 1902, Frederick W. Lanchester đã đăng ký sáng chế cho thiết kế hệ thống trợ lực vô-lăng bằng thủy lực tại Anh. Tuy nhiên, tất cả các hệ thống này đều không được ứng dụng vào thực tế.
    Những năm 1920, các thí nghiệm đã trở thành tiền thân cho hệ thống trợ lực vô-lăng sau này. Francis W. Davis, kỹ sư của hãng Pierce Arrow Motor Car Company, đã bắt đầu nghiên cứu một hệ thống lái giúp các lái xe tải dễ dàng hơn khi quay vô-lăng và đã phát minh ra hệ thống trợ lực vô-lăng đầu tiên trên xe hơi.
    Trước đó, Davis đã nghiên cứu về hệ thống trợ lực bánh lái trên tàu. Sau đó, ông đưa hệ thống trợ lực bằng thủy lực này sang chiếc Cadillac của mình và tiến hành những thay đổi cho phù hợp với một chiếc xe hơi.
    Giữa những năm 1931 và 1943, Davis nhận được bằng sáng chế cho 5 phát minh khác nhau trong hệ thống trợ lực lái. Những phát minh của Davis được hãng GM chú ý và tiến hành ký hợp đồng để đưa hệ thống trợ lực vô-lăng vào các mẫu xe Cadillac trong tương lai. Hợp đồng này kết thúc năm 1934 do khủng hoảng kinh tế.
    Năm 1936, Bendix Corporation chú ý đến phát minh của Davis và ký một thỏa thuận để ông xây dựng và quảng bá sản phẩm trợ lực lái.
    Đến năm 1939, 10 mẫu xe sử dụng hệ thống trợ lực thủy lực của Davis đã được bán ra thị trường. Hãng GM mua lại hai hệ thống trợ lực để lắp vào mẫu thử nghiệm xe dòng xe Buick. Và sau đó chiến tranh nổ ra...
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    Chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra. Như từng xảy ra đối với nhiều lĩnh vực khác, chiến tranh đã thúc đẩy sự phát triển của hệ thống trợ lực lái lên một tầm cao mới.
    Quân đội muốn có những xe quân sự với hệ thống lái dễ dàng sử dụng.
    Năm 1940, hệ thống của Bendix và Davis được gắn vào xe bọc thép cũng hãng Chevrolet sản xuất cho Quân đội Anh. Kết thúc cuộc chiến, hơn 10.000 xe quân sự được lắp hệ thống trợ lực lái đã tung hoành khắp chiến trường.
    Sau chiến tranh, Chrysler bắt đầu phát triển hệ thống trợ lực lái của riêng hãng này dựa trên bằng sáng chế đã hết hạn của Davis. Hệ thống này được lắp trên mẫu Chrysler Imperial với tên là Hydraguide.
    Từ khi GM ký hợp đồng với Davis cho đến năm 1953, đã có một triệu xe sử dụng hệ thống trợ lực lái được sản xuất.
    Cho đến năm 1956, cứ 4 chiếc xe hơi xuất hiện trên đường thì có một chiếc được trang bị hệ thống trợ lực lái. Một thập kỷ sau, 3,5 triệu xe hơi được trang bị hệ thống này đã lăn bánh trên đường.
    Kể từ thời Davis đến nay, có rất nhiều loại trợ lực lái đã được sử dụng. Tùy theo nguyên lý hỗ trợ lực, hệ thống trợ lực có thể là thủy lực, điện thủy lực và trợ lực điện.
    Một số nhà sản xuất như Citroen và AM General đã đăng ký bằng sáng chế cho những công nghệ riêng của họ (DIRAVI và Servotronic).
    Servotronic là hệ thống trợ lực điện tử nhằm tăng sự linh hoạt khi đậu xe hay phản ứng nhanh nhạy và ổn định ở tốc độ cao. Với một chiếc van điện từ trường sẽ điều chỉnh chính xác lực được tạo ra bởi thiết bị lái bằng thủy lực, cho phép lái chính xác, phù hợp với tình huống lái hiện tại của người điều khiển.
    Nhờ có Servotronic thông minh, lái xe trong những đường phố đông đúc hoặc đậu xe sẽ dễ dàng hơn vì không cần phải bẻ lái nhiều vòng. Sự hỗ trợ công suất giảm dần khi xe tăng tốc, đảm bảo độ ổn định lớn hơn, tăng cường sự chính xác và dễ dàng điều khiển xe hơn.
    Ngày nay, hiếm có chiếc xe nào không có hệ thống trợ lực lái. Và thiết kế vòng tròn đơn giản từ những ngày đầu của vô-lăng vẫn được giữ tới ngày nay.
    Những cải tiến của vô-lăng chủ yếu là thêm các chức năng phụ. Chức năng phụ đầu tiên chính là túi khí, được thêm vào vô-lăng từ những năm 1970.
    Vô-lăng: trung tâm điều khiển
    Trong nhiều thập kỷ, chức năng phụ duy nhất được thêm vào vô-lăng là công tắc còi. Phải đến những năm 1990, những tiến bộ trong giải trí, thông tin liên lạc mới mang lại những cải tiến về chức năng cho vô-lăng xe hơi.
    Hàng loạt các nút bấm và công tắc điều khiển hệ thống âm thanh, máy tính trên xe khiến cho những nhà thiết kế nội thất xe hơi đau đầu về việc bố trí. Họ cần không gian cho các nút và công tắc, các thiết bị chuyển mạch sao cho có thể nằm trong tầm với của lái xe.
    Rõ ràng, các nhà thiết kế nội thất xe hơi đã chuyển sự chú ý sang vô-lăng, thành phần gần gũi nhất với tầm tay và tầm quan sát của lái xe.
    Kết quả là vô-lăng thời nay không chỉ để điều khiển hướng xe chạy mà còn là trung tâm điều khiển các thiết bị giải trí của xe.
    Vô-lăng đã phát triển về kich cỡ, không gian để có thể chứa được nhiều dây và các thiết bị điều khiển hơn. Và sự phát triển trong thiết kế cũng như chức năng của vô-lăng dường như chưa kết thúc.
    Mạnh Kiên

    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
     

Chia sẻ trang này