Đang tải...

Lịch sử General Motors

Thảo luận trong 'Hội chơi xe' bắt đầu bởi haui, 20/3/10.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. haui
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    5/8/09
    Số km:
    3,304
    Được đổ xăng:
    128
    Mã lực:
    381
    Xăng dự trữ:
    -120 lít xăng
    General Motor, còn được gọi tắt là GM, là nhà sản xuất ô tô lớn thứ hai thế giới theo xếp hạng doanh số toàn cầu. Thành lập năm 1908 tại Flint, Michigan, GM sử dụng 266.000 nhân công trên toàn thế giới. Trụ sở của hãng đặt tại Trung tâm Renaissance, Detroit, bang Michigan, Mỹ. GM sản xuất xe hơi và xe tải ở 35 quốc gia. Trụ sở chi nhánh Châu Âu đặt tại Zurich, Thụy Sỹ. Trong năm 2008, 8,35 triệu xe hơi và xe tải GM đã được bán ra dưới các thương hiệu Buick, Cadillac, Chevrolet, GMC, GM Daewoo, Opel, Vauxhall, Holden, Pontiac, Hummer, Saab, Saturn và Wuling.
    [​IMG]
    Ngày đầu thành lập
    General Motor do William C. Durant sáng lập ngày 16/9/1908 tại Flint, bang Michigan. Ban đầu GM chỉ bao gồm Buick Motor, nhưng trong những năm tiếp theo nhà sản xuất này sở hữu Oldsmobile, Oakland Motor Car Company (sau này là Pontiac), Cadillac, và Rapid Motor Vehicle Co. (hay GMC).
    Do quá mải mê đi thu mua các công ty khác, GM gánh khoản nợ khổng lồ 1 triệu USD. Năm 1910, Durant bị mất quyền kiểm soát GM. Nhưng không hề nản chí, ông đứng ra cùng với Louis Chevrolet đồng sáng lập thương hiệu Chevrolet và dần mua lại từng cổ phần trong GM. Đến năm 1916, ông thừa đủ quyền lực để quay lại làm Chủ tịch General Motors. Ngày 13/10/1916, GM Company chính thức trở thành Tập đoàn General Motors. Chevrolet gia nhập đại gia đình GM năm 1917, chiếc xe hơi GM đầu tiên là Chevrolet 490 năm 1918.
    [​IMG]
    Tổng hành dinh của GM được đặt tại Flint từ giữa những năm 1920 khi nó được chuyển đến Detroit. Tòa nhà có tên gọi Durant Building được thiết kế và xây dựng từ năm 1919 và hoàn thành vào năm 1923, chính thức mang tên General Motors Building từ năm 1929. GM vẫn giữ trụ sở này, ngày nay là Cadillac Place, cho đến khi hãng mua Renaissance Center vào năm 1996. Trụ sở chi nhánh Buick vẫn ở Flint đến tận năm 1998 mới chuyển đến Renaissance Center.
    [​IMG]
    Năm 1925, GM mua cổ phần Vauxhall Motors của Anh, đến năm 1929 nắm giữ 80% sổ cổ phần của nhà sản xuất xe hơi Đức, Adam Opel AG. Hai năm sau con số này đã tăng lên đến 100% và trở thành nền móng cho GM Europe cho đến ngày nay. Năm 1931, GM đã nắm quyền điều hành hãng Holden của Australia.
    Doanh số tiêu thụ của GM vượt qua Ford Motor cuối những năm 1920 nhờ vào tài năng lãnh đạo của Alfred Sloan. Trong khi Ford tập trung vào quá trình sản xuất để giảm giá thành, Sloan đã đầu tư vào những hướng đi mới, điều hành một tập đoàn có quy mô rộng khắp thế giới, chú trọng đặc biệt đến các yêu cầu của khách hàng. Những người mua xe không chỉ mong muốn có những model giá rẻ, họ còn muốn chiếc xe phải có phong cách, động cơ mạnh mẽ và chất lượng uy tín đảm bảo, GM đã làm được điều này.
    1933 – 1958
    GM đã mua hãng sản xuất động cơ đốt trong railcar, Tập đoàn Electro-Motive, và hãng cung cấp động cơ Winton Engine vào năm 1930, sau đó thành lập chi nhánh General Motors Electro-Motive. Hơn 20 năm sau, động cơ diesel đã trở thành chủ lực của GM. Electro-Motive được bán vào năm 2005.
    Yếu tố chính trị bắt đầu dính dáng đến GM vào năm 1936, khi tổ chức Công đoàn ngành ô tô Mỹ (UAW) kêu gọi công nhân của GM tại Flint xuống đường biểu tình. Cuộc đình công kéo dài đến tận tháng 2/1937 mới kết thúc khi GM nhượng bộ và đồng ý gia nhập UAW.
    Chiến tranh thế giới thứ 2
    Năm 1941, số xe GM bán ra chiếm 44% trong tổng doanh số ô tô của toàn nước Mĩ, so với 12% năm 1921. Trước khi Hoa Kì tuyên bố gia nhập hàng ngũ Đồng Minh, GM bắt tay vào sản xuất vũ khí chiến tranh bên cạnh việc sản xuất xe. Sau cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng năm 1941, chính thức đưa ngọn lửa chiến tranh thế giới lần thứ 2 vượt Thái Bình Dương lan sang đất Mĩ, những kĩ xảo công nghiệp mà GM phát triển đã được áp dụng với một hiệu quả tuyệt vời. Việc sản xuất xe dân dụng tạm ngừng vào đầu năm 1942 và các nhà máy của Tập đoàn chuyển toàn bộ hoạt động sản xuất sang phục vụ chiến tranh.
    Những cống hiến của GM trong suốt cuộc đại chiến thứ hai so với cuộc thế chiến thứ nhất quả là một bước tiến khổng lồ, tạo ra một hình ảnh điển hình về tầm quan trọng của một quốc gia trong cuộc chiến có khả năng kêu gọi sức mạnh của các nhà công nghiệp giàu kinh nghiệm và quản lí tốt. Từ năm 1940 đến 1945, vũ khí phòng thủ GM cung cấp cho cuộc chiến trị giá lên tới 12,3 tỉ đô la.

    Thành công to lớn của General Motors trong thời gian chiến tranh đã hình thành nên một quy luật cho nguyên lí quản lý của hãng trong thời bình. Sự phân quyền, khả năng chịu trách nhiệm ở từng bộ phận có tính linh hoạt cao tạo khả năng cho hầu hết những bản thảo từ khâu sản xuất dân dụng đến việc chế tạo và cung ứng trở nên chặt chẽ, liên hoàn với một bảng thời gian hàng ngày và hàng tháng. Những cống hiến của GM có mặt trong mọi loại hình sản phẩm có thể thấy được trong thời chiến từ những ổ bi nhỏ nhất tới những thùng chứa khổng lồ, những con tàu hải quân, các máy bay chiến đấu, bom, súng, đại bác, và các loại đạn. GM một mình cung cấp 13.000 máy bay và sản xuất ¼ trong tổng số động cơ máy bay của toàn nước Mĩ. Sau chiến tranh hãng thu được lợi nhuận 33 triệu đô la Mỹ.

    Thời kỳ hậu chiến
    Sau chiến tranh, GM trở thành tập đoàn lớn nhất nước Mỹ, đóng góp một phần không nhỏ vào GDP của quốc gia này. Năm 1953, Charles Erwin Wilson, sau này là chủ tịch GM, khi được hỏi điều gì khiến ông có hứng thú với GM, Wilson đã trả lời: “Tôi nghĩ rằng những gì tốt cho đất nước sẽ tốt cho GM”. Sau này khi được hỏi, Wilson trả lời đơn giản: “Những gì tốt cho General Motors sẽ tốt cho đất nước.”
    Việc sản xuất xe phục hồi sau chiến tranh và thời thì hậu chiến là giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ của tập đoàn. Những chiếc xe của thập kỉ 50 được chế tạo hoàn toàn mới, phong cách của chúng thể hiện những khát khao về sự đổi thay dồn nén trong suốt thời chiến. Thập kỉ 50 là thời kì của những lời ca tụng, doanh số kỉ lục, những lễ kỉ niệm, và những cuộc cách mạng thiên tài trong phong cách thiết kế và động cơ.
    Thời điểm sau thế chiến, GM đã là một trong những doanh nghiệp có số nhân công lớn nhất thế giới. Năm 1955, GM là tập đoàn Mỹ đầu tiên đóng góp cho đất nước hơn 1 tỷ đô la tiền thuế.
    1958 - 1980
    Năm 1958, GM bắt đầu có những thay đổi trong sản xuất bằng việc giới thiệu động cơ hiệu suất cao ứng dụng trên các xe mang mác Chevrolet và Pontiac. Những model trang trí cao cấp hơn như Chevrolet Impala và Pontiac Bonneville có mức giá phù hợp cùng với một số mẫu xe Oldsmobile và Buick đã tạo được ấn tượng với khách hàng.

    [​IMG]
    Thập kỷ 60 chứng kiến những sáng tạo mang tính cạnh tranh cao. Chiếc xe Chevrolet Corvair 6 xy lanh được tung ra cạnh tranh với Volkswagen Beetle, Chevy II là câu trả lời cho Ford Falcon sau thất bại về doanh số tiêu thụ của Corvair, và Chevrolet Camaro/Pontiac Firebird là con át chủ bài tạo thế cân bằng với Ford Mustang.

    [​IMG]
    Đầu những năm 70, GM bắt tay vào một chương trình chưa từng thấy để tái thiết kế toàn bộ các mẫu xe hiện hành của tập đoàn với mục tiêu đạt được hiệu quả tiêu thụ nhiên liệu tốt hơn. Trọng lượng và kích cỡ ngoại thất được thu nhỏ, nhưng không gian nội thất và mức độ thoải mái lại không hề thay đổi. Những chiếc xe được thu gọn về kích cỡ đầu tiên là các mẫu xe GM ra đời năm 1977 – chiều dài cơ bản được rút ngắn và trọng lượng giảm 320kg so với các phiên bản tiền thân. Họ tạo ra một cú hích chớp nhoáng với những “cải cách” nối tiếp nhau ra đời: năm 1978 biến những mẫu full-size về mid-size, năm 1979 cho ra các mẫu xe cá nhân hạng sang, năm 1980 những mẫu Compact dẫn động cầu trước ra đời, 1981 là những mẫu subcompact dẫn động cầu trước, 1982 và các phiên bản mid-size dẫn động cầu trước, và mẫu compact truck đầu tiên của nền công nghiệp ô tô Hoa Kì. Năm 1985 chứng kiến sự ra đời của mẫu xe hạng sang dẫn động cầu trước đầu tiên lăn bánh vào hàng ngũ những sản phẩm chính thức của tập đoàn. Một loạt những mác xe như Chevrolet Vega, Chevrolet Caprice, Chevrolet Chevelle và Chevrolet Citation đã tạo nên thời kỳ huy hoàng của Chevrolet.
    [​IMG]
    Từ 1981 đến nay
    Bước vào thập niên 80, lần đầu tiên kể từ khi thành lập, GM gặp thua lỗ do bị cạnh tranh gay gắt và lãnh đạo yếu kém. Để xoay chuyển tình thế, GM đã gửi kỹ sư và nhà quản lý của họ sang Nhật Bản để học hỏi cách làm kinh doanh mới. Tuy nhiên, điều tiên quyết GM cần thay đổi là cung cách sản xuất thì họ không làm được. Giá trị cổ phiếu của GM bắt đầu lao dốc. CEO lúc đó là Roger B. Smith thất bại trong việc cải tổ bộ máy sản xuất. Cũng trong thời gian này, chi nhánh Saturn được thành lập để sản xuất các loại xe cỡ nhỏ. Khách hàng của GM vẫn muốn mua những chiếc xe lớn hơn và xu hướng mua xe SUV cũng tăng lên.
    Năm 1981, một công cuộc tái tổ chức các hoạt động sản xuất xe tải và bus của GM trên phạm vi toàn cầu diễn ra trong nỗ lực để cải tiến sản phẩm nhằm nâng cao vị trí cạnh tranh của GM. Kết quả là các mẫu xe tải và bus hoàn toàn đảm bảo về thiết kế, động cơ, chế tạo, doanh số và dịch vụ cho toàn bộ các cơ sở sản xuất xe van, bus và xe tải của General Motors tại Bắc Mĩ và trên toàn thế giới.
    Năm 1982, General Motor tham gia liên doanh với hai công ty Nhật Bản. Tập đoàn đầu tư 200 tỉ USD cho chi nhánh Nhật Bản, Isuzu Motor Limited, để giúp đỡ về tài chính trong việc phát triển những mẫu Subcompact mới cung cấp cho thị trường Nhật và trên toàn thế giới. Và, trong tháng 7, GM kí một hợp đồng với công ty Fujitsu Fanuc Limited của Nhật về thiết kế, chế tạo và bán hệ thống robot. GMF Robotics Corporation ra đời. Ngay sau khi thành lập, công ty GMF Robotics bắt tay vào thiết kế và xây dựng nhà máy sản xuất và trụ sở ở Rochester Hills, Michigan.

    Năm 1984, GM tái cơ cấu lại toàn bộ hoạt động sản xuất xe khách ở Bắc Mĩ, chia làm hai nhóm có chức năng như những doanh nghiệp độc lập. Hai phân nhánh lâu đời là Fisher Body và GM Assembly Divisions được hợp nhất thành một nhóm mới. Hai công ty Chevrolet và
    Pontiac của GM Canada (C-P-C) có toàn quyền sản xuất động cơ, chế tạo, tổ chức và tiếp thị cho sản phẩm của họ.

    Một hình thức mới trong nền công nghiệp ô tô Mĩ đã được hình thành tháng 2/1984, khi GM và nhà sản xuất ô tô Nhật Bản, Toyota Motor Company lập nên liên doanh để sản xuất các loại xe nhỏ mới tại nhà máy mang tên New United Motor Manufacturing Incorporated (NUMMI). Liên doanh này cố gắng đưa những mẫu xe mới của mình ra thị trường trước
    13/6/1985, với sự giới thiệu mẫu Chevrolet Nova.
    Năm 1986, General Motors tiếp tục dẫn đầu thế giới về các tổ chức công nghiệp. Năm này được coi là một trong những năm cạnh tranh khốc liệt nhất trong nền công nghiệp ô tô và GM đã lập kỉ lục về doanh số và thu về 102,8 tỉ đô la. GM đối mặt với rất nhiều thử thách năm 1986 và tiếp tục phát triển tiến vào thế kỉ 21 đối đầu với những thử thách đến từ các đối thủ nước ngoài và nền kinh tế toàn cầu.
    Để đạt được điều này, GM đã thực hiện các biện pháp mạnh mẽ để giảm chi phí. Năm 1986 chứng kiến hàng loạt những vụ phá sản, giảm lượng nhân viên trên toàn thế giới, và giảm toàn bộ các hoạt động đắt đỏ. Những nỗ lực để cắt giảm chi phí này, cùng với những hoạt động tại 6 nhà máy mới và những khoản đầu tư khổng lồ vào việc tái trang bị và hiện đại hóa 12 nhà máy khác, được thực hiện nhằm tăng giá trị cổ phiếu và khiến General Motors tạo được những sản phẩm chất lượng cao, giá cả cạnh tranh sẵn sàng cho những thách thức khi bước vào thế kỷ mới.
    Kết quả của những nỗ lực này bắt đầu thể hiện từ năm 1987. GM giới thiệu mẫu Chevrolet Corisca và Beretta, Pontiac Bonneville, mẫu xe hạng sang tối tân Cadillac Allante, mẫu Pickup truck cỡ lớn GMC/Chevy, và Oldsmobile bắt đầu việc sản xuất động cơ Quad 4 tại nhà máy Delta Township. Công ty cũng đưa ra chế độ bảo hành 6 năm với 60.000 dặm cho hệ thống lái và 100.000 dặm chống hao mòn, cho thấy sự đảm bảo của GM đối với các sản phẩm ô tô và xe tải chất lượng cao của mình.
    Năm 1987, General Motors thu về lợi nhuận sau thuế là 3,6 tỉ đô la về số xe bán được và tổng thu nhập là 101,8 tỉ đô la. Trong suốt năm đó, lợi nhuận sau thuế của tập đoàn thu được chủ yếu là nhờ thành công của ba phân nhánh General Motors Acceptance Corporation (GMAC), Electronic Data Systems (EDS) và GM Hughes Electronics (GMHE).
    Tháng 10/1987, General Motors Corporation và UAW kí một thỏa thuận về lao động lịch sử thời hạn 3 năm nhấn mạnh vào tinh thần làm việc và mối quan hệ nhân sự giữa quản lí với người lao động. Thỏa thuận này đạt được không có sự đình trệ trong công việc hay kì hạn cuối cùng, cho thấy sự bảo đảm an toàn công việc và đã thành lập nên những ủy ban nghiên cứu chung chưa từng thấy tại nhà máy của GM trên khắp đất nước. Mục tiêu tiếp theo của những hội đồng chung này là xem xét khả năng cạnh tranh và tìm ra cách để nâng cao chất lượng, hiệu quả và qua đó để thu hút nhân công mới.

    Năm 1988, GM giới thiệu những mẫu xe cỡ trung tái thiết kế mới, Buick Regal, Oldsmobile Cutlass Supreme, và Pontiac Grand Prix. GM ghi kỉ lục mới về lợi nhuận dòng đạt 4,9 tỉ đô la năm 1988 và tổng thu nhập năm đạt 110,2 tỉ USD. Trong khi doanh số của nền công nghiệp ô tô toàn nước Mĩ giảm 6%, thì tổng doanh thu của General Motors năm 1989 lại tăng lên một mức kỉ lục mới: 126,9 tỉ USD, là mức doanh thu cao thứ 3 trong lịch sử 81 năm của tập đoàn, mặc cho điều kiện khó khăn chung về kinh doanh.

    Cũng trong năm 1989, GM giới thiệu những mẫu xe Chevrolet Lumina, Cadillac Allante, Corvette ZR-1 trang bị động cơ 32-van nhôm 8xylanh và hộp truyền động 6 cấp số sàn, Geo Storm và Prizm. GM cũng ra mắt mẫu Pontiac Trans Sport và Oldsmobile Silhouette

    Trên phạm vi toàn cầu, GM mua 50% cổ phẩn của nhà sản xuất ô tô Thụy Điển, Saab Automobile AB, để phát triển, chế tạo và tiếp thị những mẫu xe của Saab ra toàn thế giới.
    Suốt những năm 80, General Motor đã có thêm những thay đổi – với những nhà máy mới, công nghệ mới, sản phẩm mới, sự đảm bảo mới về hiệu quả chi phí, và sự đảm bảo mới cho nhân viên – nhiều hơn tất cả 7 thập kỷ phát triển trước đó trong lịch sử tập đoàn.
    GM suýt rơi xuống vực phá sản vào năm 1991 khi doanh thu sụt giảm gây thua lỗ tới 4,45 tỷ USD. Trong nỗ lực tuyệt vọng để cứu GM, Chủ tịch mới Robert Stempel, người thay thế Roger Smith, quyết định đóng cửa tới 21 nhà máy và sa thải 24.000 nhân công. Tuy nhiên, phải đến đời Chủ tịch sau đó là Jack Smith, số phận GM mới được cứu vớt. Thay vì đóng cửa và sa thải, vị Chủ tịch mới áp dụng một loạt chính sách cắt giảm chi phí, thay đổi bộ máy lãnh đạo. Tuy nhiên, những quyết định của ông gây ra một cuộc biểu tình kéo dài 7 tuần tại nhà máy thành phố Flint vào ngày 5/6/1998.
    Rick Wagoner trở thành CEO của GM vào năm 2000. Ông quyết tâm cải tổ GM bằng một loạt hành động cắt giảm mạnh tay. Tuy nhiên, chúng không ngăn được việc GM bị thua lỗ tới 8,6 tỷ USD trong năm 2005 và mất danh hiệu nhà sản xuất xe hơi hàng đầu thế giới vào tay Toyota năm 2007. Cũng trong năm 2007, thua lỗ của GM lên tới 39 tỷ USD. Cơn sốt giá dầu vào giữa năm 2008, và ngay sau đó là suy giảm kinh tế là hai đòn mạnh liên tiếp giáng xuống GM cũng như các nhà sản xuất ô tô khác.
    Ngày 17/11/2008, GM thông báo sẽ bán cổ phần ở Suzuki Motor với giá 22,37 tỷ Yên (tương đương 230 triệu USD) để hỗ trợ thêm cho công ty mẹ vượt qua khủng hoảng tài chính.
    Cuối năm 2008, GM cùng với Chrysler đã nhận được khoản vay của chính quyền Hoa Kỳ, Canada, và Ontario để tránh phá sản do suy thoái kinh tế cuối thập niên 2000, khủng hoảng giá dầu mỏ cuối thập niên 2000, quản lý tồi và cạnh tranh khốc liệt. Ngày 20 tháng 2 năm 2009, bộ phận Saab của GM đã đệ đơn xin tái tổ chức trong một phiên toà ở Thuỵ Điển sau khi bị từ chối các khoản vay từ chính phủ Thuỵ Điển.
    Ngày 27/4/2009, GM thông báo sẽ kết thúc thương hiệu Pontiac vào cuối năm 2010 và tập trung vào 4 thương hiệu chính tại thị trường Bắc Mỹ là Chevrolet, Cadillac, Buick và GMC, Đồng thời sẽ tiến hành đàm phán bán các thương hiệu Hummer, Saab, Saturn.
    Năm 2009 là năm chứng kiến doanh số bán ra của GM xuống mức thấp nhất trong vòng 26 năm. Tại Đức, các lãnh đạo công đoàn gây áp lực buộc GM châu Âu phải tách ra khỏi công ty mẹ trước khi nó sụp đổ. Khó khăn ngày càng chồng chất trên vai GM.
    Ngày 1/6/2009, General Motors (GM) đã chính thức nộp đơn xin bảo hộ phá sản lên tòa án thành phố New York kết thúc lịch sử 100 năm huy hoàng. Theo nội dung đơn, GM có tài sản 82,3 tỷ USD và gánh khoản nợ 172,8 tỷ USD. Với số tài sản này, GM đã ghi danh vào lịch sử với vụ phá sản lớn nhất từng có của một doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tại Mỹ, đồng thời là vụ phá sản lớn thứ tư trong lịch sử doanh nghiệp nói chung của nước này.
    Chủ nợ lớn nhất của General Motors là Công ty Wilmington Trust, đại diện cho một nhóm nắm giữ 22,8 tỷ USD trái phiếu doanh nghiệp do GM phát hành, kế tiếp là Nghiệp đoàn Công nhân ô tô Mỹ (UAW), đại diện của các công nhân làm việc cho GM, đối tượng mà GM còn chịu các nghĩa vụ nợ với tổng trị giá 20,6 tỷ USD. Nhân vật chính thúc đẩy GM tới lựa chọn phá sản là Tổng thống Mỹ Barack Obama, ông tin rằng, việc quốc hữu hóa tạm thời hãng xe từng là biểu tượng của chủ nghĩa tư bản Mỹ sẽ giúp cứu được hãng xe này khỏi những kết cục tồi tệ nhất.
    Sau khi đệ đơn xin bảo hộ phá sản, người khổng lồ nước Mỹ GM ráo riết tái sinh một GM mới trong thời hạn 60-90 ngày. Ban lãnh đạo mới được thành lập nhằm thực hiện thành công kế hoạch tái cấu trúc công ty.
    Ngày 10/7/2009, General Motors (GM) đã chính thức trở lại thị trường và sẵn sàng hoạt động với bộ máy và cơ cấu mới. Công ty mới có tên gọi General Motors Company, trụ sở ở Detroit, Mỹ. GM mới được hợp thành dựa trên những chi nhánh tốt nhất của GM cũ. Còn GM cũ, bao gồm các bộ phận hoạt động kém hiệu quả chuyển sang tên gọi Motors Liquidation Company và sẽ vẫn ở trong tình trạng phá sản trong vài năm tới.
    Ban lãnh đạo GM mới có 13 thành viên, 6 thành viên ở hội đồng quản trị GM cũ, 1 thành viên do lãnh đạo Canada chỉ định và còn lại do Quốc hội Mỹ chỉ định. Ông Fritz Henderson giữ chức Giám đốc Điều hành công ty. Ông Edward Whitacre, cựu chủ tịch hãng điện thoại hàng đầu nước Mỹ AT&T vừa mới được bổ nhiệm vị trí chủ tịch GM mới.
    Tại GM mới, Quốc hội Mỹ nắm khoảng 60% cổ phần, Chính phủ Canada nắm giữ 12%, Nghiệp đoàn ô tô Mỹ chiếm 17,5% và 10% còn lại thuộc về các cổ đông đang nắm giữ phiếu nợ. General Motors Company sẽ giữ lại các thương hiệu Buick, Cadillac, Chervolet và GMC. Biểu tượng của công ty sẽ vẫn như cũ, nền màu xanh với chữ GM trắng gạch chân.
     

Chia sẻ trang này