Đang tải...

Cơ bản lịch sử hệ thống phanh oto phần 1

Thảo luận trong 'Khung gầm' bắt đầu bởi vothanhtam19, 7/11/10.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. vothanhtam19
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    28/7/09
    Số km:
    1,936
    Được đổ xăng:
    88
    Mã lực:
    401
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    2,088 lít xăng
    Lịch sử hệ thống Phanh Ô tô P.1

    Trong bài viết này sẽ cung cấp cho các bạn kiến thức cơ bản về cách vận hành và sử dụng hệ thống phanh xe. Nhưng trước tiên, chúng ta sẽ đi vào tìm hiều đôi nét về lịch sử ra đời và phát triển của một trong những bộ phận quan trọng, ra đời gần như song hành với chính bản thân những chiếc ô tô.

    Bài kiểm tra lớn đầu tiên cho hệ thống phanh xe diễn ra vào năm 1902 trên một con đường không lát đá tại New York City mang tên Riverside Drive. Ransom E. Olds đã sắp xếp một cuộc thử nghiệm tác động của hệ thống phanh mới so với hệ thống phanh lốp xe của một chiếc xe 4 ngựa và hệ thống phanh đùm (Drum Brakes) trên một chiếc xe chở hàng không ngựa kéo thời Vitoria.
    Chiếc Oldmobile của ông cho thấy một thanh thép không gỉ linh hoạt đơn quấn quanh một cái thùng hình ống quanh trục sau. Khi pedal phanh bị nhấn, thanh thép sẽ co lại để kìm chặt thùng hình ống. Olds đã đưa chiếc xe của mình tham gia giải đua 100 dặm Blue Ribbon Contest diễn ra vào tháng 8 và muốn chắc chắn rằng hệ thống phanh ngoài của mình phù hợp cho thiết kế thùng hình ống bên trong má phanh mở rộng của một chiếc xe Victoria. Và hệ thống phanh lốp của xe ngựa – một miếng lót được đặt vào lốp xe bởi một đòn bẩy dài. Nó kìm hãm lốp xe cao su đặc khá nhanh, và hệ thống phanh lốp này đã được sử dụng rất phổ biến trên xe ngựa, xe chở hàng và rất nhiều mẫu ô tô đầu tiên.
    Từ tốc độ 14 dặm/giờ, chiếc Oldsmobile có thể dừng lại trong khoảng cách 21.5 ft, chiếc Vitoria là 37ft, và xe ngựa (có thể ngựa không chạy đến vận tốc 14 dặm/giờ, nhưng cũng chẳng có hệ thông phanh nào hỗ trợ chúng cả) dừng lại ở 77.5ft.
    Chiếc Oldsmobile giành hai trong số 9 giải thưởng của cuộc đua. Hệ thống phanh của nó đã gây ấn tượng sâu sắc cho các nhà sản xuất ô tô khác và một năm sau, hầu hết họ đều sử dụng hệ thống này trên xe mình. Năm 1904, tất cả các nhà sản xuất ô tô đều chế tạo ra những chiếc xe với hệ thống phanh ngoài trên trục bánh sau.
    Cùng thời gian đó, hệ thống phanh này cũng cho thấy một số thiếu sót nghiêm trọng trong sử dụng thường ngày. Ví dụ khi đi trên đồi, hệ thống sẽ không có tác dụng tức thời mà để cho xe tiếp tục đi sau nhiều giây nhấn phanh. Một lái xe nếu không may bị chết máy trong khi đang leo dốc sẽ sớm phát hiện ra mình đang lăn lùi về phía sau.
    Vì lý do đó, các tấm chèn là dụng cụ hết sức quan trọng cho mỗi chuyến đi. Thời kì này, người ta dễ dàng bắt gặp cảnh một hành khách nhảy ra khỏi xe với một miếng gỗ trong tay để chèn bánh xe.
    Ngoài ra, hệ thống phanh ngoài còn thể hiện nhiều hạn chế khác như không được bảo vệ khỏi các cú drift nên các thanh thép và thùng hình ống sẽ nhanh chóng bị bào mòn. Một hệ thống phanh này chỉ hoạt động tốt nhất trong cho 200 đến 300 dặm đường đâu tiên.
    Những hạn chế sau này được giải quyết khi hệ thống phanh trong ra đời. Chỉ cần các má phanh vẫn chịu lực tác động, thì chũng sẽ vẫn nhấn lên các thùng ống để kìm giữ chiếc xe khỏi lăn ngược trở lại chân dốc. Và, kể từ khi các bộ phận phanh được cải tiến bên trong thùng ống để bảo vệ chúng khỏi hao mòn, lái xe có thể đi được chặng đường tới 1,000 dặm giữa hai lần bảo dưỡng phanh.
    Phanh đùm, như cái tên nó được gọi ngày nay, đã thống trị hoàn toàn trong ngành công nghiệp ô tô Mỹ. Có một số tài liệu khác cho rằng hệ thống phanh đùm hiện tại được phát minh năm 1902 bởi Louis Renault, dù một thiết kế ít tiến bộ hơn đã từng được sử dụng trên xe của Maybach một năm trước đó.
    Tại châu Âu, đặc biệt là ở Anh, vị trí của nó phải chia sẻ với hệ thống phanh đĩa (Disc Brakes). Phanh đĩa ít nhiều đã trở thành tiêu chuẩn trên những chiếc xe hơi châu Âu trong những năm 50, 20 năm trước khi chúng được các nhà sản xuất ô tô Mỹ bắt đầu sử dụng (từ năm 1973).
    Điều này nghe có vẻ nực cười vì hệ thống phanh đĩa điểm (Spot-type Disc Brake) là một phát minh của người Mỹ. Năm 1898, Elmer Ambrose Sperry ở Cleveland, Ohio đã thiết kế một chiếc xe điện với hệ thống phanh đĩa bánh trước.

    [​IMG]
    Hệ thống phanh đĩa điểm
    Ông đã tạo ra một đĩa lớn kết hợp với trục moay-ơ ở mỗi mỗi bánh xe. Các nam châm điện được sử dụng để tạo lực nhấn những đĩa nhỏ hơn, đã được trạng bị ổ bi trượt để giảm ma sát, vào những điểm trên một đĩa quay nhằm chặn bánh xe tiếp tục quay. Các lò xo đẩy những đĩa điểm này trở về vị trí khi việc phanh xe ngừng lại.

    Trong khi đó tại Anh, một bằng sáng chế được trao năm 1902 cho F.W.Lanchester với phát minh hệ thống phanh đĩa điểm không chạy điện, hoạt động với những nguyên lý rất giống những hệ thống phanh mà chúng ta có ngày nay. Vấn đề lớn nhất là hệ thống của Lanchester hoạt động khá ầm ĩ. Sự cọ sát trực tiếp các tấm kim loại giữa lớp lót bằng đồng và đĩa kim loại tạo ra một tiếng rít lớn gây cho người nghe cảm giác ớn lạnh chạy dọc cơ thể.
    Vấn đề này được giải quyết năm 1907 khi Herbert Frood, một người Anh khác, phát triển ý tưởng tạo ra những miếng đệm bằng Amiăng. Chất liệu mới này nhanh chóng được các nhà sản xuất ô tô sử dụng cho cả hệ thống phanh đĩa lẫn phanh đùm. Amiăng cũng bền hơn các chất liệu chịu ma sát khác nhờ một mép rộng. Với cải tiến này, hệ thống phanh đĩa lúc bấy giờ có thể chịu đựng được quãng đường lên tới 10.000 dặm.
    Khi đường xá được cải tiến và xe hơi bắt đầu có thể đi với tốc độ cao, các nhà sản xuất nhận ra sự cần thiết phải tạo ra những hệ thống phanh có sức mạnh thậm chí lớn hơn rất nhiều. Hệ thống phanh dần dần được cải tiến và thêm vào những hệ thống phụ trợ như chúng ta thấy ngày nay.
    nguồn MyCar.vn
     

Chia sẻ trang này