Đang tải...

Lịch sử Ô tô - Giai đoạn 1920 - 1930

Thảo luận trong 'Hội chơi xe' bắt đầu bởi otohui, 20/10/09.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. otohui
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    24/3/09
    Số km:
    2,567
    Được đổ xăng:
    74
    Mã lực:
    381
    Xăng dự trữ:
    350 lít xăng
    Hệ thống phanh thuỷ lực cho cả bốn bánh được giới thiệu. Sản xuất ôtô hàng năm ở Mỹ đạt gần 2,3 triệu chiếc. Pháp, nhà sản xuất lớn thứ hai trên thế giới với sản lượng 40 ngàn chiếc. Tổng sản lượng trên thế giới đạt gần 2,4 triệu chiếc.
    1921
    Khi William Durant buộc phải rời GM, Ford chiếm tới hơn 60% thị phần xe hơi nước Mỹ. Thị phần của GM chưa tới 12%. Về phần mình Durant ngay lập tức kiếm được 7 triệu đôla để thành lập Durant Motor nhờ việc mua lại tài sản của công ty phá sản Locomobile ở Bridgeport, Connecticut. Chưa dừng lại ở đây , Durant sau đó đã huy động được 5,25 triệu đôla để mua lại một nhà máy sản xuất tiên tiến bậc nhất tại Mỹ từ tay Willys-Overland.
    1922
    Dưới sự điều hành của Alfred P. Sloan, chỉ chưa đầy một năm General Motors đã bán được 457.000 xe, đạt 61 triệu đôla lợi nhuận.
    [​IMG]
    Chiểu theo ý của Edsel Ford, Ford Motor mua lại công ty Lincoln Motor do Henry Leland thành lập năm 1921.
    GM phó thác việc quản lý Chevrlet cho một cựu nhân viên của Ford là William Knudsen. Có trong tay một dây chuyền lắp ráp và mầu sơn sặc sỡ của Du Pont, Knudsen quyết tâm vực dậy một Chevrlet đang ngắc ngoải nhằm cạnh tranh với Ford Model T.
    Durant Motors giới thiệu mẫu xe ‘Star’ với giá 348 đôla nhằm cạnh tranh với Ford Model T. Henry Ford liền bán phá giá buộc Durant phải thoái lui.
    Lốp xe bơm hơi lần đầu tiên được giới thiệu.
    1923
    Chủ tịch hãng Yellow Cab, ông John D. Hertz mua lại một công ty nhỏ chuyên cho thuê xe và lập ra một công ty cho thuê xe tự lái mang tên Hertz Drive-Ur-Self System.
    Lần đầu tiên trong ngành công nghiệp ôtô Mỹ, doanh số bán ra của xe mui kín vượt qua doanh số bán xe mui trần.
    Phân nửa số xe trên nước Mỹ được mua bằng thẻ tín dụng.
    Sản lượng ôtô của Mỹ vượt qua con số 3.7 triệu chiếc.
    Đã có 13 triệu xe ôtô tại Mỹ, và 108 nhà sản xuất ôtô nhưng trong đó có 10 nhà sản xuất đã chiếm tới 90% sản lượng hàng năm.
    GM bán được 800.000 chiếc, đạt 80 triệu đôla lợi nhuận.
    1924
    Trong hai năm liên tiếp, số lượng xe Model T được sản xuất vượt qua ngưỡng 2 triệu chiếc/năm. Giá xe giảm xuống còn 290 đôla/chiếc. Quá nửa số xe trên toàn thế giới là Ford Model T.
    1925
    Nhà sáng chế Francis Davis tại Waltham, Mass phát triển hệ thống trợ lực lái có hiệu quả đầu tiên và sau đó lắp trên một chiếc Pierce-Arrow 1921. Hệ thống này được trang bị cho các xe quân sự trong Thế chiến thứ hai. Nhưng phải đến năm 1951 phát kiến này mới có mặt trên các xe Thương mại.
    Tiêu thụ nhiên liệu trung bình cho mỗi xe ôtô tại Mỹ là 473 gallons/năm.
    Giá xe Ford Model T Roadster giảm xuống còn 260 đôla. Đã có 10 000 đại lý bán xe Model T.
    Maxwell Motor được tổ chức lại và có tên mới Chrysler Corporation.
    1926
    Armory Haskell thành lập công ty kính an toàn Triplex dựa trên một bằng sáng chế từ năm 1910 về kính an toàn mà ông đã mua lại. Kính an toàn có giá là 8,80 đôla/1 foot vuông - để thay thế toàn bộ kính trên một chiếc Cadillac sẽ phải mất 200 đôla. Henry Ford rất quan tâm đến sản phẩm này và quyết định đầu tư để phát triển mở rộng.
    Tại Mỹ có 43 nhà sản xuất ôtô. Sau thời điểm này không có một nhà sản xuất mới nào chen chân được vào công ngành công nghiệp này.
    GM giới thiệu thương hiệu Pontiac, thực ra chỉ là thương hiệu Oakland được đặt lại tên.
    Sản lượng ôtô của Mỹ đạt 4 triệu chiếc/năm.
    Đối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt của Chevrolet, Ford Model T với khởi động điện được bán với giá chỉ 350 đôla.
    Thanh toán bằng thẻ tín dụng đã trở thành tiêu chuẩn của ngành công nghiệp ôtô. Số xe mua bằng thẻ tín dụng chiếm 2/3 doanh số xe mới được bán ra.
    1927
    Vào giữa năm 1927 – 1930 Chevrolet đã mua và tiêu huỷ 650.000 xe cũ trong một nỗ lực nhằm vực dậy thị trường xe mới.
    Doanh số của Ford Model T giảm xuống chỉ còn 1/3 so với cùng kỳ năm 1926. Thậm chí với giá 200 đôla Ford cũng không thể duy trì được doanh số bởi vào thời điểm này khách hàng sẵn sàng mua xe đã sử dụng 4 đến 5 năm thay vì mua Model T vì họ cho rằng những chiếc xe cũ có giá trị và nhiều tính năng hơn. Vào thời điểm Ford chấm dứt sản xuất Model T, đã có 15.458.781 chiếc được bán ra thị trường.
    Đã có tới hơn 20 triệu xe hơi tại Mỹ.
    Chấm dứt sản xuất Model T đồng nghĩa với 100.000 công nhân mất việc làm. Ford dừng sản xuất khi doanh số tụt giảm, sau đó bắt đầu thiết kế và nâng cấp dây chuyền sản xuất để cho ra đời mẫu mới: Model A.
    Khi chấm dứt sản xuất Model T, doanh thu của ngành ôtô đã đứng thứ ba trong bảng tổng sắp hàng hoá xuất khẩu. Cứ 4,5 người Mỹ thì có một người có xe ôtô và 55% gia đình người Mỹ sở hữu một chiếc xe ôtô.
    Một năm kém may mắn cho các nhà sản xuất, từ 108 nhà sản xuất nay giảm xuống còn 44 nhà sản xuất chỉ trong một năm. Sự tăng trưởng mang tính chất đột biến trong vòng 20 năm qua đã chính thức chấm dứt. Thị trường trao đổi xe cũ (Trade-in) đóng một vai trò ngày một quan trọng trong doanh số của ngành công nghiệp ôtô.
    Thị trường cho những người mua xe lần đầu tiên ở Mỹ đã bão hoà. Lần đầu tiên, doanh số xe thay mới bán ra vượt qua doanh số của cả số xe được bán cho những người mua xe lần đầu tiên cộng với số xe bán cho các tổ chức kinh doanh (fleets). Một chiếc xe cũ còn tốt được bán ngang giá với Model T, và một chiếc xe kiểu cách hơn nhiều của Chevrolet đắt hơn Model T chỉ có 200 đô. Lần đầu tiên doanh số của Chevrolet vượt qua đối thủ Ford.
    1928
    Chrysler quảng cáo mẫu Chrysler Imperial “80”, 112 mã lực là mẫu xe mạnh nhất của Mỹ. Đáp lại, Stutz đưa ra mẫu 113 mã lực.
    Chrysler Motors giới thiệu Plymouth để cạnh tranh với Chevrolet và Ford trong dòng xe bình dân.
    Những chiếc Plymuoth mới được trang bị động cơ có tỷ số nén cao và hệ thống phanh thuỷ lực cho cả 4 bánh.
    1929
    Các nhà sản xuất ôtô Mỹ đã bán được 4.5 triệu chiếc trong thị trường nội địa.
    GM bán được 1.9 triệu xe du lịch và xe tải nhẹ, đạt 248 triệu đôla lợi nhuận sau thuế. Doanh thu của GM bị ảnh hưởng nặng nề do cuộc Đại suy thoái, doanh thu của năm 1932 chỉ bằng 1/3 của năm 1929. Tuy nhiên, GM đã qua khỏi cơn sóng gió vẫn mang lại được lợi nhuận và lợi tức cho các cổ đông vào tất các năm. Cho đến năm 1939, doanh thu lại đạt mức như năm 1929.
    Sản xuất hàng loạt đòi hỏi một số vốn khổng lồ do đó các hãng nhỏ như thế gần như là không có đất sống. Chỉ ba hãng lớn General Motors, Ford, và Chrysler đã chiếm tới 80% doanh số bán ra của xe mới. Trong năm cuối của thời kỳ thịnh vượng của ngành xe hơi nước Mỹ đã có 5,3 triệu xe được xuất xưởng, một kỷ lục cho đến tận năm 1949 mới bị phá vỡ.
    Có tới 26,7 triệu chiếc xe được đăng ký tại Mỹ, tổng số quãng đường người dân Mỹ đi trong năm là 198 tỷ dặm.
    1930
    Sản lượng ôtô hàng năm của Mỹ đạt đỉnh điểm vào năm 1929 với 5,3 triệu chiếc và giảm xuống còn 2,4 triệu chiếc vào năm 1930.
    Trong khi xe hơi vẫn còn là một mặt hàng xa xỉ đối với đại đa số người dân Anh, thì Anh đã vượt qua Pháp để trở thành nhà sản xuất lớn thứ hai trên thế giới với sản lượng 230.000 chiếc. Nhật Bản, mới gia nhập làng ôtô thế giới cũng góp mặt với số lượng 500 xe vào năm 1930.
    Tổng sản lượng ôtô trên thế giới chỉ đạt 4,1 triệu chiếc.
    Tuổi thọ của một chiếc lốp xe điển hình tăng lên hai năm rưỡi.
    Tiêu hao nhiên liệu trung bình cho mỗi chiếc xe tại Mỹ là 599 gallons xăng mỗi năm.
     

Chia sẻ trang này