Đang tải...

Lịch sử Ô tô - Giai đoạn 1931 - 1940

Thảo luận trong 'Hội chơi xe' bắt đầu bởi otohui, 20/10/09.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. otohui
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    24/3/09
    Số km:
    2,567
    Được đổ xăng:
    74
    Mã lực:
    381
    Xăng dự trữ:
    350 lít xăng
    Mỹ đã xây dựng được 830.000 dặm đường cao tốc. Với 26 triệu xe được đăng ký người dân Mỹ đã đi tổng cộng quãng đường 216 tỷ dặm.
    1932
    Tháng 6 năm 1932, Alfred Sloan triệu tập ban Giám đốc của GM nhằm thông qua kế hoạch chấm dứt dây chuyền sản xuất Cadillac vốn đã bị xuống cấp trầm trọng sau cuộc Đại suy thoái. Ý tưởng này nhằm theo chân Packard đang dẫn đầu thị trường với các mẫu xe sang trọng đang nhằm tới khách hàng có thu nhập thấp. Loại bỏ một Cadillac không thể mang lại lợi nhuận sẽ khiến cho nhãn hiệu rẻ tiền hơn là LaSalle trở thành nhãn hiệu đắt tiền nhất của GM. Một Kỹ sư trẻ, Nicholas Dreystadt xin 10 phút trong cuộc họp để trình bầy kế hoạch cứu vãn Cadillac. Giống như phần lớn các nhà sản xuất, GM cũng mang cả tính phân biệt chủng tộc vào trong kinh doanh – GM không bán Cadillac cho người da đen. Dreystadt để cho Ban quản trị biết rằng những người da đen giầu có đã sở hữu những chiếc Cadillac thông qua những người bạn da trắng của họ. Dreystadt đưa ra lý lẽ, tại sao không đưa cả người da đen giầu có vào nhóm Khách hàng mục tiêu của Cadillac, thậm chí một phần nhỏ của việc mở rộng thị trường cũng tạo ra sự khác biệt lớn Ban giám đốc GM cho Dreystadt 18 tháng để thử nghiệm. Cho đến năm 1934, thương hiệu Cadillac đã mang về lợi nhuận. Năm 1940, doanh số của Cadillac đã tăng 1000%. Bên cạnh việc thể hiện một bước tiến nhỏ để xoá bỏ phân biệt chủng tộc trong kinh doanh, sáng kiến của Dreystadt đã dành được sự ủng hộ của những người da đen giầu có. Đây là một ví dụ điển hình của việc áp dụng Marketing trong ngành công nghiệp ôtô.
    [​IMG]
    1934
    Tại Anh, Morris Motors là nhà sản xuất đầu tiên áp dụng dây chuyền sản xuất ôtô. Phân phối thu nhập, sự sẵn có của các phương tiện giao thông công cộng, tính bảo thủ của người Anh, tất cả điều này đã ngăn cản sự phát triển của công nghiệp ôtô. Trước thời điểm này không một nhà sản xuất nào của Anh có đựơc doanh số bán hàng đủ để đầu tư vào nhà máy và thiết bị để sản xuất ôtô với dây chuyền công nghiệp. Xác định ôtô là một thứ hàng hoá xa xỉ phẩm đã khiến cho ngành công nghiệp ôtô của Anh có xu hướng nghiêng về quy mô nhỏ, manh mún.
    1935
    Thành phố Oklahoma, trở thành thành phố đầu tiên trên thế giới lắp đặt các đồng hồ tự động tính tiền đỗ xe.
    Doanh số của thị trường ôtô Mỹ (tính từ 1900) vượt qua 50 triệu chiếc. Cứ 5 người Mỹ thì có một chiếc xe ôtô.
    Nghiệp đoàn Công nghiệp ôtô được thành lập (United Automobile Workers).

    1936
    William C. Durant, người sáng lập General Motors, bị phá sản với một khoản nợ lên tới 1 triệu đôla.
    Với 22% thị phần xe mới của Mỹ, Ford xếp hàng thứ ba trong số các nhà sản xuất ôtô Mỹ. General Motor chiếm 43%, Chrysler đứng thứ hai chiếm 25%. Chỉ ba Đại gia này đã chiếm giữ 90% thị phần xe hơi nước Mỹ.
    1937
    General Motor thừa nhận Nghiệp đoàn công nghiệp ôtô là đại diện hợp pháp cho Công nhân.
    1938
    Ngành công nghiệp ôtô của Mỹ vẫn chịu ảnh hưởng của cuộc Đại suy thoái với sản lượng chỉ dừng lại ở 2.5 triệu xe. Nước sản xuất ôtô đứng thứ hai là Anh với 445 ngàn chiếc, chiếm 9% tổng sản lượng thế giới là 4 triệu chiếc (ít hơn cả sản lượng của Mỹ trong năm 1929). Ngành công nghiệp ôtô non trẻ của Nhật Bản đóng góp 24.000 chiếc.
    1939
    General Motor giới thiệu hộp số tự động.
    General Motor, Ford và Chrysler chiếm 90% sản lượng ôtô của Mỹ. Trong khi đó 10% còn lại thuộc về ‘Middle Five’ bao gồm Hudson, Nash, Packard, Studebaker và Willys-Overland.
    1940
    Tiệu thụ nhiên liệu trung bình hàng năm cho mỗi xe là 773 gallon.
    Bộ Quốc Phòng Mỹ mời 135 nhà sản xuất dự thầu chế tạo một loại xe việt dã 4 bánh chủ động với trọng lượng không vượt quá 1300 pound và tải trọng 500 pound.
    Chỉ có hai công ty dự thầu: American Bantam và Willys-Overland. American Bantam dành được gói thầu nhưng ngay sau đó đã không đáp ứng được yêu cầu về thời gian và thiết kế do Bộ Quốc Phòng Mỹ đặt ra. Willys-Overland được mời vào liên doanh. Các Kỹ sư của Willys-Overland sớm loại bỏ thiết kế nặng nề và yếu ớt của Bantam. Những nỗ lực của Willys đã mang lại thành quả là một chiếc xe việt dã hai cầu có trọng lượng rất nhẹ, trang bị động cơ 4 xi-lanh, 60 mã lực. Cho đến năm 1941, Willys nhận đơn đặt hàng đầu tiên từ Bộ Quốc Phòng Mỹ, những chiếc xe này có tên là ‘Jeep’ và có giá 740 đôla/chiếc. Lô xe ‘Jeep’ cuối cùng mà Quân đội Mỹ đặt hàng là vào năm 1982.
     

Chia sẻ trang này