Đang tải...

CLB Máy bay - Không quân Lịch sử phát triển Hàng không mẫu hạm _ Phần 2

Thảo luận trong 'Câu lạc bộ các ngành kỹ thuật' bắt đầu bởi MTV, 2/11/09.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. MTV
    Offline

    MTV
    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    8/4/09
    Số km:
    1,597
    Được đổ xăng:
    11
    Mã lực:
    181
    Xăng dự trữ:
    91 lít xăng
    [​IMG]
    Chiến tranh thế giới thứ hai

    Các tàu sân bay đóng một vai trò quan trọng trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Với bảy tàu hoạt động, Hải quân hoàng gia có một ưu thế về số lượng to lớn ở đầu cuộc chiến khi cả Đức và Italia đều không có tàu sân bay.

    Tuy nhiên, điểm yếu dễ bị tấn công cả các tàu sân bay trước các tàu chiến truyền thống đã nhanh chóng lộ ra khi tàu HMS Glorious bị tuần dương hạm Đức đánh đắm trong chiến dịch Na Uy năm 1940. Tới chiến tranh thế giới thứ hai, các tàu sân bay chở máy bay trên biển không con được coi là ngang sức với những tàu sân bay mang máy bay quy ước, bởi vì các máy bay quy ước có tầm bay xa hơn, nhanh hơn, với trọng lượng vũ khí đem theo lớn hơn và tính năng tốt hơn; tới cuối cuộc chiến, những chiếc máy bay trực thăng đầu tiên đã thay thế nhiều nhiệm vụ của những máy bay trên biển.


    [​IMG]


    Sự yếu kém rõ ràng này trước các tàu chiến đã thay đổi vào tháng 10 năm 1940 khi chiếc HMS Illustrious tung ra một cuộc tấn công tầm xa vào hạm đội Italia trong Trận Taranto. Chiến dịch này đã làm mất khả năng chiến đấu của ba trong sáu tàu chiến tại cảng và chỉ mất 2 chiếc trong số 21 chiếc máy bay tấn công Fairey Swordfish torpedo bombers. Các tàu sân bay cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc củng cố cho Malta, cả bằng cách vận chuyển máy bay và bảo vệ các đoàn tàu tiếp tế cho hòn đảo đang bị phong tỏa này. Việc sử dụng các tàu sân bay đã làm cho hải quân Italia và Đức vốn chỉ có căn cứ sân bay trên đất liền không thể thống trị trên vùng Địa trung hải.
    Ở Đại Tây Dương, các máy bay từ tàu HMS Ark Royal và HMS Victorious chịu trách nhiệm làm giảm bước tiến của Tàu chiến Bismarck Đức trong tháng 5 năm 1941. Sau đó, các tàu sân bay hộ tống đã chứng minh giá trị của mình trong vai trò bảo vệ các đoàn tàu trong Trận chiến Đại tây dương thứ hai và ở các vùng biển Bắc Cực.
    Nhiều trận chiến lớn ở Thái Bình Dương cũng có sự tham gia của các tàu sân bay. Nhật Bản bắt đầu cuộc chiến với mười chiếc, hạm đội lớn nhất và hiện đại nhất trên thế giới ở thời điểm đó. Ban đầu cuộc chiến có sáu chiếc tàu sân bay Mỹ mặc dù chỉ có ba trong số chúng hoạt động ở Thái bình dương.
    Việc phát triển những ngư lôi lặn ở độ sâu thấp của Nhật Bản năm 1939, vụ tấn công năm 1940 của không quân Anh vào hạm đội Ý ở Taranto, vụ tấn công bất ngờ của Nhật Bản vào tấn công Trân Châu Cảng là một minh chứng rõ ràng của sức mạnh có được khi sở hữu một lực lượng lớn những tàu sân bay hiện đại.
    Đống thời, người Nhật bắt đầu tiến ra khắp Đông Nam Á và vụ đánh chìm tàu Prince of Wales và Repulse của các máy bay có căn cứ trên mặt đất của Nhật Bản khiến cho nảy sinh nhu cầu về những chiếc tàu bảo vệ hạm đội khỏi những cuộc tấn công không quân. Tháng 4 năm 1942, Lực lượng tàu sân bay tấn công nhanh của Nhật Bản chạy vào Ấn Độ Dương và đánh chìm các tàu, gồm cả chiếc tàu sân bay đang được sửa chữa và không được bảo vệ HMS Hermes. Các hạm đội nhỏ hơn của Đồng Minh không được bảo vệ đúng mức đã bị buộc phải rút lui hay bị phá huỷ. Trong Trận chiến biển Coral, các hạm đội Mỹ và hạm đội tàu buôn hoán cải của Nhật Bản đã chiến đấu trận đầu tiên mà không tàu bên nào nhìn thấy nhau. Trong Trận Midway bốn tàu sâu bay Nhật bị đánh chìm trong một cuộc tấn công bất ngờ bởi những chiếc máy bay từ ba tàu sân bay Mỹ lúc ấy đang được cho là ở Thái Bình Dương.
    Sau đó người Mỹ có thể chế tạo được nhiều loại máy bay có thể được chở trên nhiều loại hạm đội, nhẹ và (mới được đưa vào sử dụng) hộ tống những chiếc tàu sân bay. Những chiếc tàu sân bay đó đóng một vai trò quan trọng trong chiến thắng ở chiến tranh Thái Bình Dương. Sự lu mờ của tàu chiến như là một thành phần hàng đầu trong hạm đội đã được minh chứng rõ ràng với việc một lượng lớn tàu chiến từng được chế tạo bị đánh đắm, Tàu chiến Yamato Nhật Bản, bởi máy bay từ tàu sân bay năm 1945. Nhật cũng chế tạo tàu sân bay lớn nhất của cuộc chiến, tàu sân bay Shinano, giống như Yamato, nó được đặt tên theo một tỉnh ở Nhật.

    [​IMG]


    Những cải tiến thời chiến

    Kinh nghiệm chiến đấu đã cho thấy phát minh "mũi tàu chống bão" của Anh là các sử dụng mũi tàu hữu hiệu nhất, hơn cả súng máy hay một tầng thứ nhì. Loại mũi tàu này đã được sử dụng rộng rãi cho các hàng không mẫu hạm Anh và Mỹ. Hàng không mẫu hạm Nhật Taiho là tàu đầu tiên của Nhật sử dụng phát minh này.

    [​IMG]

    Tàu sân bay Taiho mũi chống bão.

    Bắt đầu muộn trong cuộc chiến với lớp tàu sân bay Midway, các tàu sân bay Mỹ đã trở nên to lớn tới mức thực tế việc áp dụng khái niệm thiết kế boong chứa máy bay (hangar deck) trở thành boong mạnh (strenth deck) không còn thích hợp nữa, và mọi tàu sân bay Hoa Kỳ sau này đều có boong cất cánh là boong mạnh, khiến đảo trở thành siêu cấu trúc duy nhất.

    Những tàu sân bay loại nhỏ

    Sự thiệt hại ba tàu sân bay chính liên tiếp ở Thái bình dương buộc hải quân Hoa kỳ phải phát triển tàu sân bay hạng nhẹ (CVL) từ những thân tàu tuần dương hạm hạng nhẹ vốn đã được chế tạo. Chúng được dùng để hỗ trợ thêm các phi đội máy bay chiến đấu cho lực lượng tấn công, và đã chỉ được sử dụng trong hải quân Hoa Kỳ trong chiến tranh thế giới thứ hai. Hải quân hoàng gia cũng đưa ra một thiết kế tương tự cho họ và các nước thuộc Khối thịnh vượng chung sau chiến tranh thế giới thứ hai. Một trong những chiếc tàu sân bay đó, chiếc INS Viraat của Ấn Độ, ban đầu là HMS Hermes, hiện vẫn đang được sử dụng.

    [​IMG]


    Những tàu sân bay hộ tống và Tàu sân bay kiểu tàu buôn

    Để bảo vệ các đoàn tàu trên biển Đại Tây Dương, người Anh đã phát triển một kiểu tàu được gọi là tàu sân bay kiểu tàu buôn, chúng vốn là những tàu buôn được trang bị một boong phẳng cho khoảng sáu chiếc máy bay. Chúng được vận hành bởi những đoàn thủy thủ dân sự, treo cờ thương mại, và mang hàng hóa thông thường tuy nhiên vẫn có hỗ trợ bảo vệ bằng không quân. Bởi vì những tàu đó không có thang máy hay chỗ đỗ cho máy bay, việc bảo dưỡng máy bay bị hạn chế và trong suốt cuộc hành trình, máy bay phải đỗ trên boong.

    Chúng được dùng tạm thời cho tới khi tàu sân bay hộ tống chuyên dụng được chế tạo ở Hoa Kỳ (Xếp hạng ở Hoa Kỳ CVE). Khoảng một phần ba kích thước của một hạm đội tàu sân bay, nó mang khoảng hai tá máy bay với nhiệm vụ chống tàu ngầm. Hơn một trăm chiếc đã được chế tạo hay được hoán cải từ các tàu buôn.

    [​IMG]


    Các tàu sân bay hộ tống sản xuất ở Mỹ thường từ hai kiểu thiết kế thân căn bản: một từ tàu buôn, và một từ tàu chở dầu hơi lớn và tốc độ hơi cao. Bên cạnh việc bảo vệ hộ tống, chúng được sử dụng để vận chuyển máy bay qua biển. Tuy nhiên, một số cũng tham gia vào các trận đánh giải phóng Philippines, nổi tiếng là trận Samar trong đó sáu chiếc tàu sân bay hộ tống và các tàu khu trục đã nhanh chóng tiếp chiến năm tàu chiến Nhật Bản và buộc chúng phải rút lui.

    Tàu buôn có hệ thống phóng

    Là một thứ tàu dùng tạm trong lúc khẩn cấp trước khi các tàu sân bay kiểu tàu buôn được đem ra sử dụng, người Anh đã bảo vệ trên không cho các đoàn hộ tống bằng cách sử dụng Tàu buôn có hệ thống phóng (CAM ships) và các tàu sân bay kiểu tàu buôn. Các tàu buôn có hệ thống phóng vốn là các tàu buôn được trang bị một máy bay, thường là một battle-weary Hawker Hurricane, được phóng bằng một máy phóng. Một khi đã được phóng đi, máy bay không thể đỗ trở lại trên bong và phải hạ cánh xuống biển nếu không thể bay tới đất liền. Trong hai năm, chỉ chưa tới mười vụ phóng kiểu này được thực hiện, tuy thế những chuyến bay đó cũng mang lại một số thành công: hạ sáu máy bay ném bom trong khi chỉ mất một phi công.
    Boong quay góc
    Trong chiến tranh thế giới thứ hai, máy bay phải hạ cánh trên một đường băng song song với trục dài của thân tàu. Máy bay nào đã đỗ trên boong được cho đỗ ở mũi tàu, chỗ cuối đường băng. Một thanh ngăn va chạm được dựng lên phía sau chúng để ngăn máy bay đang hạ cánh khỏi lao vào khu vực đố bởi vì móc giữ của nó móc trượt vào các dây giảm tốc. Nếu điều này xảy ra, thường gây ra thiệt hại nghiêm trọng, thương vong hay thậm chí, nếu thanh chắn không đủ chắc, còn phá hủy các máy bay đã đỗ.
    Một phát triển quan trọng trong thập kỷ 1940 khi người Anh phát minh ra Boong quay góc, nơi đường băng được đặt nghiêng một góc vài độ ngang thân tàu. Nếu một máy bay không móc được cáp giảm tốc, phi công chỉ cần tăng sức động cơ lên tối đa rồi lại cất cánh lại và sẽ không đâm phải các máy bay đã đỗ bởi vì boong quay góc hướng ra ngoài biển. Ảnh chiếc tàu USS John C. Stennis ở phía dưới cho thấy một boong quay góc.

    [​IMG]
    Nguồn vndefendce
     

Chia sẻ trang này