Đang tải...

Lịch sử Subaru

Thảo luận trong 'Hội chơi xe' bắt đầu bởi vietms, 2/7/10.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. vietms
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    25/7/09
    Số km:
    639
    Được đổ xăng:
    26
    Mã lực:
    31
    Xăng dự trữ:
    155 lít xăng
    Subaru là chi nhánh sản xuất ô tô và tên nhãn hiệu xe hơi của Tập đoàn công nghiệp nặng Fuji (FHI) Nhật Bản.
    Subaru được biết đến trên thị trường quốc tế với ứng dụng động cơ dạng boxer trong hầu hết những chiếc ô tô dung tích xylanh trên 1500 cc cũng như cách bố trí hệ thống truyền động bốn bánh, được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1972, đã trở thành thiết bị chuẩn cho các xe cỡ trung và nhỏ trong đa số các hội chợ quốc tế từ năm 1996. Họ cũng bán nhiều phiên bản turbocharged của các xe con, như chiếc Impreza WRX.

    Tập đoàn công nghiệp nặng Fuji, công ty mẹ của Subaru, hiện có quan hệ hợp tác với Toyota Motor Corporation, công ty sở hữu 16.5% cổ phần trong FHI.

    Subaru là tên tiếng Nhật của chòm sao Pleiades, hình ảnh này được thể hiện trên logo Subaru và biểu tượng cho 6 công ty thành viên của FHI.

    Lịch sử
    [​IMG]
    FHI khởi đầu là Phòng nghiên cứu thiết bị bay The Aircraft Research Laboratory vào năm 1917 do Chikuhei Nakajima đứng đầu. Năm 1932, công ty cải tổ lại thành công ty Nakajima Aircraft, và sớm trở thành nhà sản xuất máy bay chính cho Nhật Bản trong suốt chiến tranh Thế giới thứ II. Kết thúc chiến tranh Thế giới thứ II, Nakajima Aircraft được tổ chức lại thành Fuji Sangyo Co, Ltd. Năm 1946, công ty chế tạo ra chiếc xe máy loại nhẹ Fuji Rabbit với đồ phụ tùng máy bay từ trong chiến tranh. Năm 1950, Fuji Sangyo được chia thành 12 công ty nhỏ theo đạo luật cải tổ sắp xếp lại tín dụng cho các công ty năm 1950 của chính phủ Nhật Bản, luật chống tài phiệt. Nhưng năm 1953-1955, bốn trong số những công ty này và một tập đoàn mới Fuji Kogyo, nhà sản xuất xe máy loại nhẹ (xe scooter); Fuji Jidosha chuyên đóng thùng xe ; nhà sản xuất động cơ Omiya Fuji Kogyo; nhà chế tạo khung gầm ô tô Utsunomiya Sharyo và công ty thương mại Tokyo Fuji Dangyo đã quyết định sát nhập với nhau để thành lập tập đoàn công nghiệp nặng Fuji nổi tiếng ngày nay.


    [​IMG]

    Subaru 1500

    Kenji Kita, trong thời gian là CEO của tập đoàn công nghiệp nặng Fuji, đã mong muốn công ty mới tập trung vào sản xuất ô tô và sớm bắt đầu kế hoạch chế tạo một chiếc ô tô với mã P-1. Ông Kita đi vận động công ty ủng hộ những gợi ý về cái tên P1, nhưng không có đề nghị nào đủ lôi cuốn. Cuối cùng, ông đặt cho chiếc xe hơi một cái tên Nhật Bản từng là sở thích riêng của ông từ thời thơ ấu: Subaru. Chiếc Subaru đầu tiên là Subaru 1500. Chỉ có 20 mẫu P1 được sản xuất. Từ năm 1954 đến năm 2008, công ty thiết kế và sản xuất nhiều xe ô tô bao gồm chiếc 1500 (1954), chiếc 360 (1958) với hệ thống làm mát không khí siêu nhỏ, Sambar (1961), mẫu xe 1000 (chiếc xe nhìn thấy trong buổi giới thiệu động cơ boxer năm 1965 ), R-2 (1969), Rex và Leone (1971), BRAT (1978), Alcyone (1985), Legacy (1989), Impreza (1993), Forester (1997), Tribeca (2005), và Exiga (2008).


    [​IMG]

    Subaru 360
    Các cổ đông chính

    Năm 1968, Nissan nắm giữ 20% vốn đầu tư trong thời kỳ hợp nhất do chính phủ của thủ tướng Eisaku Sato yêu cầu ngành công nghiệp ô tô cải thiện tính cạnh tranh. Nissan đã tận dụng khả năng và sự chuyên nghiệp trong lĩnh vực sản xuất xe buýt của FHI để tiến hành sản xuất các dòng xe buýt Nissan Diesel. Nói cách khác, nhiều xe Subaru từ trước đến nay, sử dụng các bộ phận từ hệ thống keiretsu của nhà sản xuất Nissan. Hộp số tự động Subaru, có tên 4EAT, cũng được sử dụng trên mẫu Nissan Pathfinder đầu tiên. Có ý kiến cho rằng chính Subaru là cầu nối Renault với Nissan, khi Renault cần sự giúp đỡ trong công nghệ dẫn động bốn bánh (AWD), và FHI đã đề nghị Renault thảo luận kế hoạch của họ với Nissan, các cuộc thảo luận đó là nhân tố góp phần dẫn đến sự liên minh giữa Renault-Nissan thành công như hiện nay. Tiếp theo việc Renault mua lại cổ phần của Nissan, 20% vốn đầu tư đã được bán cho General Motors.

    Ngày 5/10/2005, Toyota Motor Corporation mua được 8.7% cổ phần của FHI từ General Motors, khi đó đang sở hữu 20.1% cổ phần của FHI từ năm 1999. Sau đó, GM chỉ còn giữ 11.4% vốn đầu tư, hãng bán cổ phần của mình trên thị trường tự do để tách khỏi các ràng buộc với FHI. Trước đây FHI từng tuyên bố họ có 27 triệu cổ phần (3.4%) đạt được trước khi bắt đầu kinh doanh trong một bữa tiệc vào ngày 6/10/2005, và có suy đoán cho rằng đó là một ngân hàng hoặc có thể một nhà sản xuất ô tô khác có dính dáng đến phi vụ này. Sau vụ thu mua, Toyota tuyên bố hợp đồng ký kết với Subaru ngày 13/3/2006 để sử dụng nhà máy sản xuất của Subaru ở Lafayette, Ấn Độ, và Toyota công bố các dự án thuê tới 1,000 công nhân với thiết lập riêng ra một dây truyền lắp ráp cho chiếc Camry bắt đầu trong quý II năm 2007.
    Trong giai đoạn ngắn thuộc về General Motors, mẫu xe Impreza đã bán ở Mỹ như chiếc Saab 9-2X. Chiếc SUV Subaru Tribeca / SAAB 9-6X cũng nằm trong kế hoạch nhưng phiên bản SAAB thì không được tiếp tục sản xuất.
    Model hiện nay

    [​IMG]
    Exiga

    [​IMG]
    Forester

    [​IMG]
    Impreza

    [​IMG]
    Justy

    [​IMG]
    Legacy / Liberty

    [​IMG]
    Tribeca

    Kết quả nỗ lực marketing


    Những năm 1970, công ty quyết định mở rộng phạm vi model từ xe hạng nhỏ Rex và Sambar sang phát triển những dòng xe lớn hơn, với xu thế chủ đạo xe khách như chiếc Leone. Subaru tiếp tục nỗ lực, bằng cuộc giới thiệu mẫu xe Legacy năm 1989 đã mang đến thành công về doanh thu và một hướng phát triển mới cho công ty. Subaru đã quyết định đưa ra bán nhiều sản phẩm hơn do thỏa thuận Plaza Accord năm 1985 khiến giá trị của đồng yên mạnh hơn trong tỷ giá trao đổi với đô la, điều này cũng ảnh hưởng đến việc bán hàng của Subaru tại Mỹ. Legacy thể hiện mong muốn của Subaru cạnh tranh với các nhà sản xuất ôtô Nhật thành công như Toyota, Nissan và Honda, và Legacy được đưa ra cạnh tranh với Camry, Stanza, Accord. Điều này cũng cho thấy nỗ lực của Subaru nhằm cạnh tranh với các nhãn hiệu cao cấp mới như Lexus, Infiniti và Acura, do sự ưa chuộng xe Nhật Bản ngày càng phổ biến ở Mỹ. Subaru tiếp tục hướng đi mới với mẫu Alcyone XT, GT 6 xylanh SVX (1992), và Impreza (1993).

    Từ 1995-2000, Subaru thực hiện một loạt các hoạt động quảng cáo cho dòng Subaru Outback mới phát triển. Các quảng cáo được dự định để làm nổi bật hệ thống dẫn động 4 bánh của Subaru, và mô tả chiếc Outback tại một số địa điểm quanh co của Úc. Khẩu hiệu "Mẫu xe wagon thể thao đa năng đầu tiên trên thế giới" được Subaru sử dụng thành công, mặc dù Eagle AMC đã thử rất nhiều ý tưởng tương tự, không mấy thành công trong những năm 1980.

    Trước khi Outback được giới thiệu, Subaru đã bán một nhãn hiêu Isuzu Trooper được thiết kế tại Nhật Bản là Bighorn Subaru.

    Xe đua

    Subaru Rally Team Japan do Noriyuki Koseki (người sáng lập của Subaru Tecnica International STI), đã sử dụng chiếc Subaru Leone coupé, sedan DL, RX (SRX) và RX Turbo trong World Rally Championship từ 1980 đến1989. Những tay đua kiệt xuất gồm Ari Vatanen, Per Eklund, Shekhar Mehta, Mike Kirkland, Possum Bourne và Harald Demut. Mike Kirkland đã hoàn thành toàn bộ 6 vòng và đã giành chiến thắng A Group tại Safari Rally 1986. Năm đó, Subaru là một trong những nhà sản xuất duy nhất kết hợp 4WD và turbo. Subaru chuyển hướng đua sử dụng xe đua Legacy RS trong giai đoạn 1990-1992 và tham gia vào mùa giải đầu tiên tại World Rally Championship với model tương tự vào năm 1993.

    Các phiên bản sửa đổi của Impreza WRX và WRX STI khá thành công trong cuộc đua; các tay đua Colin McRae (1995), Richard Burns (2001) và Petter Solberg (2003) đã giành được danh hiệu áo vàng chung cuộc World Rally Championship với Subaru World Rally Team, và Subaru đã đoạt danh hiệu nhà sản xuất ba năm liên tiếp 1995-1997. Những chiếc xe tham gia World Rally Championship của Subaru được xử lý đặc biệt và chạy bởi Prodrive, đội mô tô thể thao rất thành công của Anh.


    Ngày 16 tháng 12 năm 2008, có tuyên bố Subaru sẽ không tham gia trong World Rally Championships, do các vấn đề với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, cùng với tiềm năng phát triển cho mùa giải 2009 và thay đổi trong quy định cho mùa giải 2010.

    Bắt đầu từ năm 2006, Subaru của Mỹ (SOA), là nhà phân phối chính thức của xe Subaru tại Mỹ, tham gia vào Subaru Road Racing Team (SRRT) với chiếc Subaru Legacy 2.5 GT Spec-B ở hạng Grand-Am Street Tuner. Năm 2010, SRRT tham gia chiến dịch với chiếc Subaru Impreza WRX STI ở hạng Grand Sport.

    Diesel


    Tại triển lãm ô tô quốc tế Frankfurt 2007, Subaru đã giới thiệu một động cơ kiểu xi lanh xếp nằm ngang, làm mát bằng nước, tay vịn phổ biến, turbodiesel, sử dụng một bộ turbo tăng áp có thể thay đổi hình dạng gọi là động cơ Subaru EE, lần đầu tiên loại này sẽ được trang bị cho một chiếc xe chở khách. Trong những năm 1950, Volkswagen đã thử nghiệm ý tưởng này, và làm ra hai động cơ diesel nguyên mẫu boxer làm mát bằng không khí không cần turbo tăng áp, và trang bị một động cơ ở Type 1 và một loại khác ở Loại 2.

    Động cơ Subaru được định mức 110 kW (150 PS; 148 hp) và 350 N-m (260 ft - lbf) với dung tích xi lanh 2.0 lít. Tháng 3 năm 2008, Subaru đưa ra bán mẫu xe Legacy sedan và wagon, Outback wagon với turbodiesel 2.0 lít tại EU với một hộp số tay 5 cấp.

    Tháng 9 năm 2008, Subaru công bố rằng mẫu xe diesel Forester và diesel Impreza sẽ được giới thiệu tại triển lãm Paris Motor Show 2008, với việc bán xe Forester bắt đầu từ tháng 10 năm 2008 còn diesel Impreza đưa ra bán từ tháng 1 năm 2009. Forester and Impreza có một hộp số sàn 6 cấp, trong khi Legacy và Outback có một hộp số tay 5 cấp.

    Công nghệ mới

    Kể từ model năm 2005, Subaru đã thông qua công nghệ kênh dữ liệu mạng khu vực điều khiển (CAN) cho thị trường Mỹ và Canada. Bắt đầu từ model năm 2007, tất cả các xe Subaru sử dụng công nghệ CAN. Thông thường, hai kênh dữ liệu CAN được sử dụng trên xe: một CAN tốc độ cao chạy ở 500 Kbps cho truyền thông powertrain, và một CAN tốc độ thấp chạy ở 125 Kbps cho chức năng điều khiển thân xe và bảng công cụ. Một bộ thân xe tích hợp (BIU) được sử dụng giữa hai mạng.

    Thành tích bảo vệ môi trường

    Subaru cam kết thực hiện đầy đủ tiêu chuẩn tiên tiến bao gồm tái chế, giảm lượng khí thải độc hại, đào tạo nhân viên, và tiếp tục nỗ lực giúp đỡ nhân viên trong các sáng kiến môi trường của họ. Nhà máy Subaru tại Lafayette, Indiana (SIA) là nhà máy lắp ráp tự động đầu tiên đạt được điều kiện không rác thải, không chuyển thẳng từ dây chuyền sản xuất tới bãi rác. Công ty cũng đã phát triển một kế hoạch tái chế cho những chiếc ô tô “quá hạn sử dụng” của họ. Hầu hết các sản phẩm hiện nay sử dụng nhôm ở thân xe, động cơ, bộ truyền lực, hệ thống treo và nhiều bộ phận khác, nguyên liệu có thể được tái chế khi xe không còn dùng được.

    Một chuyên gia phát biểu trên website Subaru “Năm 2006, SIA được trao giải thành tích vàng của cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ cũng như dẫn đầu trong chương trình WasteWise nhằm giảm bớt rác thải và cải tạo tái chế.” Website cũng nói rằng “Nó trở thành nhà máy lắp ráp tự động đầu tiên ở Mỹ thân thiện với môi trường thiên nhiên”.

    Xe điện

    Tháng 6 năm 2006, Fuji Heavy Industries, Inc. ra mắt chiếc xe điện Subaru Stella, là xe ô tô kei trang bị với một bộ pin lithium-ion. Xe di chuyển trong phạm vi ngắn 56 dặm (90 km) nhưng có giá nhiều hơn chiếc Mitsubishi iMiEV, 4,725,000 Yên (48,200 USD), bao gồm cả thuế tiêu dùng chính phủ Nhật Bản. Sau khi được chính phủ cho phép giảm 14,100 USD, đưa giá bán xuống còn 34,100 USD. Chiếc xe này rất giống xe i-MiEV, với động cơ mô tô 47 kW, có khả năng nạp điện nhanh chóng, nhưng loại ô tô mini 2 cửa có hình hộp. FHI dự kiến bắt đầu phân phối vào cuối tháng 7 và dự tính bán 170 chiếc xe trong tháng 3 năm 2010.
    Tại Nhật, Subaru hiện cũng đang thử nghiệm 2 xe điện Subaru G4e và Subaru R1e.
     

Chia sẻ trang này