Đang tải...

CLB Máy bay - Không quân máy bay quân sự

Thảo luận trong 'Câu lạc bộ các ngành kỹ thuật' bắt đầu bởi camelR1, 3/11/09.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. camelR1
    Offline

    <font color="red">HỘI TRƯỞNG ĐỘC THÂN HỘI</font><i
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    16/9/09
    Số km:
    596
    Được đổ xăng:
    11
    Mã lực:
    31
    Xăng dự trữ:
    135 lít xăng
    Israel Aircraft Industries Kfir (Hebrew: כפיר, "Lion Cub - Sư tử con") là một máy bay tiêm kích đa vai trò, bay trong mọi thời tiết được Israel chế tạo. Nó được phát triển dựa vào những cải tiến trên khung máy bay Dassault Mirage 5, với hệ thống điện tử hàng không của Israel và phiên bản động cơ phản lực turbin General Electric J79 do Israel chế tạo. Mục lục

    [ẩn]

    • 1 Phát triển
      • 1.1 Bối cảnh
      • 1.2 Phát triển
    • 2 Lịch sử hoạt động
      • 2.1 Kfir hoạt động tại các quốc gia khác
        • 2.1.1 Hoa Kỳ
        • 2.1.2 Colombia
        • 2.1.3 Ecuador
        • 2.1.4 Sri Lanka
    • 3 Các phiên bản
    • 4 Các quốc gia sử dụng
    • 5 Thông số kỹ thuật (Kfir C.2)
      • 5.1 Đặc điểm riêng
      • 5.2 Hiệu suất bay
      • 5.3 Vũ khí
    • 6 Tham khảo
      • 6.1 Thông tin thêm
    • 7 Liên kết ngoài
    • 8 Nội dung liên quan
      • 8.1 Máy bay có cùng sự phát triển
      • 8.2 Máy bay có tính năng tương đương
      • 8.3 Danh sách
    Phát triển

    Bối cảnh

    [​IMG]

    F-21A Kfir thuộc phi đội VF-43 tại Căn cứ không quân Hải quân Fallon, Nevada, Hoa Kỳ


    Dự án tạo ra Kfir có thể là một yêu cầu của Israel để làm Dassault Mirage IIIC phù hợp với những yêu cầu đặt biệt của Không quân Israel (IAF).
    Mirage IIICJ là máy bay cánh tam giác, bay trong mọi thời tiết, và là máy bay phản lực siêu âm đầu tiên được Israel mua được, và là một phần cấu thành xương sống của IAF trong thập kỷ 1960, cho đến khi A-4 Skyhawk xuất hiện và quan trọng nhất là F-4 Phantom II, vào cuối thập kỷ 1960. Trong khi Mirage IIICJ tỏ ra vô cùng hiệu quả trong vai trò chiếm ưu thế trên không, nó có tầm hoạt động tương đối ngắn khi sử dụng như một máy bay tấn công mặt đất do có một số giới hạn.
    Như vậy trong giữa thập niên 1960, theo yêu cầu của Israel, hãng Dassault Aviation bắt đầu phát triển Mirage 5, một phiên bản tấn công mặt đất chỉ bay trong thời tiết tốt của Mirage III. Theo sau những đề nghị của Israel, hệ thống điện tử hàng không tiên tiến đặt ở sau buồng lái bị loại bỏ, cho phép máy bay tăng khả năng mang nhiên liệu trong khi giá thành bảo dưỡng được giảm bớt.
    Năm 1968, Dassault đã hoàn thành sản xuất 50 chiếc Mirage 5J cho Israel, nhưng một lệnh cấm vận vũ khí do Chính phủ Pháp áp đặt lên Israel vào năm 1967 đã ngăn cản Dassault thực hiện việc chuyển giao các máy bay. Người Israel đã trả lời bằng việc sản xuất không giấy phép một loạt máy bay sao chép của Mirage 5 mang tên là Nesher (Eagle - Đại bàng), với những đặc điểm kỹ thuật về khung máy bay và động cơ đều do cơ quan tình báo của Israel thu được.[1]
    Phát triển

    [​IMG]

    Kfir CE (C.10). không quân Ecuador, chú ý cần tiếp nhiên liệu và phần mũi dài hơn của phiên bản này.


    Những phát triển của loại máy bay này có được khiến nhiều người nghi ngờ đây là những kết quả do hoạt động bí mật của các cơ quan trong Mossad. Mossad có thể đã có được bản kế hoạch về máy bay Mirage III của Pháp, chúng được sử dụng trực tiếp trong quá trình thiết kế máy bay Kfir.[2] Những người thiết kế tại IAI bắt đầu công việc trong dự án để cải tiến Mirage III, trước hết bằng việc tìm kiếm một động cơ thay thế.
    Hai động cơ được lựa chọn ban đầu cho thử nghiệm là General Electric J79 (động cơ phản lực turbin) và Rolls-Royce Spey (động cơ phản lực cánh quạt đẩy). Cuối cùng, J79 đã được lựa chọn, vì nó cũng được sử dụng trên McDonnell Douglas F-4 Phantom II, do đó Israel dễ dàng mua được loại động cơ này từ Hoa Kỳ, và người Israel mua được loại động cơ này vào năm 1969, cùng với một giấy phép sản xuất J79. J79 rõ ràng mạnh hơn động cơ Atar 09, nó cung cấp lực đẩy kho là 49 kN (11.000 lbf) và lực đẩy khi đốt nhiên liệu phụ trội là 83.4 kN (18.750 lbf).
    Để điều chỉnh động cơ mới vào khung của Mirage III, và phải đáp ứng được yêu cầu làm mát của J79, phần thân máy bay phía sau đã bị rút ngắn và được mở rộng ra, nhưng cửa hút khí được mở rộng, và một lối vào khí lớn được đặt ở đáy của bộ phận thăng bằng thẳng đứng, và do đó sẽ cung cấp thêm không khí để làm mát cho động cơ khi đốt nhiên liệu phụ trội. Động cơ được bọc trong một tấm chắn chịu nhiệt bằng titan.
    Một chiếc Mirage IIIBJ hai chỗ lắp động cơ GE J79 đã thực hiện chuyến bay đầu tiên vào tháng 9-1970, và nhanh chóng sau đó là một chiếc Nesher được lắp thiết bị mới bay vào tháng 9 năm 1971.
    Một nguyên mẫu cải tiến của máy bay có tên gọi Ra'am ("Thunder"),[3] đã bay thử lần đầu vào tháng 6-1973. Nó có một buồng lái được sửa lại nên có tầm nhìn bao quát hơn và rộng hơn, một bộ càng hạ cánh khỏe hơn, và một số lượng đáng kể hệ thống điện tử hàng không do Israel chế tạo. Những thùng nhiên liệu nhỏ được sắp xếp lại, do đó tăng thêm khả năng mang nhiên liệu là 713 gallon.
    Có những báo cáo không được xác nhận về một số chiếc Mirage IIIC đầu tiên được trang bị động cơ J779 và mang tên Barak ("Lightning"),[4] đã tham gia vào Chiến tranh Yom Kippur năm 1973, nhưng những nguồn thông tin đó không được chứng minh.[5]
    Lịch sử hoạt động

    [​IMG]

    IAI Kfir C-2 thuộc không quân Israel


    Kfir bắt đầu hoạt động trong IAF vào năm 1975, đơn vị đầu tiên sử dụng là Phi đội tiêm kích số 1. Những năm sau đó, vài phi đội khác cũng được trang bị với loại máy bay mới. Vai trò của Kfir như một máy bay chiếm ưu thế trên không chính của IAF thực tế đã chết yểu, năm 1976, [[Mỹ] đã chuyển cho Israel những chiếc máy bay chiến đấu F-15 Eagle đầu tiên.
    Hồ sơ về tham chiến đầu tiên của Kfir ghi diễn ra vào ngày 9 thsang 11-1977, trong thời gian diễn ra cuộc không kích của Israel vào một trại huấn luyện khủng bố tại Tel Azia, Liban. Chiến thắng trên không duy nhất của Kfir trong thời gian phục vụ IAF xảy ra vào ngày 27 tháng 6-1979, khi một chiếc Kfir C.2 bắn hạ một chiếc MiG-21 của Syria.
    Vào thời điểm Israel xâm lược miền nam Lebanon năm 1982 (Chiến dịch Hòa bình cho Galilee), IAF đã sử dụng những chiếc F-15 và F-16 cho vai trò chiếm ưu thế trên không, do đó Kfir đã phải chuyển sang nhiệm vụ tấn công không hộ tống. Sau đó, mọi chiếc IAF C.2 bắt đầu được nâng cấp thành phiên bản C.7, phiên bản này có hiệu suất tăng cường như một máy bay tiêm kích-ném bom, báo hiệu vai trò mới mà Kfir sẽ thực hiện trong các mệnh lệnh chiến đấu của IAF.
    Trong đầu thập kỷ 1990, những chiếc Kfir cuối cùng đã rút khỏi biên chế hoạt động trong IAF, sau gần hai mươi năm hoạt động liên tục.
    Kfir hoạt động tại các quốc gia khác

    [​IMG]

    Kfir CE nhìn từ phía trước, với tên lửa Python 3 dưới cánh trái, và một tên lửa Python 4 dưới cánh phải.


    Từ khi động cơ turbin J79 cũng như nhiều công nghệ bên trong Kfir được sản xuất tại Israel dưới các giấy phép sản xuất của Mỹ, mọi hợp đồng mua bán của Kfir đều phải tùy thuộc vào sự phê chuẩn của Bộ ngoại giao Mỹ, một thực tế khiến các hợp đồng của Kfir bị giới hạn tới các quốc gia.
    Kể từ năm 2006, IAI Kfir đã được xuất khẩu tới Colombia, Ecuador, và Sri Lanka.
    Hoa Kỳ

    25 chiếc Kfir-C1 cải tiến đã được Hải quân Hoa Kỳ và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ thuê từ năm 1985 đến năm 1989, để đóng vai máy bay đối phương trong huấn luyện không chiến (DACT). Loại máy bay này được gọi tên F-21A Lion theo cách gọi của Mỹ, nó có cánh mũi nhỏ hơn và một đường ván vuông góc nhỏ trên các cạnh của phần mũi, điều này giúp máy bay cải thiện tính linh hoạt của máy bay, cũng như lái bằng tay ở tốc độ thấp.
    12 chiếc F-21 được hải quân thuê, chúng được biên chế vào phi đội VF-43, có căn cứ tại căn cứ không quân hải quân Oceana. Năm 1988 chúng được trả lại và thay thế bởi những chiếc F-16N. 13 chiếc cho Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ thuê được biên chế trong phi đội VMFT-401 tại Trạm không quân thủy quân lục chiến Yuma. Ngoài màu xanh-xam được sơn trên máy bay, thủy quân lục chiến Mỹ còn có một số chiếc F-21 được sơn màu của Israel và màu cát sa mạc "flogger". Những máy bay này được thay thế bởi những chiếc F-5E khi chúng được trả lại vào năm 1989.
    Colombia

    [​IMG]

    Kfir thuộc phi đội VF-41.


    Năm 1989, khi hiệp định thương mại giữa Colombia và Israel được ký kết, chính phủ Colombia đã mua một lô gồm 12 chiếc IAF Kfir C.2 cũ và 1 chiếc TC.2, chúng được chuyển giao cho Không quân Colombia (FAC) vào năm 1989-1990. Sau đó, mọi chiếc C.2 đã được nâng cấp thành phiên bản C.7. Những chiếc Kfir FAC đã được sử dụng rộng rãi trong các nhiệm vụ tấn công mặt đất trong các chiến dịch chống quân du kích ở Colombia. Kfir được trang bị với những tên lửa Python 3 hồng ngoại. Kể từ năm 2004, 2 chiếc đã mất trong các tai nạn.
    Vào tháng 2-2008, Colombia đã ký một thỏa thuận với chính phủ Israel để mua thêm 24 chiếc IAF Kfir cũ khác. Những máy bay này có lẽ sẽ được nâng cấp bởi Israel Aerospace Industries thành tiêu chuẩn C.10.[6][7]
    Ecuador

    [​IMG]

    IAI Kfir tại Muzeyon Heyl ha-Avir, căn cứ không quân Hatzerim, Israel. 2006


    Vào năm 1981, Ecuador và Israel đã ký một hợp đồng bán 10 chiếc IAF Kfir C.2 và 2 chiếc TC.2 cũ được tân trang lại, chúng được chuyển cho Không quân Ecuador (FAE) vào năm 1982-1983. Những chiếc Kfir được biên chế trong Phi đội 2113 (Lions - Những con sư tử) thuộc Không đoàn tiêm kích 21 của FAE, đặt căn cứ tại căn cứ không quân Taura, trên những vùng đất thấp về phía tây Ecuador.
    Những chiếc Kfir thuộc FAE đã tham gia hoạt động trong thời gian Chiến tranh Cenepa 1995 giữa Ecuador và Peru. Dựa vào phi đội những chiếc A-37B dưới tốc độ âm thanh cho các nhiện vụ tấn công mặt đất ở độ cao thấp vào các vị trí của Peru, không quân Ecuador đã giữ những chiếc Mirage F.1 và Kfir C.2 của mình để sử dụng trong các nhiệm vụ hộ tống và đánh chặn. Vào 10 tháng 2-1995, một chiếc Kfir C.2 đã bắn hạ một chiếc Cessna A-37B của Không quân Peru bằng tên lửa không đối không Shafrir 2.
    Năm 1996, khi tình trạng căng thẳng xảy ra giữa Ecuador và Peru, người Ecuador đã mua tiếp 4 chiếc Kfir khác (3 chiếc C.2 và 1 chiếc TC.2) sau khi nhận được sự chấp thuận từ Bộ ngoại giao Hoa Kỳ.
    Năm 1998, với việc những chiếc tiêm kích-ném bom SEPECAT Jaguar đã già trong các phi đội, chúng đã được rút khỏi các nhiệm vụ tích cực, Ecuador bắt đầu đàm phán với Israel để mua một lô 8 chiếc Kfir. Lo sợ một sự leo thang chạy đua vũ trang tại Nam Mỹ - Peru mới đây đã trang bị 18 chiếc Mikoyan MiG-29 và 18 chiếc Sukhoi Su-25 từ Belarus. Để đối phó với động thái này của Peru, Ecuador và Israel đã ký hợp đồng vào năm 1999 với 2 chiếc Kfir C.10 và chuyển đổi một số chiếc C.2 của FAE thành tiêu chuẩn của C.10, được gọi tên là Kfir CE ở Ecuador, nó có hệ thống hiển thị trên mũ và trang bị tên lửa không đối không hồng ngoại Python 3 và Python 4.
    Năm 2005, Ecuador đã mất 4 chiếc Kfir, bao gồm 1 chiếc TC.1, kể từ khi chúng đi vào hoạt động năm 1982.
    Sri Lanka

    Không quân Sri Lanka (SLAF) có 6 chiếc Kfir C.2 và một chiếc TC.2 từ Israel vào năm 1995-1996. 9 chiếc khác đã được thêm vào bản kiểm kê máy bay năm 2005, bao gồm 4 chiếc C.2 và 4 chiếc C.7 mua năm 2000. Hiện nay SLAF sử dụng hai chiếc TC.2, hai chiếc C.7 và 8 chiếc C.2. SLAF đã sử dụng rộng rãi những chiếc Kfir để thực hiện nhiệm vụ tấn công các mục tiêu thuộc tổ chức LTTE trong các cuộc xung đột hiện nay tại Sri Lanka.[8]
    Các phiên bản

    [​IMG]

    Kfir TC-2 tại bản tàng không quân căn cứ không quân Hatzerim



    • Kfir-C1 : Phiên bản sản xuất cơ bản.
      • F-21A Lion : 25 chiếc Kfir-C1 nâng cấp để cho Hải quân và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ thuê, đóng vai trò máy bay đối phương và có tên gọi F-21A. Những máy bay này được cải tiến và bao gồm cánh mũi ở phần cửa hút khí. Những cánh mũi này đã tăng khả năng thao diễn rất lớn của máy bay và khả năng điều khiển tốc độ chậm, và cải tiến này đã được áp dụng trên những phiên bản sau này.
    • Kfir-C2 : C1 cải tiến với cải tiến nổi bật về hình dáng khí động học. Những thay đổi bao gồm "dogtoothed" (kiểu hình chóp) ở gờ trước cánh máy bay, đường ván nhỏ dưới phần mũi và góc xuôi lớn hơn ở cánh mũi.
    • Kfir-TC2 : Một phiên bản huấn luyện hai chỗ phát triển từ C2. Nó có phần mũi dài hơn và thấp hơn để cải thiện tầm nhìn của phi công.
    • Kfir-C7 : Phiên bản cải tiến gần như toàn bộ. Hầu như đa số nếu không phải mọi chiếc C2 được cải tiến thành phiên bản này. Nó bao gồm động cơ J79-GEJ1E cải tiến tăng thêm 1.000 lb lực đẩy khi đốt nhiên liệu phụ trội (và do đó tăng trọng lượng cất cánh cực đại thêm 3.395 lb), thêm hai giá treo vũ khí dưới khe hút khí, hệ thống điện tử hàng không tốt hơn với radar Elta EL/M-2021B, buồng lái với hình dạng HOTAS và khả năng tiếp nhiên liệu khi bay.
    • Kfir-TC7 : Phiên bản huấn luyện hai chỗ phát triển từ C7.
    • Kfir-C10 : Một phiên bản phát triển đặt biệt cho xuất khẩu. Thay đổi quan trọng là radar Elta EL/M-2032. Những thay đổi khác bao gồm khả năng HMD va hai màn hình hiển thị đa chức năng (MFD) 127*177mm. Phiên bản này cũng còn được gọi là Kfir CEKfir 2000.
    Các quốc gia sử dụng

    [​IMG] Israel
    • Không quân Israel
    [​IMG] Colombia
    • Không quân Colombia
    [​IMG] Ecuador
    • Không quân Ecuador
    [​IMG] Sri Lanka
    • Không quân Sri Lanka
    [​IMG] Hoa Kỳ
    • Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ
    • Hải quân Hoa Kỳ
    Thông số kỹ thuật (Kfir C.2)

    [​IMG]
    Đặc điểm riêng


    • Phi đoàn: 1
    • Chiều dài: 15.65 m (51 ft 4.25 in)
    • Sải cánh: 8.21 m (26 ft 11.5 in)
    • Chiều cao: 4.55 m (14 ft 11.5 in)
    • Diện tích cánh: 34.80 m² (374.60 sq ft)
    • Trọng lượng rỗng: 7.285 kg (16.060 lb)
    • Trọng lượng cất cánh: 10.415 kg (22.961 lb)
    • Trọng lượng cất cánh tối đa: 14.670 kg (32.340 lb)
    • Động cơ: 1× General Electric J-79-J1E do IAl Bedek chế tạo, 52.89 kN (11.890 lb st) và 83.40 kN (18.750 lb st) khi đốt nhiên liệu phụ trội
    Hiệu suất bay


    • Vận tốc cực đại: 2.440 km/h (1.516 mph)
    • Tầm bay: 770 km (480 mi)
    • Trần bay: 17.700 m (58.000 ft)
    • Vận tốc lên cao: 233.3 m/s (45.930 ft/min)
    • Lực nâng của cánh: n/a
    • Lực đẩy/trọng lượng: n/a
    Vũ khí


    • Pháo: 2x pháo DEFA 553 30-mm do Rafael chế tạo, 140 viên/khẩu.
    • Khối lượng vũ khí tải tối đa: 6085 kg (13.415 lb)
      • Bom: Mk-82, GBU-13, Griffin LGBs, TAL-1 và TAL-2 CBUs, BLU-107 Durandal, HOBOS.
      • Tên lửa không dẫn đường
      • Tên lửa: Shrike chống bức xạ (ARM); Maverick không đối đất (ASM); Sidewinder, Shafrir, và seri-Python không đối không (AAM).
     
  2. camelR1
    Offline

    <font color="red">HỘI TRƯỞNG ĐỘC THÂN HỘI</font><i
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    16/9/09
    Số km:
    596
    Được đổ xăng:
    11
    Mã lực:
    31
    Xăng dự trữ:
    135 lít xăng
    Dassault Mirage F1

    [​IMG]
    Dassault Mirage F1CH của Maroc tại Châteaudun (LFOC), Pháp Kiểu Máy bay tiêm kích Hãng sản xuất Dassault Aviation Chuyến bay đầu tiên 23 tháng 12-1966 Được giới thiệu 1973 Hãng sử dụng chính [​IMG] Không quân Pháp
    [​IMG] Không quân Iraq Số lượng được sản xuất 700+ Được phát triển từ Dassault Mirage III
    Dassault Mirage F1 một máy bay tấn công và tiêm kích ưu thế trên không một chỗ ngồi được chế tạo bởi hãng Dassault Aviation của Pháp. Hơn 700 chiếc F1 đã được chế tạo.[1]
    Mục lục

    [ẩn]

    • 1 Lịch sử
    • 2 Các phiên bản khác
      • 2.1 Mirage F-1A
      • 2.2 Mirage F1B
      • 2.3 Mirage F-1C
      • 2.4 Mirage F-1D
      • 2.5 Mirage F-1E
      • 2.6 Mirage F1CR
      • 2.7 Mirage F1CT
      • 2.8 Mirage F1AZ và Mirage F1CZ
    • 3 Lịch sử hoạt động
      • 3.1 Maroc
      • 3.2 Ecuador
      • 3.3 Pháp
      • 3.4 Iraq
    • 4 Các quốc gia sử dụng
      • 4.1 Các quốc gia hiện nay
      • 4.2 Các quốc gia không còn sử dụng
    • 5 Thông số kỹ thuật (Mirage F1)
      • 5.1 Đặc điểm riêng
      • 5.2 Hiệu suất bay
      • 5.3 Vũ khí
    • 6 Tham khảo
    • 7 Liên kết ngoài
    • 8 Nội dung liên quan
      • 8.1 Máy byay có cùng sự phát triển
      • 8.2 Máy bay có tính năng tương đương
      • 8.3 Trình tự thiết kế
      • 8.4 Xem thêm
    Lịch sử

    [​IMG]

    Mirage F1 Không quân Pháp


    Dassault thiết kế Mirage F1 như một người kế vị của mẫu máy bay tiêm kích Mirage III và Mirage 5. Không giống như các mẫu tiền nhiệm, nó có cánh xuôi được đặt cao trên thân, cũng như một thiết kế đuôi bề ngoài theo quy ước.
    Nguyên mẫu đầu tiên, được phát triển do Dassault sử dụng ngân sách riêng của mình, thực hiện chuyến bay đầu tiên vào ngày 23 tháng 12 năm 1966.
    Kiểu chính thức được Không quân Pháp chấp nhận vào tháng 5 năm 1967, tại cùng thời điểm nguyên mẫu thứ ba đã được đặt hàng chế tạo. Với lực đẩy lớn với động cơ phản lực SNECMA Atar 9K-50 sử dụng công nghệ đốt nhiên liệu lần hai, F1 dễ dàng đánh bại Mirage III.
    Dù nó có một sải cánh nhỏ hơn so với Mirage III, F1 tuy vậy tỏ ra là một mẫu máy bay tiêm kích tốt hơn hẳn so với những mẫu máy bay đi trước. Nó có thể mang thêm tới 40% nhiên liệu, quãng đường cất cánh ngắn hơn, tầm hoạt động xa hơn và khả năng thao diễn tốt hơn.
    Để đáp ứng những đơn đặt hàng của Không quân Pháp cho loại máy bay đánh chặn mọi thời tiết, sản phẩm đầu tiên mang tên Mirage F1C đã được trang bị radar đơn xung Thomson-CSF Cyrano IV. Phiên bản Cyrano IV-1 sau đó đã được thêm vào khả năng look-down giới hạn.
    Mirage F1 bắt đầu hoạt động trong biên chế Không quân Pháp vào tháng 5 năm 1973 khi phiên bản sản xuất đầu tiên được chuyển giao. Lúc đầu, mỗi máy bay chỉ được vũ trang với hai khẩu pháo 30 mm ở bên trong thân, nhưng vào năm 1976 tên lửa không đối không tầm trung R530 đã được đưa vào sử dụng. Một năm sau đó, tên lửa R550 Magic cũng được đưa vào trang bị. Cùng thời gian này, tên lửa AIM-9 Sidewinder của Mỹ đã trở thành một phần trong trang bị của Mirage F1, sau khi Không quân Hy Lạp yêu cầu một tính tương thích giữa tên lửa Sidewinder đối với những chiếc tiêm kích Mirage F1CG của mình.
    79 máy bay trong đợt sản xuất tiếp theo được chuyển giao trong thời gian thừ tháng 3-1977 đến tháng 12-1973. Đây là phiên bản Mirage F1C-200 với một đầu tiếp nhiên liệu cố định do đó thân máy bay được mở rộng ra thêm 7 cm.
    Mirage F1 hoạt động như một máy bay tiêm kích đánh chặn chính của Không quân Pháp cho đến khi Dassault Mirage 2000 bắt đầu đi vào hoạt động.
    Các phiên bản khác

    [​IMG]

    Dassault Mirage F1 tại Stahlkocher


    Mirage F-1A

    Máy bay chiến đấu tấn công mặt đất một chỗ, với hệ thống đo xa laser, và khả năng tấn công không đối không hạn chế. Được phát triển bởi SAAF và Dassault.

    • Mirage F-1AD : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1A cho Libya, 16 chiếc.
    • Mirage F-1AZ : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1A cho Nam Phi. 32 chiếc.
    Mirage F1B

    Không quân Pháp cũng đặt hàng 20 chiếc Mirage F1B, một phiên bản huấn luyện hai chỗ, dùng để huấn luyện chuyển đổi hoạt động cho phi công; chúng được chuyển giao từ tháng 10 năm 1980 đến tháng 3 năm 1983. Ghế thứ hai và hệ thống điều khiển được thêm vào khiến thân máy bay phải làm dài thêm 30 cm, nhưng khả năng mang nhiên liệu bên bên trong ít hơn và bỏ đi hai khẩu pháo gắn trong thân.
    Trọng lượng rỗng tăng thêm 200 kg, phần nào đó là do thêm vào hai ghế phóng Martin-Baker Mk 10, thay cho ghế Mk4 được sử dụng trên F1C chỉ có tốc độ hạn chế.
    Trong mọi khía cạnh khác thì F1B là một máy bay có khả năng chiến đấu và nó có thể bù những thiếu sót bằng thùng nhiên liệu và pháo gắn ngoài.

    • Mirage F-1BE : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1B cho Tây Ban Nha. 6 chiếc.
    • Mirage F-1BJ : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1B cho Jordan. 2 chiếc.
    • Mirage F-1BK : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1B cho Kuwait. 2 chiếc.
    • Mirage F-1BK-2 : 4 chiếc được bán cho Kuwait như một phần của đơn đạt hàng tiếp theo.
    • Mirage F-1BQ : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1B cho Iraq.
    Mirage F-1C

    [​IMG]

    Mirage F-1


    Phiên bản tiêm kích đánh chặn mọi thời tiết.

    • Mirage F-1CE : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1C cho Tây Ban Nha. 45 chiếc.
    • Mirage F-1CG : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1C cho Hy Lạp. 40 chiếc.
    • Mirage F-1CH : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1C cho Morocco. 30 chiếc.
    • Mirage F-1CJ : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1C cho Jordan. 17 chiếc.
    • Mirage F-1CK : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1C cho Kuwait. 18 chiếc.
    • Mirage F-1CK-2 : 9 chiếc F-1C được bán cho Kuwait như một phần của đơn đặt hàng tiếp theo.
    • Mirage F-1CZ : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1C cho Nam Phi. 16 chiếc.
    Mirage F-1D

    Phiên bản huấn luyện hai chỗ dựa trên máy bay tiêm kích đa vai trò, cường kích Mirage F-1E.

    • Mirage F-1JE : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1D cho Ecuador. 2 chiếc.
    • Mirage F-1DD : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1D cho Libya. 6 chiếc.
    • Mirage F-1DDA : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1D cho Qatar. 2 chiếc.
    Mirage F-1E

    [​IMG]

    Mirage F-1CG của Hy Lạp với lớp sơn đặc biệt


    Máy bay cường kích và chiến đấu đa chức năng mọi thời tiết một chỗ.

    • Mirage F-1JA : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1E cho Ecuador. 16 chiếc.
    • Mirage F-1ED : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1E cho Libya. 14 chiếc.
    • Mirage F-1EE : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1E cho Tây Ban Nha. 22 chiếc.
    • Mirage F-1EH : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1E cho Morocco. 14 chiếc.
    • Mirage F-1EH-200 : Máy bay của Morocco trang bị cần tiếp nhiên liệu khi bay. 6 chiếc.
    • Mirage F-1EJ : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1E cho Jordan. 17 chiếc.
    • Mirage F-1EQ : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1E cho Iraq. 16 chiếc.
    • Mirage F-1EQ-2 : Phiên bản tiêm kích phòng không một chỗ cho Iraq. 16 chiếc.
    • Mirage F-1EQ-4 : Phiên bản tiêm kích đa vai trò, tấn công mặt đất, trinh sát một chỗ cho Iraq. 28 chiếc.
    • Mirage F-1EQ-5 : Phiên bản chống tàu một chỗ cho Iraq. 20 chiếc.
    • Mirage F-1EQ-6 : Phiên bản chống tàu một chỗ cho Iraq. Chế tạo với số lượng nhỏ.
    • Mirage F-1EDA : Phiên bản xuất khẩu của Mirage F-1E cho Qatar. 12 chiếc.
    Mirage F1CR

    Khi Mirage F1 đã chắc chắn trở thành một sản phẩm máy bay thành công, Dassault bắt đầu nghiên cứu khả năng chế tạo phiên bản trinh sát chuyên dụng khách hàng quan trọng nhâtts là Không quân Pháp. Tuy nhiên, do giá thành tăng cao của máy bay chiến đấu có nghĩa rằng những thiết bị phụ kiện tăng cường cho mục đích này là một giải pháp kinh tế hơn.
    Nhiều máy bay của Không quân Pháp cũng như một số khách hàng của Mirage F1 (chẳng hạn như Mirage F1EQ của Iraq), có nhiều lựa chọn thiết bị trinh sát sẵn có để lắp trên máy bay, chủ yếu chúng được ở bên dưới thân máy bay. Tuy nhiên, việc phát triển máy bay trinh sát chiến thuật cho Không quân Pháp vẫn tiếp tục diễn ra, và nguyên mẫu đầu tiên Mirage F1CR-200 đã bay vào ngày 20 tháng 11-1981.
    Mirage F1CR có thể mang nhiều thiết bị trinh sát khác nhau cả ở bên trong lẫn bên ngoài máy bay:

    • Một bộ quét hồng ngoại SAT SCM2400 Super Cyclone được lắp trong phần không gian trước đó được dùng để đặt khẩu pháo.
    • Một khoảng không gian dưới mũi có thể được dùng cho một camera bao quát Thomson-TRT 40 hoặc camera thẳng đứng Thomson-TRT 33.
    • Radar Cyrano IVM-R có các modul thêm vào cho công việc vẽ bản đồ tình trạng và bản đồ mặt đất.
    • Những cảm biến quang học và điện tử bổ sung có thể được mang ở các giá troe dưới thân và cánh.
    Tổng cộng có 64 chiếc Mirage F1CR được Không quân Pháp đặt hàng. Đơn vị đầu tiên sử dụng loại máy bay này bắt đầu hoạt động vào tháng 7-1983.
    Mirage F1CT

    [​IMG]

    Mirage F1CT "30-QS" thuộc phi đội 2/30


    Mirage F1CT là phiên bản tấn công mặt đất chiến thuật của Mirage F1C-200. Hai nguyên mẫu đầu tiên là những chiếc Mirage F1C-200 chuyển đổi. Chuyến bay đầu tiên thực hiện vào ngày 3 tháng 5-1991. Khoảng 55 chiếc đã được sản xuất cho đến năm 1995.
    Chương trình Mirage F1CT đã mang hệ thống điện tử hàng không của F1C lên thành tiêu chuẩn của F1CR:

    • Radar Cyrano IV được thay thế bởi Cyrano IVM-R.
    • Hệ thống dẫn đường/tấn công được nâng cấp và bao gồm một thiết bị đo xa bằng laser.
    • Ghế phóng Mk 10 được thêm vào.
    • Radar dò tìm và các thiết bị cảnh báo được cải tiến, trang bị kim loại gây nhiễu/pháo sáng, và những máy radio an toàn cải tiến cũng được thêm vào.
    • Hệ danh sách những vũ khí mới được bổ sung.
    Mirage F1AZ và Mirage F1CZ

    Không quân Nam Phi (SAAF) đã sử dụng cả phiên bản tấn công mặt đất Mirage F1AZ cũng như phiên bản chiến đấu Mirage F1CZ trang bị radar. Atlas Aircraft Corporation, một hãng sản xuất máy bay của Nam Phi, đã có được giấy phép nhượng quyền chế tạo Mirage F1, mặc dù nó chưa bao giờ được biết đến nếu có từng được sản xuất cho các phi đội của SAAF.
    Hai mẫu đầu tiên của đợt đặt hàng lần thứ nhất (48 máy bay, gồm 32 chiếc F1AZ và 16 chiếc F1CZ) đã được chuyển giao vào ngày 5 tháng 4-1975. Cả hai chiếc F1CZ được chở đến Nam Phi bí mật bằng một chiếc C-130 Hercules của SAAF. Trong tháng 7 cùng năm, tiếp tục những chiếc F1CZ đã được chuyển giao. Vào năm 1975, những chiếc F1CZ cũng đã xuất hiện trong một triển lãm hàng không tại Nam Phi, nhưng công chúng không được thông báo những máy bay đó đã hoạt động trong SAAF.
    F1AZ được phát triển do Dassault và SAAF cùng bắt tay hợp tác, đây là phiên bản tấn công mặt đất chuyên dụng. F1AZ có một thiết bị đo khoảng cách bằng laser, cho phép các đạn dược không được dẫn đường trúng vào mục tiêu một cách vô cùng chính xác, mà trong đó có cả bom và tên lửa. Thiết kế quang học do hãng ARMSCOR, và công ty con Optics (sau này là ELOPTRO) của Nam Phi thực hiện. Mặc dù những máy bay này ngừng hoạt động vào năm 1997 nhưng thông tin chính xác mà các vũ khí trang bị F1AZ vẫn được coi là bảo mật đối với SAAF, nhưng các nhà phân tích quan sát của các cơ quan lại có nhiều tin tức từ nhiều nguồn (ví dụ như Jane's Defence Weekly) và các bản báo cáo của phi công (ví dụ như Commandant Dick Lord, 'Vlamgat', 1999) đã kết luận rằng phiên bản F1AZ sử dụng vũ khí có độ chính xác cao là những công nghệ đạn đạo không dẫn đường sử dụng trên F-15E Strike Eagle do USAF cung cấp. (Nguồn: Jane's 'F15', Electronic Arts, 1996; Jane's All the World's Aircraft, 2000)
    Những chiếc F1AZ được chuyển giao từ tháng 11-1975 đến tháng 10-1976. Chúng được biên chế trong Phi đội 1, tại Căn cứ không quân Waterkloof. Việc mua bán này cũng được giữ bí mật tránh khỏi phần còn lại của thế giới — phi đội 1 không được phép để lộ những máy bay mới nay cho đến tháng 2 năm 1980.
    [​IMG]

    Mirage F1JA của Ecuado


    Cả hai phiên bản đều tham gia hoạt động chiến đấu tại Angola, trong thời gian này hai chiếc MiG-21 của Angola đã bị bắn hạ bởi những chiếc F1CZ. Ít nhất một chiếc F1CZ đã bị bắn hạ bởi một tên lửa đất đối không của Angola. Một chiếc Mirage F1 của SAAF đã bị hư hại bởi một tên lửa không đối không R-60/AA-8 Aphid trong khi đang giao chiến trên không vào ngày 29 tháng 9 năm 1987 với một chiếc MiG-23 của Cuba và sau đó đã phải rút khỏi biên chế sau khi hạ cánh khẩn cấp do máy bay bị hư hại nghiêm trọng.
    SAAF ngừng sử dụng những chiếc F1CZ vào năm 1992, sau đó là F1AZ vào năm 1997. Vào năm 1998, Đại học Stellenbosch đã nhận được một chiếc F1-CZ cho phòng công nghệ hàng không của trường.
    Như một cuộc thí nghiệm, hãng Aerosud, một hãng hàng không liên quan của Nam Phi, đã trang bị cho một chiếc Mirage F1 một động cơ Klimov RD-33, loại động cơ này cũng được trang bị trên MiG-29. Sự phát triển này đã tạo ra "SuperMirage" F1, và để giữ sự phân biệt của máy bay phương Tây đầu tiên đã thực hiện một cuộc trình diễn tại Triển lãm hàng không MAKS tại Moscow.
    Vào năm 2004, đã có trên 21 chiếc F1AZ được thông báo đang lưu trữ tại Căn cứ không quân Hoedspruit, để đợi khách hàng có năng lực mua chúng. Trong tháng 4 năm 2006 người ta thông báo những chiếc F1AZ này đã được Gabon mua và giá thành trong khaongr 40 triệu ZAR. Ngày 17 tháng 8-2006, hãng thông tấn của Pháp là Agence France-Presse (AFP) thông báo rằng co hai chiếc F1AZ cũ nâng cấp của Nam Phi đã tham gia một cuộc biểu diễn qua Libreville trước ngày lễ kỷ niệm độc lập của Gabon. Việc nâng cấp và tân trang máy bay do hãng Aerosud thực hiện. Tổng giám đốc của Aerosud Group là ông Paul Potgieter đã xác nhận công ty của mình có liên quan, nhưng từ chối cho biết những con số hay trích dẫn. Người ta cũng chỉ thông báo cùng thời gian Gabon chỉ mua 3 chiếc Mirage F1 từ Nam Phi.
    Lịch sử hoạt động

    Vì thành công của Mirage F1 trong thị trường xuất khẩu, loại máy bay này đã tham gia chiến đấu trong một số lực lượng không quân ở những địa điểm khác nhau trên khắp thế giới.
    Maroc

    [​IMG]

    Mirage F1-CR-200 trong Triển lãm hàng không Paris 1991


    30 chiếc Mirage F1CH đã được Không quân Hoàng gia Maroc (RMAF) đặt hàng Dassault vào năm 1975, đợt giao hàng đầu tiên được diễn ra vào năm 1978. Những chiếc Mirage F1CH đã nhanh chóng được sử dụng trong các hoạt động quân sự vào năm 1979 nhằm chống lại lực lượng Mặt trận Polisario hoạt động tại Tây Sahara. Trong khi tấn công đội hình chiến đấu của lực lượng Polisario, những chiếc Mirage F1 đã phải đối đầu với hệ thống hỏa lực súng máy phòng không và tên lửa SA-7, những loại vũ khí này đã bắn hạ chiếc Mirage F1 đầu tiên vào tháng 11-1979. Từ năm 1981, những người chống đối cũng đã sử dụng tên lửa SA-6 và SA-9 do Libya cung cấp, và sau đó 2 chiếc Mirage F1CH cũng đã bị bắn hạ vào tháng 10-1981, RMAF đã phải thiết lập một chương trình cấp tốc, lắp đặt những mảnh kim loạt gây nhiễu/pháo sáng trên các máy bay của họ. Mặc dù vậy, vũ khí phòng không của lực lượng Polisario cũng đã gây những tổn thất cho các phi đội Mirage của Maroc, ít nhất 7 chiếc đã bị bắn hạ và 6 chiếc khác mất trong những tai nạn trong khoảng thời gian 1979-1988, khi một hiệp định ngừng bắn được ký kết.[2]
    Ecuador

    [​IMG]

    Mirage F1B


    Không quân Ecuador (tiếng Tây Ban Nha: Fuerza Aérea Ecuatoriana, viết tắt FAE) sử dụng các phi đội Mirage F1JA (Escuadrón de Caza 2112) trong chiến đấu vào tháng 1-tháng 2 năm 1981 trong thời gian diễn ra Chiến tranh Paquisha giữa Ecuador và Peru, cuộc chiến này diễn ra sau khoảng 2 năm những chiếc Mirage F1JA được chuyển giao cho FAE. Vào thời gian đó, Ecuador đã quyết định đáp trả những khiêu khích trực tiếp của Không quân Peru (tiếng Tây Ban Nha: Fuerza Aérea del Perú, viết tắt FAP), những chiếc Mirage 5P và Sukhoi Su-22M của Peru đã yểm trợ các hoạt động vận chuyển bằng trực thăng trong khu vực giao tranh. Thay vào đó, những chiếc Mirage F1JA đã giữ khoảng cách, được dùng để tuần tra chiến đấu (CAP) ở vùng ranh giới giao tranh, nếu những va chạm trên biên giới nổ ra sẽ dẫn đến những hoạt động thù địch mở rộng.
    Vào năm 1995, trong Chiến tranh Cenepa, những chiếc Mirage của Ecuador đã tham gia vào các hoạt động chống lại Peru. Thời gian nay, trong khi phần lớn của phi đội được giữ tại Căn cứ không quân Taura, một số lượng nhỏ Mirage F1 và Kfir C.2 đã được triển khai tới một căn cứ phía trước để ngăn cản các máy bay tấn công của Peru đi vào khu vực giao tranh. Ngày 10 tháng 2-1995, 2 chiếc Mirage F1JA do phi công là thiếu tá R. Banderas và đại úy C. Uzcátegui trang bị với tên lửa không đối không Matra R550 Magic, đã định hướng được 5 mục tiêu bay qua biên giới từ Peru theo hướng thung lũng Cenepa. Sau khi tiếp xúc trực quan, những chiếc Mirage đã khai hỏa những tên lửa của mình, bắn hạ hai chiếc Su-22M của Peru, trong khi một chiếc Kfir đã phá hủy một chiếc A-37B Dragonfly tiếp theo.[3][4][5][6]
    Pháp

    Mirage F1 thuộc Không quân Pháp được triển khai hoạt động lần đầu tiên vào năm 1984 trong Chiến dịch Manta, một sự can thiệp của Pháp tại Chad, nhằm ngăn chặn sự xâm lấn của Libya. 4 chiếc Mirage F1C-200 đã hỗ trợ cho một lực lượng gồm 4 chiếc Jaguar, và tham gia vào những cuộc giao tranh nhỏ chống lại những người chống đối thuộc GUNT thân Libya.
    Vào năm 1986, Mirage F1 của Pháp đã trở lại Chad, như một phần của Chiến dịch Epervier, với 4 chiếc F1C-200 hỗ trợ chiến đấu cho một nhóm gồm 8 chiếc Jaguar trong cuộc oanh tạc tấn công căn cứ của Libya tại Ouadi Doum vào ngày 16 tháng 2. 2 chiếc F1CR cũng đã thực hiện nhiệm vụ bay trinh sát trước và sau cuộc tấn công.[7][8]
    Vào tháng 10 năm 2007, 3 chiếc Mirage 2000 và 3 chiếc Mirage F1 đã được triển khai tại Căn cứ Không quân Kandahar, nơi chúng thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ tầm gần từ trên không và trinh sát chiến thuật trong hỗ trợ các lực lượng quốc tế tại miền Nam Afghanistan.[9][10]
    Iraq

    Trong thời gian diễn ra Chiến tranh Iran-Iraq, những chiếc Mirage F1EQ của Iraq đã được sử dụng phần lớn cho nhiệm vụ đánh chặn, tấn công mặt đất và chống tàu.[11]
    Thời gian cuối của chiến tranh Iran-Iraq, một cuộc chiến tranh nhỏ giữa những đơn vị sử dụng Mirage F1 EQ-5/6 của Iraq và F-14 của Iran từ tháng 2 đến tháng 7 năm 1988. Phi công F1 đã săn lùng và tấn công những chiếc Tomcat của Iran bất cứ thời điểm nào thích hợp. F1EQ-6 được trang bị hệ thống EMC, làm giảm hiệu lực của hệ thống điều khiển hỏa lực/radar AWG-9 của F-14. Một lần vào ngày 19 tháng 7 năm 1988, 4 chiếc Mirage đã tấn công 2 chiếc F-14 và bắn hạ cả hai, và không mất một chiếc Mirage nào.
    Ngày 17 tháng 5-1987, một phi công của Không quân Iraq điều khiển một chiếc F1EQ đã bắn hai tên lửa chống tàu Exocet vào tàu khu trục nhỏ trang bị đạn điều khiển USS Stark (FFG-31) của Mỹ tại Vinh Persian.[1]
    Vào những phút mở đầu cuộc Chiến tranh vùng Vịnh ngày 17 tháng 1-1991, một chiếc EF-111 của Không quân Mỹ không vũ trang do đại úy James A. Denton và đại úy Brent D. Brandon đã hạ một chiếc Dassault Mirage F1EQ của Iraq, trong khi chiếc F1EQ đang hoạt động trên mặt đất, đã khiến chiếc F-111 này trở thành chiếc đầu tiên và duy nhất giành chiến thắng trên không đối với một máy bay khác.
    Lực lượng liên minh đã bắn hạ vài chiếc Mirage của Iraq trong chiến tranh vùng vịnh năm 1991. 2 chiếc F1EQ chuẩn bị thực hiện một cuộc tấn công lực lượng hải quân Mỹ bằng tên lửa Exocet đã bị bắn hạ bởi một chiếc F-15C của Không quân Hoàng gia Saudi.
    Các quốc gia sử dụng

    [​IMG]

    Các quốc gia sử dụng F1


    [​IMG]

    Mirage F1EDA của Qatar


    Các quốc gia hiện nay

    [​IMG] EcuadorKhông quân Ecuador sử dụng 16 F1JA & 3 F1JE. [​IMG] PhápKhông quân Pháp sử dụng 250 chiếc. Hiện nay chỉ còn duy nhất 3 phi đội sử dụng. [​IMG] GabonKhông quân Gabon sử dụng 3 F1AZ (1 chiếc có thể là F1CZ). [​IMG] IranKhông quân Cộng hòa Hồi giáo Iran sử dụng khoảng 24 F1EQ và F1BQ, những chiếc máy bay này do các phi công Iraq bay sang khi Chiến tranh vùng Vịnh 1991 nổ ra. [​IMG] JordanKhông quân Hoàng gia Jordan sử dụng 17 F1CJ, 17 F1EJ, 2 F1BJ & 2 F1DJ. [​IMG] LibyaKhông quân Libya sử dụng 16 F1AD, 16 F1ED & 6 F1DD. Tất cả hiện nay đang được bảo quan nhưng một số (29 chiếc) có thể sẽ được sử dụng trở lại.[12] [​IMG] MarocKhông quân Hoàng gia Maroc sử dụng 30 F1CH & 20 F1EH. [​IMG] Tây Ban NhaKhông quân Tây Ban Nha sử dụng 42 F1CE, 24 F1EE & 6 F1BE. F1 của Tây Ban Nha hiện nay được sử dụng cho nhiệm vụ Kiểm soát Không phận biển Baltic. Các quốc gia không còn sử dụng

    [​IMG] Hy LạpKhông quân Hy Lạp sử dụng 40 F1CG. [​IMG] IraqKhông quân Iraq sử dụng 93 F1EQ & 15 F1BQ. [​IMG] KuwaitKhông quân Kuwait sử dụng 27 F1CK & 6 F1BK. [​IMG] QatarKhông quân Qatar sử dụng 13 F1EDA & 2 F1DDA. [​IMG] South AfricaKhông quân Nam Phi sử dụng 32 F1AZ & 16 F1CZ. Thông số kỹ thuật (Mirage F1)

    [​IMG]
    Đặc điểm riêng


    • Phi đoàn: 1
    • Chiều dài: 15.33 m (50 ft 3 in)
    • Sải cánh: 8.44 m (27 ft 8 in)
    • Chiều cao: 4.49 m (14 ft 8 in)
    • Diện tích cánh: 25 m² (270 ft²)
    • Trọng lượng rỗng: 7.400 kg (16.000 lb)
    • Trọng lượng cất cánh: 11.130 kg (24.540 lb)
    • Trọng lượng cất cánh tối đa: 16.200 kg (35.700 lb)
    • Động cơ: 1× động cơ phản lực SNECMA Atar 9K-50 đốt nhiên liệu lần hai
    Hiệu suất bay


    • Vận tốc cực đại: Mach 2.3 (2.573 km/h, 1.600 mph) trên 11.000 m (36.000 ft)
    • Bán kính chiến đấu: 425 km (229 nm, 265 mi)
    • Tầm bay: 2.150 km (1.160 nm, 1.335 mi)
    • Trần bay: 20.000 m (66.000 ft)
    • Vận tốc lên cao: 215 m/s (42.300 ft/min)
    • Lực nâng của cánh: 450 kg/m² (91 lb/ft²)
    • Lực đẩy/trọng lượng: 0.64
    Vũ khí


    • 2× pháo 30 mm (1.18 in) DEFA 553 gắn trong
    • 6.300 kg (14.000 lb) vũ khí trên 5 giá treo bên ngoài
    • 2 giá treo ở đầu cánh
     
  3. camelR1
    Offline

    <font color="red">HỘI TRƯỞNG ĐỘC THÂN HỘI</font><i
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    16/9/09
    Số km:
    596
    Được đổ xăng:
    11
    Mã lực:
    31
    Xăng dự trữ:
    135 lít xăng
    Su-17/Su-20/Su-22 [​IMG]
    Su-22UM3K, Triển lãm hàng không Radom 2007 Kiểu Máy bay tấn công mặt đất Hãng sản xuất Sukhoi Chuyến bay đầu tiên 2 tháng 8-1966 Được giới thiệu 1972 Tình trạng Hoạt động tích cực Hãng sử dụng chính [​IMG] Không quân Xô Viết
    [​IMG] Không quân Ba Lan
    [​IMG] Không quân Nhân dân Việt Nam Số lượng được sản xuất 2,867 Được phát triển từ Sukhoi Su-7 Những phương án tương tự Su-20
    Su-22 Sukhoi Su-17 (tên ký hiệu của NATO 'Fitter') là một máy bay tấn công của Liên Xô, được phát triển từ máy bay tiêm kích/ném bom Su-7. Loại máy bay này rất thành công, với một thời gian dài phục vụ trong không quân Xô Viết và không quân Nga. Dòng máy bay này được xuất khẩu rộng rãi tới các nước Đông Âu, Châu Á, và Trung Đông.
    Mục lục

    [ẩn]

    • 1 Lịch sử
    • 2 Các phiên bản
    • 3 Các nước sử dụng
    • 4 Thông số kỹ thuật (Su-17M-4)
      • 4.1 Đặc điểm riêng
      • 4.2 Hiệu suất bay
      • 4.3 Vũ khí
    • 5 Tham khảo
    • 6 Liên kết ngoài
    • 7 Nội dung liên quan
      • 7.1 Máy bay có chung sự phát triển
      • 7.2 Máy bay có tính năng tương đương
    Lịch sử

    Lịch sử của Su-17 bắt đầu như một nỗ lực để cải tiến máy bay tiêm kích/ném bom Su-7. Dù Su-7 có một số ưu điểm, bao gồm một bộ khung vững chắc và tốc độ bay thấp hoàn hảo, nhưng cánh nó có những điểm méo mó nhỏ và nó có tốc độ cất cánh hạ cánh lớn do đó đòi hỏi phải có đường băng dài.
    Những nghiên cứu của trung tâm khí động học Xô Viết, TsAGI, đã đề xuất một hình dạng cánh cụp cánh xòe. Cánh có hình dạng thay đổi được có thể xòe ra để nâng cao tốc độ ở độ cao thấp và hiệu suất tuần tra, hay cụp lại để bay với tốc độ cao hơn. Vài mẫu cánh VG planform đã được phát triển, cho Su-7 (và máy bay ném bom Tupolev Tu-22), hình dạng được chọn cho phép chỉ phần ở phía ngoài chuyển động, để lại một đoạn cánh phía trong cố định. Ngoài việc làm cho máy bay dễ dàng tương thích với cánh mới, thân máy bay cũng được thiết kế sửa chữa cho phù hợp, bộ phận bánh máy bay được chuyển vào những khoang nhỏ trong cánh thay vì trong thân như trước kia, cho phép mở rộng giá treo vũ khí dưới thân, điểm treo vũ khí dưới cánh được đặt dưới phần cánh cố định.
    Một sửa đổi trên Su-7 với cánh mới đã được xây dựng và nó bay lần đầu tiên vào 2 tháng 8-1966 với tên gọi là Su-7IG (изменяемой геометрии - izmenyaemoi geometrii, "có thể thay đổi được hình dạng") (hay S-22I). Cánh điều khiển bằng tay, nó có thể quay góc 28°, 45°, và 63°. Những kết quả rất khả quan, nó có thể trình diễn bay tốc độ thấp, khoảng cách cất cánh và hạ cánh giảm xuống một nửa, và quan trọng là nó có thể mang được những vũ khí hạng nặng.
    Những quan sát viên của Phương Tây đã có những ý niệm mơ hồ về loại máy bay mới đã bay thử tại sân bay Domodedovo, Moscow vào tháng 7-1967, họ được xem như loại máy bay đó là Su-7IG (tên ký hiệu của NATO 'Fitter-B') chỉ bay thử nghiệm, và họ đã rất ngạc nhiên khi các đơn vị không quân của Liên Xô trang bị loại máy bay đó vào năm 1972.
    Loại máy bay mới, được biết đến trong các phòng thiết kế là S-32, đã có tên gọi chính thức là Su-17. Trong các hoạt động tại các đơn vị nó thường được gọi với cái tên "Strizh", tiếng Nga cho "Martlet - Chim nhạn không chân". Phiên bản sản xuất chính đầu tiên là Su-17M, với động cơ khỏe hơn và hệ thống điện tử mới, như thùng nhiên liệu thêm ở trên lưng. Một phiên bản xuất khẩu "làm nhẹ bớt" đã được thiết kế với tên gọi Su-20, với các giảm bớt tiêu chuẩn trang bị. Cả 3 phiên bản đầu tiên đều được NATO gán tên là Fitter-C.
    [​IMG]

    Su-17


    Sukhoi OKB sau này đã phát triển một danh sách dài những phiên bản có tính năng ưu việt. Phiên bản dành cho Liên Xô có tên gọi là Su-17, phiên bản xuất khẩu tương đương có tên gọi là Su-22. Khoảng 3000 chiếc Su-17 và các phiên bản của nó đã được sản xuất từ giữa năm 1966 đến khi kết thúc sản xuất vào năm 1991. Liên Xô đã sử dụng Su-17 rộng rãi trong Chiến tranh Afghanistan, với 100-150 chiếc phục vụ trong cuộc chiến đó. Nhiều chiếc đã bị bắn hạ bởi tên lửa đất đối không FIM-92 Stinger của Mỹ. 3 chiếc Su-22 đã bị bắn hạ trên không bởi những chiếc F-16 của Pakistan, khi những chiếc máy bay của Liên Xô bay lạc vào trung tâm vũ trụ của Pakistan.
    Những chiếc 'Fitter' cánh cụp cánh xòe cũng được sử dụng trong chiến tranh ở Libya và Iraq. 2 chiếc Fitter của Libya đã bị bắn hạ trong sự kiệm Vịnh Sidra bởi những chiếc F-14 của hải quân Hoa Kỳ vào 19 tháng 8-1981. Nhiều chiếc cũng đã bị mất trong suốt chiến trang Iran-Iraq vào những năm 1980, và hơn 6 chiếc đã bị không quân Hoa Kỳ phá hủy trong Chiến tranh vùng vịnh.
    Khả năng thao diễn của Su-17 khá kém, dù phiên bản cải tiến Su-7B đã có những thay đổi. Nó khá lớn, gây tiếng ồn lớn và tạo nhiều khói. Nó được thiết kế với nhiệm vụ chính là tấn công mặt đất, nhưng nó lại tham gia không chiến tương đối nhiều. Không quân Nga đã cho những chiếc Su-17 về hưu, nhưng còn khoảng 550 chiếc vẫn đang hoạt động trong biên chế của không quân các nước khác trên thế giới.
    Các phiên bản


    • Su-7IG ('Fitter-B'): chuyển đổi từ Su-7BMK để xây dựng khái niệm bay.
    • 'Fitter-C' (tên ký hiệu của NATO giống với một sô phiên bản):
      • Su-17: được chế tạo lại với số lượng nhỏ (khoảng 24 chiếc) vào năm 1969, được dựa trên mẫu Su-7U huấn luyện 2 chỗ, với phần lưng phình lên cho các bình chứa nhiên liệu (4.550 lít). Nó giữ lại động cơ Lyulka AL-7F-1 của Su-7 (68.64 kN/15.432 lbf lực đẩy chính hay 99.12 kN/22.282 lbf khi đốt nhiên liệu lần 2).
      • Su-17M: phiên bản sản xuất chính, bắt đầu sản xuất vào năm 1971, gồm động cơ Lyulka AL-21F-3, 2 chỗ, hệ thống dẫn đường/tấn công mới (giữ lại radar khoảng cách SRD-5M, dù hãm ở đuôi của Su-7BMK). Có vận tốc cực đại là Mach 2.1, phiên bản xuất khẩu tương đương có tên gọi là Su-20.
      • Su-17R: một số nhỏ máy bay Su-17M trang bị hệ thống trinh sát. Phiên bản xuất khẩu tương đương có tên gọi là Su-20R.
    Tập tin:Su17 12.jpg Su-22 không quân Nga



    • Su-17M-2D ('Fitter-D'): giới thiệu trong năm 1974 với phần mũi mở rộng 38 cm, loại bỏ radar khoảng cách để cải thiện tầm nhìn của phi công. Phần mũi chứa hệ thống tìm đường laser/dò tìm mục tiêu (LRMTS), radar dẫn đường DISS-7 Doppler. Phiên bản xuất khẩu có tên gọi Su-17M-2K ('Fitter-F'), loại bỏ LRMTS, thay thế động cơ cũ bằng động cơ Tumanskii/Khatchaturov R-29BS-300 (tương tự như trên MiG-23) công suất sau khi đốt nhiên liệu lần 2 là 112.76 kN (25.348 lbf).
    • Su-17UM-2D ('Fitter-E'): phiên bản huấn luyện 2 chỗ đầu tiên, dựa trên Su-17M-2D, nhưng có một số điểm khác biệt, thân máy bay dài hơn do kính chắn gió di chuyển lên phía trước, có cùng chiều dài như Su-17M. Khả năng mang nhiên liệu bên trong bị giảm bớt và pháo cũng bị loại bỏ, nhưng có hệ thống điện tử và vũ khí đầy đủ. Phiên bản xuất khẩu, sử dụng động cơ R-29BS-300 giống như Su-17M-2K, có tên gọi là Su-17UM-2K.
    • Su-17UM-3 ('Fitter-G'): phiên bản huấn luyện được nâng cao lên, cánh đuôi thẳng đứng và cánh bụng có thể dời đi được. Không giống đa số những model sau của Fitter, nó giữ lại đầu vào không khí, cho phép máy bay đạt được vận tốc Mach 2.1. Hệ thống điện tử không chiến bị loại bỏ cho hệ thống mới cho phép giáo viên mô phỏng những cuộc tấn công và tình trạng khẩn cấp khi đang bay. Phiên bản huấn luyện có tên gọi Su-22UM-3K, một số sử dụng động cơ Lyulka, còn số khác dùng động cơ Tumanskii/Khatchaturov.
    [​IMG]

    Một vài kiểu Su-17 và Su-22



    • Su-17M-3 ('Fitter-H'): phiên bản ghế đơn dựa trên Su-17UM-2D, nhưng chỉ với buồng lái đơn, giữ lại 2 pháo. Radar Doppler di chuyển vào trong. Giá treo tên lửa K-13 (AA-2 'Atoll') hoặc R-60 (AA-8 'Aphid') được thêm vào giữa 2 giá treo mỗi cánh. Khả năng chứa nhiên liệu bên trong gia tăng với 4.850 lít. Phiên bản xuất khẩu, giống phần lớn ngoại trừ sử dụng động cơ R-29BS-300, có tên gọi Su-22M-3K ('Fitter-J').
    • Su-17M-4 ('Fitter-K'): phiên bản sản xuất cuối cùng, sản xuất bắt đầu vào năm 1980, với việc nâng cấp đáng kể hệ thống điện tử, gồm hệ thống dẫn đường RSDN (giống với LORAN), dẫn đường tín hiệu, dẫn đường quán tính, hệ thống đo khoảng cách laser mạnh hơn, sóng định vị vô tuyến, và hệ thống radar cảnh báo SPO-15LE ('Sirena'). Thêm những khe nạp không khí bổ sung (gồm bộ nạp không khí ở cánh) để có thêm luồng không khí làm mát động cơ. 'Fitter-K' trang bị tên lửa dẫn đường TV và vũ khí chùm tên lửa chống radar BA-58 Vjuga. Tùy chọn thêm hệ thống phòng thủ gồm các chùm kim loại gây nhiễu, pháo sáng gây nhiễu. Phiên bản xuất khẩu có tên gọi Su-22M-4.
    • Su-22M-5: phiên bản nâng cấp trọn gói của Nga-Pháp liên doanh cho các máy bay hiện nay, với buồng lái hiện đại, HOTAS, hệ thống điện tử cải tiến. Xóa bỏ hệ thống đo khoảng cách laser thay vào đó là radar Phazotron/Thomson-CSF 'Phathom'.
    Các nước sử dụng

    [​IMG]

    Bản đồ các nước sử dụng Su-17/Su-20/Su-22


    [​IMG] ArmeniaNhiều chiếc phục vụ trong Không quân Armenia, số lượng chính xác không biết rõ.[​IMG] Afghanistankhoảng 70 chiếc đã được cung cấp cho không quân Afghan vào năm 1982, gồm cả 45 Su-22M-4 được chuyển vào năm 1984.[​IMG] AlgérieKhông quân Algeria sử dụng 32 chiếc, không còn hoạt động.[​IMG] AngolaLực lượng Phòng không và Không quân Nhân dân Angola sử dụng 22 chiếc Su-22.[​IMG] AzerbaijanKhông quân Azerbaijan dùng 2 chiếc Su-17.[​IMG] BelarusKhông quân Belarus nhận được những chiếc Su-17 từ không quân Xô viết, không còn sử dụng.[​IMG] BungaryKhông quân Bulgarian sử dụng 18 Su-22M4 và 3 Su-22UM, không còn sử dụng.[​IMG] Cộng hòa SécKhông quân Séc nhận được 31 Su-22M-4 và 5 Su-22UM-3K. Ngừng hoạt động năm 2002[1]. The Czech Su-22 aircraft were used in xXx movie. [​IMG]

    Su-7 và Su-17 bên cạnh nhau


    [​IMG] Tiệp KhắcTiệp Khắc chia Su-22 (49 Su-22M-4 và 8 Su-22UM-3K năm 1992) cho Cộng hòa Séc và Slovakia năm 1993.[​IMG] Đông ĐứcLuftstreitkräfte der NVA sử dụng Su-22 đến khi thống nhất nước Đức, máy bay được chuyển cho Luftwaffe.[​IMG] Ai CậpKhông quân Ai Cập sử dụng 48 chiếc Su-20/22, tất cả đã ngừng sử dụng, được thay thế bởi F-4 Phantom II và F-16 Fighting Falcon.[​IMG] ĐứcSu-22 được chuyển từ Đông Đức, không hoạt động trong Luftwaffe, một số máy bay được sơn màu của Luftwaffe để thử nghiệm và đánh giá.[​IMG] HungaryKhông quân Hungary dùng 12 Su-22M3 và 3 Su-22UM-3 từ năm 1983. 2 chiếc hai chỗ và một chiếc huấn luyện đã rơi. Ngừng hoạt động năm 1997.[​IMG] IraqKhông quân Iraq sử dụng một số kiểu Su-22, một số đã chạy sang Iran năm 1991.[​IMG] IranKhông quân Cộng hòa Hồi giáo Iran sử dụng một số kiểu Su-20 và Su-22.[​IMG] LibyaKhông quân Libya có 90 Su-22, có 40 Su-22M3 và Su-22UM3K đang hoạt động.[​IMG] Bắc Triều Tiên30 chiếc hiện đang hoạt động trong Không quân Bắc Triều Tiên.[​IMG] PeruKhông quân Peru có 35 Su-22M, Su-22M3, và Su-22UM3.[​IMG] Ba LanKhông quân Ba Lan còn 48 Su-22M4K và Su-22UM3K trong tổng số 137 chiếc có được. Tất cả sẽ ngừng hoạt động trước 2012.[​IMG] NgaKhông quân Nga nhận được từ Liên Xô, không còn sử dụng.[​IMG] SlovakiaLực lượng Phòng không Không quân có 18 Su-22M-4 và 3 Su-22UM-3K nhận từ Tiệp Khắc năm 1993. [​IMG]

    Su-22M4


    [​IMG] Liên XôLiên Xô chia Su-22 cho các quốc gia độc lập tách ra.
    • Không quân Xô viết
    • Hàng không Hải quân Xô viết
    [​IMG] Syria60 Su-22 đang hoạt động trong Không quân Syria.[​IMG] TurkmenistanSu-17 đang hoạt động trong Quân đội Turkmenistan.[​IMG] Ukraina40 Su-17 đã ngừng hoạt động.[​IMG] UzbekistanSu-17 không rõ tình trạng trong Quân đội Uzbekistan.[​IMG] Việt NamKhoảng 60 Su-22M4 hiện đang hoạt động trong Không quân Nhân dân Việt Nam.[​IMG] Yemen50 Su-22 phục vụ trong Không quân Yemen. Thông số kỹ thuật (Su-17M-4)

    [​IMG]
    Đặc điểm riêng


    • Phi đoàn: 1
    • Chiều dài: 19.03 m (62 ft 5 in)
    • Sải cánh: cánh cụp 10.02 m (32 ft 10 in) và cánh xòe 13.68 m (44 ft 11 in)
    • Chiều cao: 5.12 m (16 ft 10 in)
    • Diện tích cánh: từ 34.5 m² (370 ft²) đến 38.5 m² (415 ft²)
    • Trọng lượng rỗng: 12160 kg (26,810 lb)
    • Trọng lượng cất cánh: 16400 kg (36,155 lb)
    • Trọng lượng cất cánh tối đa: 19430 kg (42,835 lb)
    • Động cơ: 1× Lyulka AL-21F-3 76.5 kN (17.200 lbf) - 109.8 kN (24,675 lbf)
    Hiệu suất bay


    • Vận tốc cực đại: 1400 km/h (755 knots, 870 mph) trên biển và 1860 km/h (1,005 knots, 1,155 mph, Mach 1.7) trên độ cao lớn
    • Tầm bay: 1.150 km (715 mi) (tấn công) - 2.300 km (1.430 mi) (tuần tiễu)
    • Trần bay: 14200 m (46,590 ft)
    • Vận tốc lên cao: 230 m/s (45.276 ft/min)
    • Lực nâng của cánh: 443 kg/m² (90.77 lb/ft²)
    • Lực đẩy/trọng lượng: 0.68
    Vũ khí


    • 2x pháo 30 mm NR-30, 80 viên mỗi súng
    • 2 giá treo dưới cánh mang tên lửa không đối không R-60 (AA-8 'Aphid')
    • 10 giá treo cứng mang được 4.250 kg (9.370 lb) vũ khí (3 vị trí dưới cánh cố định, 4 hoặc 2 trên thân), gồm bom, chùm rocket, bom napalm, vũ khí hạt nhân. Còn có thể mang tên lửa dẫn đường điện tử/quang học Kh-23 (AS-7 'Kerry'), Kh-25 (AS-10 'Karen'), Kh-29 (AS-14 'Kedge'), và Kh-58 (AS-11 'Kilter'); bom điều khiển laser.
     
  4. camelR1
    Offline

    <font color="red">HỘI TRƯỞNG ĐỘC THÂN HỘI</font><i
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    16/9/09
    Số km:
    596
    Được đổ xăng:
    11
    Mã lực:
    31
    Xăng dự trữ:
    135 lít xăng
    A-7 Corsair II

    [​IMG]
    A-7E Hải quân Mỹ Kiểu Máy bay cường kích Hãng sản xuất Ling-Temco-Vought Chuyến bay đầu tiên 26 tháng 9 năm 1965 Được giới thiệu tháng 2 năm 1967 Hãng sử dụng chính Hải quân Hoa Kỳ
    Không quân Hoa Kỳ
    Không quân Hy Lạp
    Không quân Bồ Đào Nha Số lượng được sản xuất 1.569 Chi phí máy bay 2,86 triệu Đô la Mỹ Được phát triển từ F-8 Crusader
    Chiếc Ling-Temco-Vought A-7 Corsair II là một kiểu máy bay cường kích hạng nhẹ cận âm hoạt động trên tàu sân bay được đưa ra hoạt động trong Hải quân Hoa Kỳ để thay thế cho chiếc A-4 Skyhawk, thiết kế dựa trên kiểu máy bay tiêm kích siêu âm F-8 Crusader khá thành công do Chance Vought sản xuất. A-7 là một trong những máy bay chiến đấu đầu tiên được trang bị hệ thống hiển thị thông tin trước mặt (HUD), hệ thống dẫn đường quán tính (INS) kết hợp doppler, và một động cơ turbo quạt ép. Nó được Hải quân Mỹ đưa ra hoạt động đầu tiên trong Chiến tranh Việt Nam, rồi được Không quân Hoa Kỳ dùng để thay thế những chiếc A-1 Skyraider đang mượn của Hải quân cũng như trong Không lực Vệ binh Quốc gia Hoa Kỳ. Nó cũng được xuất khẩu sang Hy Lạp trong thập niên 1970, Bồ Đào Nha và Thái Lan trong thập niên 1980.
    Thiết kế và phát triển

    [​IMG]

    Chiếc Ling-Temco-Vought A-7D-5-CV Corsair II số hiệu 69-6212 thuộc Phi đội Tiêm kích 355, Phi đoàn Tiêm kích Chiến thuật 354, cất cánh từ căn cứ không quân Howard, Panama trong một đợt bố trí năm 1977 từ căn cứ không quân Myrtle Beach, South Carolina


    Năm 1962, Hải quân Hoa Kỳ bắt đầu các công việc sơ khởi trên chiếc VAX (Máy bay Tấn công Thử nghiệm), một kiểu thay thế cho chiếc A-4 Skyhawk với tầm bay xa hơn và tải trọng chiến đấu lớn hơn. Có sự nhấn mạnh đặc biệt đến khả năng mang vũ khí chính xác nhằm giảm thiểu chi phí cho mỗi mục tiêu. Các yêu cầu được gút lại vào năm 1963 và đến năm 1964, Hải quân công bố việc mở thầu kiểu máy bay VAL (Máy bay Tấn công Hạng nhẹ). Tương phản với triết ký của Không quân vốn chỉ sở hữu những chiếc máy bay tiêm kích-ném bom siêu âm như là F-105 Thunderchief và F-100 Super Sabre, Hải quân cảm thấy các thiết kế cận âm có thể mang tải trọng chiến đấu lớn nhất với tầm bay xa nhất. Một câu chuyện minh họa rằng "con vịt to chậm chạp" có thể bay gần nhanh bằng một chiếc máy bay siêu âm, vì nó phải mang hằng tá bom miểng cũng làm nó bị giới hạn về tốc độ, còn một máy bay bay nhanh với cánh nhỏ và một động cơ có đốt sau sẽ đốt cháy một lượng lớn nhiên liệu. Để giảm thiểu chi phí, mọi đề nghị đều dựa trên những thiết kế có sẵn. Vought, Douglas Aircraft, Grumman, và North American Aviation đã có câu trả lời. Đề nghị của Vought dựa trên kiểu máy bay tiêm kích khá thành công F-8 Crusader, có một cấu hình gần như tương tự, nhưng có một mũi ngắn và bầu tròn hơn. Nó được chọn là kiểu chiến thắng vào ngày 11 tháng 2 năm 1964, và đến ngày 19 tháng 3 công ty nhận được hợp đồng cho đợt đầu tiên của kiểu máy bay này, đặt tên là A-7. Năm 1965 chiếc máy bay nhận được tên thông dụng là Corsair II, được đặt theo kiểu máy bay tiêm kích thời Thế Chiến II đã thành công rất lớn của Vought là F4U Corsair.
    So sánh với chiếc máy bay tiêm kích F-8 Crusader, chiếc A-7 có khung thân ngắn và rộng hơn. Cánh được chế tạo lớn hơn, và đặc điểm cánh có góc tới thay đổi độc đáo của chiếc F-8 bị loại bỏ. Để đạt được tầm bay xa, A-7 được trang bị một động cơ turbo quạt ép Pratt & Whitney TF30-P-6 tạo ra lực đẩy 11.345 lbf (50,5 kN), cùng một kiểu động cơ đổi mới được sản xuất cho chiếc F-111, nhưng không có đốt sau vốn cần cho tốc độ siêu âm. Động cơ turbo quạt ép đạt được hiệu quả cao hơn nhờ đẩy một khối lượng khí lớn hơn ở một tốc độ chậm hơn.
    [​IMG]

    Một chiếc máy bay A-7B Corsair II thuộc Phi Đội Cường kích VA-305 Không lực Trừ bị Hải quân Hoa Kỳ


    Chiếc máy bay được trang bị radar AN/APQ-116 được tích hợp vào hệ thống dẫn đường kỹ thuật số ILAAS. Radar cũng được nạp vào một máy tính kỹ thuật số kiểm soát vũ khí để có thể ném bom chính xác từ khoảng cách xa, cải thiện đáng kể độ sống còn khi so sánh với các nền tảng khác nhanh hơn như F-4 Phantom II. Nó là máy bay Hoa Kỳ đầu tiên được trang bị hệ thống hiển thị thông tin trước mặt hiện đại, đến nay đã là thiết bị tiêu chuẩn, vốn hiển thị các thông tin như góc bổ nhào, tốc độ, độ cao, tiêu điểm ngắm. Hệ thống dẫn đường tích hợp còn cho phép một đổi mới khác, hệ thống hiển thị bản đồ chiếu (PMDS), trình bày chính xác vị trí của máy bay trên hai bản đồ thang độ khác nhau.
    Chiếc A-7 có được sự phát triển nhanh chóng và thuận lợi nhất đối với mọi máy bay Hoa Kỳ kể từ Thế Chiến II. Chiếc YA-7A thực hiện chuyến bay đầu tiên ngày 27 tháng 9 năm 1965, và bắt đầu phục vụ tại các phi đội Hải quân từ cuối năm 1966. Phi đội A-7 Hải quân đầu tiên đạt đến tình trạng sẵn sàng hoạt động vào ngày 1 tháng 2 năm 1967, và bắt đầu các hoạt động chiến đấu trong Chiến tranh Việt Nam vào tháng 12 cùng năm.
    Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara thúc đẩy phía Không quân chấp nhận không chỉ chiếc máy bay tiêm kích F-4 Phantom II to lớn thành công, mà còn với chiếc A-7 Corsair của Hải quân như một giải pháp giá thấp kế tục chiếc F-105 cho đến khi chiếc F-111 đầy sự cố sẵn sàng. Không quân Hoa Kỳ đặt hàng chiếc A-7D với hệ thống tiếp nhận nhiên liệu cố định tốc độ cao ngay sau buồng lái, được tối ưu để hoạt động với cần tiếp dầu của máy bay tiếp dầu trên không KC-135 hơn là hệ thống vòi dài xếp được của Hải quân. Họ cũng chọn khẩu pháo M61 Vulcan hơn là cặp pháo nòng đơn 20 mm, và đổi sang kiểu động cơ Allison TF41-A-1, một phiên bản của kiểu động cơ Rolls-Royce Spey Anh Quốc được chế tạo theo giấy phép nhượng quyền. Động cơ TF41-A-1 tạo ra lực đẩy 14.500 lbf (64 kN). Các phiên bản Hải quân sau này cũng chọn kiểu súng và động cơ này.
    Chiếc A-7 Corsair II được các phi công gán cho tên lóng là "SLUF" (viết tắt bốn ký tự: "Short Little Ugly Feller" Tên đồ tể lùn nhỏ xấu xí ).
    Sản xuất

    Việc sản xuất chiếc Corsair II tiếp tục đến năm 1984 với 1.569 máy bay được chế tạo. A-7 Corsair II có đặc điểm là máy bay tiêm kích-ném bom phản lực Hoa Kỳ duy nhất của thập niên 1960 được thiết kế, chế tạo, và bố trí trực tiếp cho Chiến tranh Việt Nam.
    Lịch sử hoạt động

    [​IMG] [​IMG]
    Chiếc A-7D-10-CV số hiệu 71-0309 thuộc Không đoàn Tiêm kích Chiến thuật 388, Căn cứ Không quân Hoàng gia Thái Korat, Thái Lan, 1973


    [​IMG]

    Chiếc A-7D Corsair II lượn sang trái trên bầu trời phía trên Căn cứ Không quân Nellis, Nevada


    Phi công lái những chiếc A-7 đầu tiên khen ngợi chiếc máy bay vì tính cách chung lái dễ dàng (ngoại trừ kém ổn định khi hạ cánh với gió ngang) và tầm nhìn phía trước xuất sắc nhưng cho là động cơ còn thiếu lực đẩy. Vấn đề được sửa đổi với phiên bản A-7B và triệt để hơn ở các phiên bản A-7D/E. Động cơ turbo quạt ép cung cấp sự cải thiện đáng kể về hiệu quả nhiên liệu so sánh với kiểu động cơ turbo phản lực trước đây, chiếc A-7D được cho là có mức tiêu thụ nhiên liệu chỉ bằng một-phần-sáu so với chiếc F-100 Super Sabre với lực đẩy tương đương. Một chiếc A-7D mang 12 quả bom 227 kg (500 lb) ở vận tốc 775 km/h (480 mph) trên độ cao 10.000 m (33.000 ft) chỉ tiêu thụ 1.500 kg (3.350 lb) nhiên liệu mỗi giờ. Máy tính kiểm soát vũ khí tích hợp cho phép ném bom với độ chính xác 20 m (60 ft) bất chấp kinh nghiệm của phi công. Hệ thống dẫn đường doppler chỉ cần 2,5 phút trên mặt đất để đồng bộ một phần, một cải tiến rất lớn so với 13 phút cần cho chiếc F-4 Phantom II. Thêm vào đó, chiếc A-7 chỉ cần 11,5 giờ công bảo trì cho mỗi phi vụ, cho phép quay vòng máy bay nhanh và có nhiều máy bay sẵn sàng chiến đấu hơn.
    Đông Nam Á

    Tại Việt Nam, không khí nóng và ẩm lấy mất lực đẩy của ngay cả các phiên bản A-7D và A-7E được nâng cấp. Đường băng cất cánh kéo dài và máy bay trang bị vũ khí đầy đủ phải gắng sức mới đặt được tốc độ 800 km/h. Phi công châm biếm rằng chiếc Corsair "không thât nhanh, nhưng chắc chắn là chậm".[1] Để phục vụ cho việc Huấn luyện Không chiến Khác biệt, và cho Đội Thao diễn Hàng không Blue Angels, Hải quân đã chọn kiểu máy bay A-4 Skyhawk nhanh nhẹn hơn như là nền tảng cơ động cân âm, vì một số người cho rằng chiếc A-7 không thích đáng cho không chiến. Thủy quân Lục chiến cũng chuyển sang sử dụng Corsair II, họ đã chọn nó thay vì kiểu máy bay V/STOL (máy bay cất cánh hạ cánh thẳng đứng/trên đường băng ngắn) AV-8 Harrier như là kiểu máy bay cường kích hạng nhẹ thay thế cho những chiếc A-4F/M Skyhawk của họ.
    Những chiếc A-7A Hải quân đầu tiên được bố trí đến Việt Nam vào năm 1967 cùng Phi đoàn VFA-147 Argonauts trên chiếc tàu sân bay USS Ranger. Chiếc máy bay thực hiện phi vụ chiến đấu đầu tiên vào ngày 4 tháng 12 năm 1967. Trong những tháng sau đó, VA-147 bay khoảng 1.400 phi vụ và chỉ mất một máy bay. Đến tháng 1 năm 1968, tàu sân bay USS Ranger tham gia vào sự kiện chung quanh việc tàu khu trục USS Pueblo bị phía Bắc Triều Tiên bắt giữ trong vùng Biển Nhật Bản. Phiên bản cải tiến A-7B của Hải quân đến Việt Nam vào đầu năm 1969, và phiên bản cuối cùng A-7E tiếp nối vào năm 1971.
    Hải quân Hoa Kỳ thiệt hại chiếc A-7 đầu tiên vào ngày 22 tháng 12 năm 1967, chưa đầy ba tuần sau khi tham gia hoạt động chiến đấu. Chiếc Corsair từ Phi đội VA-147 của tàu sân bay USS Ranger do Thiếu tá James M. Hickerson điều khiển đang tấn công một vị trí pháo phòng không, khi một tên lửa SAM nổ bên dưới máy bay của ông, động cơ và hệ thống thủy lực bị hỏng và ông phải phóng ra. Thiếu tá Hickerson trở thành tù binh chiến tranh và được phóng thích ngày 14 tháng 3 năm 1973. Thiệt hại cuối cùng của A-7 Corsair Hải quân trong cuộc chiến là vào ngày 29 tháng 1 năm 1973, khi Trung tá T.R. Wilkinson thuộc Phi đội VA-147 cất cánh từ tàu sân bay USS Constellation bị mất tích trong một phi vụ huấn luyện; ông được ghi nhận là đã hy sinh khi bay. Hai mươi tàu sân bay Hải quân Hoa Kỳ đã từng luân phiên hoạt động tại vùng biển Đông Nam Á để thực hiện các phi vụ không kích từ năm 1967 đến năm 1973. Mười trong số những tàu sân bay đó bị thiệt hại những chiếc A-7 Corsair II: USS Ticonderoga mất ba, USS Constellation mất 15, USS Ranger mất 11, USS Coral Sea mất 13, USS Midway mất hai, USS Oriskany mất tám, USS Saratoga mất tám, USS Kitty Hawk mất 13, USS Enterprise mất ba, và chiếc USS America mất 16. Có 15 máy bay trong số đó bị bắn rơi do tên lửa đất-đối-không (SAM).
    A-7D của Không quân Hoa Kỳ cũng được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam và Cambodia cùng các Phi đoàn Tiêm kích Chiến thuật 354 và 388 bay từ Căn cứ Korat của Không quân Hoàng gia Thái Lan. A-7 của Phi đoàn 354 bắt đầu hoạt động từ tháng 10 năm 1972 và tấn công các mục tiêu cách xa căn cứ đến 800 km, sử dụng rộng rãi phương pháp tiếp nhiên liệu trên không. Chiếc A-7D được nhanh chóng giao cho vai trò trong các "phi vụ Sandy" cung cấp sự yểm trợ từ trên không để giải cứu các phi công bị bắn rơi. Nhận lãnh vai trò này từ những chiếc A-1 Skyraider (nên mới có cái tên "Sandy"), tốc độ cao của chiếc A-7 phần nào bất lợi cho việc hộ tống những máy bay trực thăng nhưng khả năng hoạt động kéo dài và sức bền chịu đựng cao của chiếc máy bay rất có giá trị và nó hoạt động một cách đáng ngưỡng mộ. Vào ngày 18 tháng 11 năm 1972, Thiếu tá Colin A. Clarke đã lãnh đạo một phi vụ thành công gần Thanh Hóa để giải cứu một đội bay F-105 Wild Weasel bị bắn rơi. Phi vụ kéo dài tổng cộng 8,8 giờ trong đó Clarke và đồng đội của ông trúng phải nhiều phát đạn từ súng phòng không 12,7 mm (0,51 inch). Vì những hành động phối hợp trong phi vụ giải cứu, Clarke đã được tặng thưởng Huân chương Chữ thập bay, huân chương cao quý thứ hai của Không quân.
    Những chiếc A-7D Không quân Hoa Kỳ đã thực hiện tổng cộng 12.928 phi vụ chiến đấu trong cuộc chiến, và chỉ thiệt hại sáu chiếc, tổn thất thấp nhất trong số các máy bay tiêm kích Mỹ tại chiến trường này. Chiếc máy bay này cũng chỉ đứng thứ hai sau chiếc B-52 Stratofortress về số lượng bom được ném xuống Hà Nội, và nó ném nhiều bom hơn cả trong mỗi phi vụ với độ chính xác cao hơn so với mọi máy bay tấn công Mỹ nào khác.
    Chiếc A-7 Corsair đầu tiên của Không quân Hoa Kỳ bị mất do Đại úy Anthony C. Shine thuộc Phi đội Tiêm kích Chiến thuật 353 điều khiển. Vào ngày 02 tháng 12 năm 1972 Shine thực hiện một phi vụ tìm kiếm và giải cứu (SAR) khi ông biến mất trong một đám mây thấp để nhận diệm một mục tiêu. Cuộc tìm kiếm kéo dài ba ngày không tìm thấy Đại úy Shine hay chiếc Corsair của ông. Vào năm 1993, con gái của Đại úy Anthony Shine quyết định tìm di tích của cha mình và đã đến Việt Nam, đích thân tìm kiếm tại nơi xảy ra tai nạn. Di hài của Đại úy Anthony Shine được đưa về Hoa Kỳ vào tháng 6 năm 1995, được chính thức nhận diện và được chôn cất với đầy đủ nghi thức quân đội tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington vào năm 1996.
    Vào ngày 24 tháng 12 năm 1972 một chiếc A-7 thuộc Phi đội Tiêm kích Chiến thuật 353 đang bổ nhào để tấn công một vị trí pháo đối phương trong khi một chiếc O-1 Bird Dog vốn đang chỉ điểm cuốc tấn công đang ngóc lên ngay vào đường bay của chiếc Corsair; chiếc Corsair cắt qua chiếc O-1, làm nó rơi xoay tít xuống đất làm phi công tử nạn. Đại úy Riess phải phóng ra từ chiếc máy bay bị hỏng nặng và bị quân đội Bắc Việt Nam bắt làm tù binh. Ông được phóng thích như là từ binh chiến tranh vào ngày 28 tháng 3 năm 1973.
    Vào ngày 11 tháng 1 năm 1973, một chiếc A-7 thuộc Phi đội Tiêm kích Chiến thuật 355 đang thực hiện một phi vụ hộ tống thì động cơ bị hỏng. Phi công phải phóng ra và sống sót. Vào ngày 17 tháng 2 năm 1973 Thiếu tá Gallagher thuộc Phi đội Tiêm kích Chiến thuật 354 đang lái chiếc A-7 trong một phi vụ hỗ trợ gần mặt đất thì trúng phải hỏa lực pháo phòng không ở độ cao 15.000 ft, ông đã phóng ra và sống sót.
    Vào ngày 4 tháng 5 năm 1973, Trung úy T.L. Dickens thuộc Phi đội Tiêm kích Chiến thuật 3 lái chiếc Corsair của ông tấn công một tàu sông đối phương thì trúng phải hỏa lực mặt đất đối phương. Ông đã phóng ra và sống sót.
    Vào ngày 25 tháng 5 năm 1973, Đại úy Jeremiah Costello thuộc Phi đội 354 đang thực hiện một phi vụ hỗ trợ gần mặt đất thì trúng phải hỏa lực pháo phòng không đối phương. Thi thể của ông được một máy bay trực thăng H-53 tìm thấy; chiếc Corsair của Đại úy Costello là tổn thất A-7 cuối cùng trong Chiến tranh Việt Nam.
    Những chiếc A-7D từ sân bay Korat thực hiện các phi vụ chiến đấu tại Việt Nam cho đến giữa tháng 1 năm 1973, tại Lào đến ngày 22 tháng 2 năm 1973, và tại Cambodia cho đến ngày 15 tháng 8 năm 1973. Trong quá trình chiến tranh tại Đông Nam Á, A-7 Corsair của Hải quân Hoa Kỳ được sơn màu xám/trắng; trong khi A-7 của Không quân thông thường được sơn màu ngụy trang toàn bộ. Hải quân Hoa Kỳ từng thử nghiệm sơn màu kiểu ngụy trang trên một số máy bay của họ trong chiến tranh, nhưng khi hạ cánh đội mặt đất nhận thấy nhiệm vụ của họ trở nên phức tạp do điều kiện khí hậu thay đổi trên một chiếc tàu đang di chuyển, cũng như đồng phục được mã màu theo nhiệm vụ của đội mặt đất; làm gia tăng những nguy cơ cho một sàn đáp chật chội. Họ đã quyết định giữ nguyên màu sơn dễ nhìn thấy của những chiếc máy bay hải quân vì lý do an toàn.
    Vào ngày 15 tháng 5 năm 1975, máy bay A-7D của Phi đoàn 388/Phi đội Tiêm kích Chiến thuật 3 từ sân bay Korat đã hỗ trợ từ trên không cho vụ xung đột đượ xem là trận đánh cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam, vụ giải cứu chiếc SS Mayagüez sau khi nó bị cướp bởi lực lượng cộng sản Cambodia.
    Grenada

    Các phi đội Corsair II VA-15 và VA-87, từ tàu sân bay USS Independence, đã thực hiện các phi vụ hỗ trợ gần mặt đất tại Grenada vào tháng 10 năm 1983.
    Lebanon

    Những chiếc máy bay A-7 Hải quân cũng thực hiện các phi vụ hỗ trợ gần mặt đất cho lực lượng đa quốc gia tại Lebanon năm 1983. Cùng với một chiếc A-6 Intruder, đã có một chiếc A-7 bị bắn rơi bởi tên lửa đất-đối-không (SAM) của Syria vào ngày 4 tháng 12 năm 1983.
    Libya

    Vào ngày 24 tháng 3 năm 1986, trong sự kiện xung đột tại vịnh Sidra cùng Libya, lực lượng phòng không Libya đã bắn tên lửa đất-đối-không SA-5 vào hai chiếc F-14 thuộc Phi đội VF-102 từ tàu sân bay USS America đang tuần tra. Ngày hôm sau, một chiếc máy bay A-7 Hải quân đã tháp tùng theo những chiếc máy bay tiêm kích, và đã phản ứng lại việc phát xạ sóng radar SA-5 bằng cách phóng tên lửa chống bức xạ AGM-88A HARM được sử dụng lần đầu tiên trong chiến đấu và đã tiêu diệt vị trí radar Libya.
    Vào ngày tháng 4 năm 1986, những chiếc A-7E Đệ Lục Hạm Đội thuộc các phi đội VA-72 và VA-46 trên tàu sân bay USS America cũng tham gia Chiến dịch El Dorado Canyon, cuộc tấn công trả đũa Libya sử dụng các tên lửa chống bức xạ HARM và Shrike.
    Chiến dịch Earnest Will/Chiến dịch Praying Mantis

    Trong quá trình cuộc Chiến tranh Iran-Iraq trong những năm 1980, những cuộc tấn công liên tục của Iran và Iraq vào tàu bè trong vịnh Péc-xích thường xuyên đến mức vào năm 1987 phía Kuwait phải đề nghị Hoa Kỳ hỗ trợ. Chiến dịch Earnest Will, được vạch ra nhằm duy trì sự thông thương hàng hải tự do trong khu vực biển này, được phát động. Lúc khởi đầu, 11 tàu dầu Kuwait được “treo lại cờ”, và Lực lượng Trung Đông sẽ hộ tống những tàu này vượt qua eo biển Hormuz vào vịnh Péc-xích đến Kuwait và ngược lại, khởi sự vào ngày 22 tháng 7 năm 1987.
    Trong khi thi hành nhiệm vụ hộ tống tại địa điểm 55 dặm về phía Tây Bắc Qatar vào ngày 14 tháng 4 năm 1988, các trinh sát viên trên chiếc tàu hộ tống trang bị tên lửa điều khiển USS Samuel B. Roberts phát hiện ba trái mìn (thủy lôi) trước mặt. Không lâu sau, chiếc tàu đụng phải trái mìn thứ tư, phát nổ và gây ra một lổ thủng 21-foot bên mạn trái tàu, làm bị thương mười thủy thủ, và hư hại đáng kể cho thân, boong tàu và cấu trúc hạ tầng. Các nỗ lực kiểm soát hư hại khẩn cấp của thủy thủ đoàn đã cứu được con tàu khỏi bị chìm. Trong vòng mười ngày tiếp theo, những tàu phá mìn thuộc Liên minh đã phát hiện thêm tám mìn, qua khảo sát được cho là có nguồn gốc từ phía Iran.
    Chiến dịch Praying Mantis được vạch ra như là một "phản ứng chừng mực" cho sự cố này, cũng như là các hành động quấy rối và khiêu khích tàu thuyền lặp đi lặp lại từ phía Iran; những chiếc A-7E từ các phi đội VA-22 và VA-94, cùng với những máy bay A-6E thuộc Phi đội VA-95 đã tham gia đánh chìm tàu hộ tống Sahand của Iran, vốn đã bắn tên lửa vào hai chiếc A-6E Intruder Hoa Kỳ.
    Panama

    Liên đội Tiêm kích Chiến thuật 180 thuộc Không lực Vệ binh Quốc gia Ohio đã ở tại Panama khi các hoạt động đối địch xảy ra vào tháng 12 năm 1989 và đã tham gia vàoChiến dịch Just Cause. Họ ở trong số những đơn vị Vệ binh Quốc gia luân phiên đến hoạt động tại Căn cứ Không quân Howard nhằm hiện diện tại Panama trong khuôn khổ cuộc tập trận Cornet Cove.
    Chiến dịch Lá chắn Sa Mạc/Bảo táp Sa Mạc

    [​IMG]

    Chiếc A-7E thuộc Phi đội VA-72 đang bay bên trên sa mạc thuộc Ả-rập Saudi trong Chiến dịch Lá chắn Sa Mạc.


    Trong khi Không quân Mỹ giữ lại những chiếc A-7 tại quê nhà vì ưa chuộng chiếc A-10, Hải quân Hoa Kỳ lại bố trí hai trong số những phi đội A-7E cuối cùng của họ hoạt động trong khuôn khổ Chiến dịch Lá chắn Sa Mạc vào tháng 8 năm 1990 trên chiếc tàu sân bay USS John F. Kennedy, chiếc duy nhất trong số sáu tàu sân bay được bố trí trong chiến dịch này sử dụng A-7, ngoạt trừ chiếc USS Saratoga đã đón tiếp một chiếc A-7 thuộc Phi đội VA-72 đáp nhầm khi KennedySaratoga hoán đổi vị trí cho nhau giữa phi vụ. Các phi đội VA-46VA-72 thực hiện các phi vụ A-7 chiến đấu cuối cùng trong Chiến dịch Bảo táp Sa Mạc bay từ Biển Đỏ đến các mục tiêu tại Iraq. Chiếc A-7 được sử dụng cả ngày và đêm để tấn công một loạt các mục tiêu sâu bên trong được phòng thủ chắc chắn tại Iraq cũng như các "khu vực hủy diệt" tại Kuwait, sử dụng nhiều loại vũ khí khác nhau bao gồm các đầu đạn dẫn đường chính xác (PGM), như bom lượn điều khiển bằng TV Walleye, bom thông thường không điều khiển, và tên lửa chống bức xạ tốc độ cao (HARM). Chiếc A-7 cũng được sử dụng như máy bay tiếp dầu trong nhiều phi vụ tiếp dầu trên không.
    Nghỉ hưu

    [​IMG]

    Chiếc A-7 Corsair II nghỉ hưu trưng bày phía trước Bảo tàng Cựu chiến binh ở Halls, Tennessee.


    Những chiếc A-7 Corsair của Hải quân Hoa Kỳ bắt đầu được rút khỏi phục vụ trong hạm đội từ giữa những năm 1980 khi có sự xuất hiện của chiếc McDonnell Douglas (hiện tại là Boeing) F/A-18 Hornet. Chiếc A-7 Hải quân cuối cùng nghỉ hưu khỏi các phi đội hoạt động cuối cùng trên hạm đội (VA-46 và VA-72) vào tháng 5 năm 1991, không lâu sau khi chúng quay về từ Chiến dịch Bảo táp Sa mạc. Chiếc F-16 Fighting Falcon cũng thay thế phần lớn những chiếc A-7 trong vai trò máy bay chiến đấu tấn công tính năng cao của Không quân. Cho dù với kỹ thuật tiên tiến và động cơ turbo quạt ép có đốt sau, một sứ người cho rằng chiếc F-16 không có được tầm bay xa như của chiếc A-7 cũ kỹ. Sự than phiền về tầm bay xa của chiếc Hornet nhiều đến mức phải thiết kế phiên bản mở rộng F/A-18E/F Super Hornet lớn hơn để có thể mang được nhiều nhiên liệu hơn.
    Đến năm 1981, chiếc Fairchild A-10 Thunderbolt II bắt đầu thay thế chiếc A-7 đảm nhiệm vai trò hỗ trợ gần mặt đất (CAS) tại các đơn vị hoạt động của Không quân. Ngoại trừ những chiếc A-7 được sử dụng trong chương trình phát triển F-117, những chiếc Corsair hoạt động cuối cùng được sử dụng bởi Phi đoàn Tiêm kích Chiến thuật 23 tại Căn cứ Không quân England, Louisiana năm 1991. Nhiều phi công đang phục vụ vẫn lưu tuyến tính năng bay và độ tinh vi của chiếc Corsair.
    Những chiếc A-7D của Không quân đang hoạt động được chuyển cho các đơn vị của Không lực Vệ binh Quốc gia bắt đầu từ năm 1974, và những chiếc hai chỗ ngồi A-7K chế tạo mới vào năm 1979 được giao trực tiếp cho các đơn vị Vệ binh Quốc gia. Chiếc Corsair cuối cùng của Vệ binh Quốc gia được cho nghỉ hưu vào năm 1993 tại các căn cứ Rickenbacker (Ohio), Des Moines (Iowa), Tulsa (Oklahoma) và Springfield (Ohio). Một số máy bay dư ra được chuyển cho Hy Lạp, Thái Lan và Bồ Đào Nha; đến cuối năm 1998, ngoại trừ một số chiếc đang được trưng bày,[2] tất cả những chiếc A-7 đang được loại bỏ tại Trung tâm AMARC (Aerospace Maintenance and Regeneration Center: Trung tâm Bảo trì và Phục hồi Hàng không).
    Một phiên bản nâng cấp động cơ YA-7F đã được đề nghị với tính năng bay gần tốc độ âm thanh với động cơ có đốt sau, nhưng thiết kế này đã bị loại khi cạnh tranh cùng F-16 Fighting Falcon và F/A-18 Hornet.
    Chương trình phát triển F-117

    [​IMG]

    Chiếc A-7D-5-CV số hiệu 69-6241 thuộc Phi đội Chiến thuật 4451, Liên đội Chiến thuật 4450 - Căn cứ Không quân Nellis, Nevada, 1984


    Liên đội Chiến thuật 4450 trú đóng tại Căn cứ Không quân Nellis, Nevada có điểm khác biệt độc đáo là đơn vị Không quân hoạt động thường trực cuối cùng sử dụng chiếc A-7 Corsair II. Vai trò của Liên đội 4450 là phát triển và thử nghiệm hoạt động chiếc máy bay tàng hình F-117 Nighthawk, và đơn vị cần có một máy bay thay thế dành cho việc huấn luyện và thực hành phi công. Những chiếc A-7D và A-7K được lấy từ nhiều phi đội Không quân và Vệ binh Quốc gia đang hoạt động, và được bố trí vào đơn vị "(P)" của Liên đội 4450, sau được đặt tên là Phi đội Chiến thuật 4451 từ tháng 1 năm 1983.
    Những chiếc A-7 được Liên đội sử dụng như là một chiếc máy bay ngụy tạo và huấn luyện từ năm 1981 đến năm 1989. Nó được chọn vì nó yêu cầu một khối lượng tương đương công việc của phi công được dự trù cho chiếc F-117A, cùng là kiểu một chỗ ngồi, và nhiều phi công lái F-117A từng có kinh nghiệm trên những chiếc F-4 hay F-111. A-7 được sử dụng để huấn luyện phi công cho đến khi chiếc F-117A được giao nhằm nâng trình độ bay của các phi công lên ngang bằng chuẩn mực. Sau này, những chiếc A-7 được sử dụng trong các thử nghiệm săn đuổi chiếc F-117A và các thử nghiệm vũ khí khác tại Nellis Range. Các hoạt động bay của A-7 được bắt đầu từ tháng 6 năm 1981, trùng hợp với những chuyến bay đầu tiên của chiếc YF-117A. Những chiếc A-7 mang ký hiệu đuôi đặc trưng "LV" (thay cho Las Vegas) và có kiểu màu sơn tím đậm/đen, về mặt chính thức được bố trí tại Căn cứ Không quân Nellis và được bảo trì bởi Phi đội Bảo trì 4450.
    Để thêm vào những cái cớ cho sự tồn tại và hoạt động của Liên đội Chiến thuật 4450, những chiếc A-7 cũng được sử dụng để duy trì đội ngũ phi công, đặc biệt là trong những giai đoạn đầu khi có rất ít chiếc F-117A được sản xuất sẵn có. Một số chiếc A-7 hoạt động từ sân bay Tonopah Test Range, khoảng 30 dặm về phía Tây Nam Tonopah, Nevada, nơi những chiếc F-117 đang được thử nghiệm hoạt động thực tế và người ta đã cẩn thận không để những chiếc máy bay bên ngoài kho chứa máy bay vào ban ngày. Sự hiện diện của những chiếc A-7 tại Tonopah sẽ không thu hút sự chú ý của các cơ quan tình báo Xô Viết khi họ khảo sát những tấm ảnh do thám chụp căn cứ từ vệ tinh. Bằng cách này Liên Xô sẽ cho rằng Tonopah không có gì đáng quan tâm ngoại trừ vài chiếc Corsair.
    Có khoảng 20 chiếc máy bay A-7D được sử dụng trong chương trình phát triển F-117, bao gồm nhiều chiếc phiên bản huấn luyện hai chỗ ngồi TA-7K. Vào tháng 1 năm 1989, chỉ ba tháng sau khi Không quân Hoa Kỳ công nhận sự tồn tại của những chiếc F-117A, những chiếc A-7 được cho nghỉ hưu đến Trung tâm AMARC và được thay thế bởi những chiếc AT-38B Talons trong vai trò máy bay huấn luyện còn Phi đội 4451 được ngưng hoạt động.
    Các phiên bản

    [​IMG]

    Những chiếc nguyên mẫu YA-7D số hiệu 67-14582 và 67-14584, cùng với những chiếc 69-6191 và 69-6217 đang bay trong đội hình lần cuối trước khi nghỉ hưu tại Căn cứ Không quân Edwards, California, để đến Trung tâm AMARC, tháng 8 năm 1992.


    A-7APhiên bản sản xuất đầu tiên. Những chiếc Corsair II Hải quân đời đầu có hai pháo Colt Mk 12 20 mm với 250 viên đạn mỗi khẩu. Tải trọng vũ khí tối đa, chủ yếu mang trên các đế cánh, trên lý thuyết là 6.804 kg (15.000 lb), nhưng bị giới hạn bởi trọng lượng cất cánh tối đa, do đó tải trọng vũ khí tối đa chỉ mang được với giảm thiểu nhiên liệu chứa bên trong khá nhiều. Có 199 chiếc được chế tạo.A-7BNâng cấp động cơ TF30-P-8 có lực đẩy 12.190 lbf (54,2 kN). Đến năm 1971, những chiếc A-7B còn lại được được nâng cấp lên kiểu động cơ TF30-P-408 có lực đẩy 13.390 lbf (59,6 kN). Có 196 chiếc được chế tạo.A-7C67 chiếc A-7E được chế tạo đầu tiên với động cơ TF30.TA-7CPhiên bản huấn luyện hai chỗ ngồi dành cho Hải quân Hoa Kỳ, gồm 24 chiếc được cải biến từ phiên bản A-7B và 36 chiếc từ phiên bản A-7C. Được nâng cấp lên tiêu chuẩn A-7E vào năm 1984.A-7DTiếp nối con đường sử dụng một thiết kế máy bay Hải quân, khởi đầu với chiếc F-4 Phantom II, Không quân Hoa Kỳ đã yêu cầu một phiên bản A-7 dành cho Bộ chỉ huy Không quân Chiến Thuật nhằm đáp ứng nhu cầu về một chiếc máy bay hỗ trợ gần mặt đất giá rẻ thay thế cho chiếc A-1 Skyraider. Vào ngày 5 tháng 11 năm 1965 Không quân Mỹ công bố sẽ đặt mua một phiên bản của chiếc A-7 đặt tên là A-7D. Khác biệt quan trọng nhất so với các phiên bản Hải quân là là việc sử dụng kiểu động cơ turbo quạt ép Allison TF41-A-1, một phiên bản chế tạo theo giấy phép nhượng quyền của kiểu Rolls-Royce Spey Anh Quốc. Với lực đẩy 14.500 lbf (64,5 kN), động cơ mới cung cấp sự cải tiến về tính năng bay. Thêm vào đó, hệ thống điện tử được nâng cấp, vũ khí bên trong được đổi thành một khẩu pháo gatling M61 Vulcan 20 mm, và phương thức tiếp nhiên liệu trên không đổi từ kiểu "vòi-và-phểu" sang kiểu "cần bay". Chiếc nguyên mẫu YA-7D trang bị động cơ TF30 bay chuyến bay đầu tiên vào ngày 6 tháng 4 năm 1968, còn máy bay trang bị động cơ TF41 cất cánh vào ngày 26 tháng 9 năm 1968. Chiếc máy bay sau đó được nâng cấp trang bị một bộ theo dõi mục tiêu laser Pave Penny để có khả năng ném bom dẫn đường. Có 459 chiếc được chế tạo.A-7EHải quân Mỹ bị ấn tượng về sự cải thiện tính năng bay của phiên bản A-7D của Không quân nên họ đã yêu cầu một phiên bản của riêng họ trang bị động cơ TF41. Chiếc nguyên mẫu bay chuyến bay đầu tiên vào ngày 25 tháng 11 năm 1968. Đến năm 1986, 231 chiếc A-7E được nâng cấp trang bị cụm LANA (Low-Altitude Night Attack: tấn công đêm độ cao thấp) sẽ chiếu hình ảnh được phóng đại lên màn hình hiển thị trước mặt (HUD), và khi phối hợp cùng radar sẽ cung cấp việc theo dõi địa hình cho đến tốc độ 740 km/h (460 mph) ở độ cao 200 ft (60 m). Có 529 chiếc được chế tạo (không tính 67 chiếc A-7C).
    [​IMG]

    Chiếc nguyên mẫu YA-7F (trước đây là chiếc A-7D số hiệu 71-0344) cất cánh từ Căn cứ Không quân Edwards, California, tháng 11 năm 1989.


    YA-7F (A-7D Plus / A-7 Strikefighter)Vào năm 1985, Không quân Hoa Kỳ mở thầu về một kiểu máy bay cường kích tốc độ cao do mối lo ngại rằng chiếc máy bay cường kích A-10 Thunderbolt II quá chậm để can thiệp kịp thời. Thiết kế yêu cầu dùng một kiểu động cơ mới, có thể kiểu Pratt & Whitney F100 hay General Electric F110. Ling-Temco-Vought đáp ứng bằng một phiên bản siêu âm của chiếc A-7 trang bị một động cơ Pratt & Whitney F100-PW-220 có lực đẩy 26.000 lbf (116 kN). Để gắn được kiểu động cơ mới, thân máy bay được kéo dài thêm khoảng 1,22 m (4 ft), trong đó phần thân trước thêm 76 cm (30 in) và phần thân sau thêm 46 cm (18 in). Cánh được gia cố và tăng cường thêm các cánh nắp, mép trước cánh kéo dài và cánh tà cơ động tự động. Chiều cao của cánh đuôi đứng được tăng thêm khoảng 25 cm (10 in). Điều thú vị nhưng không lấy làm ngạc nhiêm lắm, kết quả sau khi cải biến là một chiếc máy bay có hình dạng tương tự chiếc F-8 Crusader, vốn là nguồn gốc của thiết kế chiếc A-7. Có hai chiếc A-7D được cải biến, chiếc nguyên mẫu thứ nhất bay chuyến bay đầu tiên vào ngày 29 tháng 11 năm 1989 và đã vượt bức tường âm thanh trong chuyến bay thứ hai. Chiếc nguyên mẫu thứ hai cất cánh vào ngày 3 tháng 4 năm 1990. Dự án bị hủy bỏ do chiếc F-16 Fighting Falcon được chọn trong gói thầu này.A-7GPhiên bản đề nghị dành cho Thụy Sĩ, không được chế tạo.A-7HPhiên bản cải biến kiểu A-7E dành cho Hy Lạp không có khả năng tiếp nhiên liệu trên không. Có 60 chiếc được chế tạoTA-7HPhiên bản huấn luyện hai chỗ ngồi dành cho Hy Lạp.EA-7LTám chiếc TA-7C được cải biến thành máy bay xâm nhập điện tử do Phi đội VAQ-34 sử dụng, được nâng cấp lên tiêu chuẩn A-7E vào năm 1984.TA-7KPhiên bản huấn luyện hai chỗ ngồi dành cho Không lực Vệ binh Quốc gia. Có 30 chiếc được chế tạo.A-7PNhững chiếc A-7A cũ của Hải quân được tân trang lại cho Bồ Đào Nha.TA-7PPhiên bản huấn luyện hai chỗ ngồi dành cho Bồ Đào Nha.YA-7E/YA-7HNguyên mẫu hai chỗ ngồi do Ling-Temco-Vought chế tạo như là khoản đầu tư riêng của công ty
    • Không quân Hoa Kỳ
    • Hải quân Hoa Kỳ
    • Không lực Vệ binh Quốc gia Hoa Kỳ
    Đặc điểm kỹ thuật (A-7D)

    Tập tin:Chance Vought A-7 E Corsair II.png
    [​IMG]

    Chiếc A-7D-7-CV số hiệu 70-955 thuộc Phi đội 73 tại căn cứ không quân England đang ném bom Mark 82.


    Đặc tính chung


    • Đội bay: 01 người
    • Chiều dài: 14,06 m (46 ft 2 in)
    • Sải cánh: 11,81 m (38 ft 9 in)
    • Chiều cao: 4,90 m (16 ft 1 in)
    • Diện tích bề mặt cánh: 34,8 m² (375 ft²)
    • Kiểu cánh: NACA 65A007 root and tip
    • Lực nâng của cánh : 379 kg/m² (77,4 lb/ft²)
    • Trọng lượng không tải: 9.033 kg (19.915 lb)
    • Trọng lượng có tải: 13.200 kg (29.040 lb)
    • Trọng lượng cất cánh tối đa: 19.050 kg (42.000 lb)
    • Động cơ: 1 x động cơ Allison TF41-A-1 turbo phản lực, lực đẩy 14.500 lbf (64,5 kN)
    Đặc tính bay


    • Tốc độ lớn nhất: 1.123 km/h (606 knot, 698 mph) ở độ cao mặt nước biển
    • Tốc độ bay đường trường: 860 km/h (465 knots, 535 mph)
    • Tầm bay tối đa: 4.600 km (2.485 nm, 2.860 mi) với 4 thùng nhiên liệu phụ 300 gal
    • Bán kính chiến đấu: 1.150 km (621 nm, 715 mi)
    • Trần bay: 12.800 m (42.000 ft)
    • Tốc độ lên cao: 76 m/s (15.000 ft/min)
    • Tỉ lệ lực đẩy/khối lượng : 0,50
    Vũ khí


    • 1 × pháo M61 Vulcan 20 mm (0,787 in) với 1.030 viên đạn
    • 2 × tên lửa đối không AIM-9 Sidewinder
    • mang được 6.800 kg (15.000 lb) vũ khí trên 6 đế, có thể bao gồm:
      • cho đến 30 × bom Mk 82 227 kg (500 lb)
      • Rocket
      • Bom dẫn đường bằng laser, bom lướt dẫn đường điện-quang GBU-15
      • Tên lửa đối đất: AGM-45 Shrike, AGM-62 Walleye, AGM-65 Maverick, AGM-88 HARM
      • 1 × bom nguyên tử: B28, B57, hoặc B61
     
  5. Doriax
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    9/1/10
    Số km:
    2
    Được đổ xăng:
    0
    Mã lực:
    0
    Xăng dự trữ:
    333 lít xăng
    Can you share your simple forex trading strategy system?

    thank so much
     
  6. Tartdha
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    26/3/10
    Số km:
    2
    Được đổ xăng:
    0
    Mã lực:
    0
    Xăng dự trữ:
    366 lít xăng
    Can I run both AVG9 and Microsoft Security Essentials?

    Thank!


    __________
    daily motivation
     
  7. vothanhtam19
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    28/7/09
    Số km:
    1,936
    Được đổ xăng:
    88
    Mã lực:
    401
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    2,088 lít xăng
    cac bac cho hoi lay nhung du lieu nay o dau vay?tài liệu này rất hay .em bây giờ hình dung được tình hình quân sự việt nam mình rồi.
     
  8. vothanhtam19
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    28/7/09
    Số km:
    1,936
    Được đổ xăng:
    88
    Mã lực:
    401
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    2,088 lít xăng
    theo minh duoc biet hien nay.viet nam dang nhap mot so may bay su 30 cua nga.vay no san xuat nam may?
     

Chia sẻ trang này