Đang tải...

CLB Máy bay - Không quân MiG-15 Fagot

Thảo luận trong 'Câu lạc bộ các ngành kỹ thuật' bắt đầu bởi MTV, 30/10/09.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. MTV
    Offline

    MTV
    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    8/4/09
    Số km:
    1,597
    Được đổ xăng:
    11
    Mã lực:
    181
    Xăng dự trữ:
    91 lít xăng






    Mikoyan-Gurevich MiG-15 được phát triển làm nhiệm vụ tiêm kích đánh chặn, nó có 1 pháo 37mm và 2 pháo 23mm. Sở dĩ nó được trang bị mạnh như vậy là nhờ kinh nghiệm rút ra được từ chiến tranh thế giới II rằng phải cần pháo cỡ lớn hơn 20mm thì mới có thể bắn hạ các máy bay ném bom hạng nặng có 4 động cơ. Mẫu MiG-15 đầu tiên bay thử vào tháng 12 năm 1947. Được đưa vào phục vụ từ năm 1949 và cho tới năm 1952, MiG-15 đã có mặt ở nhiều nước cộng sản "vệ tinh" của Liên Xô, trong đó có Bắc Triều Tiên. Trong chiến tranh Triều Tiên, MiG-15 đã tung hoành đối đầu với các máy bay của Không lực Hoa Kỳ. Lần chạm trán đầu tiên giữa MiG-15 với Không quân Hoa Kỳ xảy ra vào tháng 11 năm 1950. Ngày 8/11/1950, trung úy Russell Brown, bay trên chiếc F-80 đã bắn hạ 1 chiếc MiG-15, đây được coi là trận cận chiến (dogfight) đầu tiên trong lịch sử của 2 chiếc máy bay phản lực. Tuy nhiên, cho đến thời điểm đó, MiG-15 đã chứng tỏ được những điểm ưu việt của nó so với các máy bay mà Không quân Mỹ có trong tay. Sau những trận không chiến, các chuyên gia Liên Xô đã rút kinh nghiệm và có những cải tiến nhất định, và dòng MiG-15bis ra đời. Động cơ VK-1 của MiG-15bis có lực đẩy lớn hơn so với động cơ RD-45 trước đó. Mặc dù MiG-15bis có khả năng leo cao nhanh hơn và trần bay cao hơn F-86, nhưng khả năng xoay trở kém cộng với tốc độ vượt âm nhưng thiếu ổn định đã giới hạn khả năng dogfight của nó. Trong không chiến với F-86, MiG-15 bị tổn thất khá nhiều, tuy nhiên nó lại tỏ ra rất hiệu quả trong việc đánh chặn các máy bay ném bom hạng năng như B-29 trong thời tiết tốt, ban ngày.
    Những thông số chính
    Sải cánh: 33 ft. 1 1/2 in.
    Chiều dài: 33 ft. 3 5/8 in.
    Chiều cao: 11 ft. 2 in.
    Trọng lượng: 11,270 lbs. max.
    Vũ khí: 2 pháo 23mm và 1 pháo 37mm, ngoài ra nó có thể mang rocket hoặc tới 2,000 lbs. bombs
    Động cơ: VK-1 lực đẩy 6,000 lbs. (copy từ động cơ Rolls-Royce "Nene" của Anh)
    Tốc độ tối đa: 670 mph.
    Tốc độ hành trình: 525 mph.
    Tầm bay: 500 miles
    Trần bay: 51,000 ft.



    MiG-17 FRESCO
    J-5 FRESCO



    Năm 1949, Văn phòng thiết kế Mikoyan-Gurevich (MiG) bắt tay vào việc thiết kế một loại máy bay mới nhằm thay thế cho MiG-15. MiG-17 có các đặc điểm tương tự như MiG-15, có tốc độ cao hơn và là loại máy bay chiến đấu đầu tiên của Liên Xô có động cơ tăng lực. MiG-17 có cánh mỏng hơn và thuôn về phía sau hơn, cánh đuôi cũng được thiết kế lại để tăng sự ổn định và giúp điều khiển máy bay được dễ dàng hơn. Tốc độ của nó có thể đạt tới Mach 1. Mẫu đầu tiên của MiG-17 bay thử tháng 1/1950 và được báo cáo là đã đạt tới ngưỡng Mach 1. Việc sản xuất hàng loạt được triển khai vào cuối năm 1951, nhưng rất tiếc là số lượng chưa đủ lớn để có thể tham gia một cách có hiệu quả trong chiến tranh Triều Tiên. Năm 1952, Không quân Liên Xô bắt đầu đưa vào sử dụng những chiếc MiG-17. Đã có tất cả 5 biến thể khác nhau của MiG-17 được sản xuất. Biến thể đầu tiên của MiG-17 được lắp động cơ VK-1, copy từ mẫu Rolls-Royce Nene của Anh. Năm 1955, những chiếc MiG-17PF (Fresco D) được trạng bị radar bắt đầu được đưa vào trang bị và có khả năng hoạt động trong mọi thời tiết, cho dù tính năng còn rất hạn chế. MiG-17PFU bắt đầu được trang bị 4 quả tên lửa không đối không điều khiển bằng radar AA-1 Alkali và trở thành loại máy bay tiêm kích đầu tiên của Liên Xô mang được tên lửa. Tới giữa những năm 1960, MiG-17 có thành tích khá tốt trong chiến tranh Việt Nam. Rất nhiều phi công hàng đầu của Bắc Việt Nam đa bay trên những chiếc MiG-17, trong đó có đại tá Toon hay Tomb (thực ra đây là một hình mẫu phi công siêu hạng được các phi công Mỹ dựng nên dựa trên các phi công giỏi của Bắc Việt. Đây là một cách gọi hài hước nhưng cũng thể hiện sự nể vì của các phi công sừng sỏ của Mỹ đối với các phi công của Bắc Việt).
    MiG-17 đã từng phục vụ trong không quân của gần 30 quốc gia trên khắp thế giới với trên 6,000 chiếc đã xuất xưởng. Ngoài ra nó cũng được sản xuất theo giấy phép ở Ba Lan (tên goi Lim-5P) và ở Trung Quốc (với tên gọi J-5/F-4).

    Những thông số chính

    Kíp lái: 1 người
    Tải trọng: 650kg
    Chiều dài: 11.1m
    Sải cánh: 9,64m
    Trọng lượng: 14,770 lbs
    Vũ khí: 3 pháo 23mm NR-23, 4 thùng rocket 8x57mm hoặc 2 quả bom 250kg, bình nhiên liệu phụ 2x400L
    Động cơ: 1 động cơ VK-1 lực đẩy 5952 lbs
    Tốc độ tối đa: 696mph
    Trần bay: 15850m
    Nhiên liệu mang bên trong: 1143kg
    Các nước đã sử dụng: • Afghanistan • Albania • Algeria • Angola • Congo • Cuba • thiopia • Guinea Republic • Guinea-Bissau • Madagascar • Mali • Mongolia • North Korea J-5) • North Yemen • People’s Republic of China (J-5) • Romania • Sri Lanka • Somalia • outh Yemen • Sudan • Tanzania • Vietnam



    MiG-21 FISHBED

    MiG-21F là mẫu máy bay tiêm kích tầm gần đầu tiên được sản xuất của dòng máy bay MiG-21. Mẫu E-5 của dòng MiG-21 đã bắt đầu bay thủ năm 1955 và xuất hiện lần đầu trước công chúng tại sân bay Tushino ở Max-cơ-va tháng 6 năm 1956. Trong chiến tranh Việt Nam, các MiG-21 được các phi công Bắc Việt sử dụng để tiêu diệt các máy bay của Hoa Kỳ. Mặc dù MiG-21 không có radar và tên lửa tầm xa, cũng như chỉ có bán kính tác chiến nhỏ, nhưng nhờ được dẫn đường rất tốt từ mặt đất, các phi công của Bắc Việt đã tiến công rất hiệu quả các tốp máy bay cường kích F-105 của Hoa Kỳ bằng chiến thuật đánh nhanh, rút nhanh (hit and run). Không những thế, các máy bay tiêm kích F-4 cũng nhiều lần bị MiG-21 cho đo ván. Ch ính v ì kết quả không chiến tồi tệ giữa F-4 và F-105 với MiG-21 nên khiến Không quân Mỹ thiết lập cái gọi là “Chương trình huấn luyện không chiến đặc biệt” và Không quân hải quân Mỹ có “Chương trình Top Gun” để nâng cao khả năng không chiến của các phi công Mỹ. Các máy bay A-4 và F-5 được sử dụng làm “quân xanh” vì có những tính năng khá tương đồng với MiG-17 và MiG-21.
    Ngày 26 tháng 12 năm 1972, phi công Phạm Tuận bay trên chiếc MiG-21MF đã bắn rơi chiếc máy bay B-52 của Mỹ đầu tiên và duy nhất tính đến nay.

    MiG-21 cũng được không quân các quốc gia như Ai Cập, Syria và Iraq sử dụng khá phổ biến trong các cuộc xung đột ở Trung Đông hồi những năm 1960 và 1970 để chống lại không quân Israel. Lần đầu tiên MiG-21 giáp mặt Mirage-IIIC của Israel vào ngày 7 tháng 4 năm 1967. Trong ngày này, đã có 6 chiếc MiG-21 của Syria bị các máy bay Mirage của Israel bắn hạ.


    Theo Fas.org, trong khoảng thời gian từ 26 tháng 4 năm 1965 đến 8 tháng 1 năm 1973, các máy bay F-4 và B-52 đã bắn rơi 68 chiếc MiG-21. Hơn 30 quốc gia trên thế giới, kể cả những nước than thiện với Hoa Kỳ đã sử dụng MiG-21. Có ít nhất 15 biến thể của MiG-21 đã được sản xuất, một số nước được sản xuất theo giấy phép. Đến nay, ước tính đã có hơn 10000 chiếc MiG-21 được xuất xưởng, một con số mà khó có dòng máy bay hiện đại nào có thể vượt qua. Số liệu tham khảo về số lượng MiG-21 đã được sản xuất tại Liên Xô ở các nhà máy: 5278 (hay 5765) ở Gorky, 3203 chiếc ở Moscow và 1677 ở Tbilisi.

    Liên Xô đã cho phép Trung Quốc sản xuất MiG-21F cùng động cơ của loại máy bay bày từ năm 1961, và chiếc J-7 đầu tiên sử dụng các linh kiện được sản xuất tại Trung Quốc bắt đầu được lắp ráp từ đầu năm 1964. Chuyến bay đầu tiên của J-7 do nhà máy ở Shenyang sản xuất được thực hiện vào ngày 17 tháng 1 năm 1966 và chiếc J-7I do nhà máy ở Chengdu sản xuất bắt đầu bay từ tháng 6 năm 1967. Cả 2 biên thể này đều được sản xuất hang loạt với số lượng lớn. Tiếp đó, các biến thể mới hơn là J-7II/J-7B được phát triển từ năm 1975 và đưa vào sản xuất tử tháng 9 năm 1979. Các mẫu F-7M và J-7III được bắt đầu thực hiện từ năm 1981. Các chuyên gia đánh giá là mẫu J-7III có tính năng tương đương với biến thể MiG-21MF của Liên Xô. J-7III bay thử lần đầu ngày 26 tháng 4 năm 1984. Những chiếc J-7III được phát triển dưới sự hợp tác của các nhà máy ở Chengdu và Guizhou (GAIC) bắt đầu được trang bị cho Không quân và Không quân hải quân của Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa từ năm 1992. Một nỗ lực phát triển nữa được tập trung vào biến thể F-7M Airguard và bắt đầu sản xuất từ tháng 12 năm 1984. Năm 1988, 20 chiếc đầu tiên trong tổng số 60 chiếc F-7M Skybolt đã được Trung Quốc chuyển giao cho Pakistan. Việc nâng cấp phát triển dòng Super-7 của Trung Quốc dưới sự trợ giúp kỹ thuật của Hoa Kỳ đã bị đình lại sau khi diễn ra Sự kiện Thiên An Môn năm 1989.
    Cho tới năm 1989, mỗi tháng Trung Quốc sản xuất được tới 14 chiếc, chủ yếu là để xuất khẩu. J-7 là mẫu đượẩtTung Quốc sản xuất và sử dụng rộng rãi nhất, thay thế cho mẫu J-6 (biến thể của MiG-19 của Trung Quốc) cũ hơn. Tới năm 1995 vẫn có nhiều máy bay J-7 được xuất xưởng và tính đến 2005, Không quân Trung Quốc có trong biên chế tới gần 1000 chiếc cho dù thực tế chỉ khoảng 500 chiếc còn bay được.

    Những thông số chính:
    Kíp lái: 1 người
    Chiều dài: 51ft. 9 in.
    Sải cánh: 23ft. 6 in
    Chiều cao: 15ft. 9 in.
    Trọng lượng tối đa: 18.080 lbs
    Vũ khí: 1 pháo 30mm NR-30, tên lửa AA-2 Atoll, rocket, bom FAB-250/500, bình nhiên liệu phụ 391kg hoặc 631kg.
    Động cơ: 1 động cơ Tumansky R-11F-300 @ 12,675 lbst w/afterburner
    Tốc độ tối đa: 1300mph
    Tốc độ hành trình: 550mph
    Trần bay: 15850m
    Tầm bay: MiG-21 = 650km; MiG-21bis = 1100lm
    Nhiên liệu mang bên trong: MiG-21 PFS = 2277kg; MiG-21bis = 2364kg
    Các nước đã sử dụng: • Afghanistan • Albania (J-7) • Algeria • Angola • Azerbaijan • Bangladesh • Bulgaria • Burma • Cambodia • China (J-7) • Congo • Croatia • Cuba • Czech Republic • Republic • Egypt • Ethiopia • Finland • Germany • Guinea • Hungary • India • Iran • Iraq • Kazakhstan • Laos • Libya • Madagascar • Mali • Mongolia • Mozambique • Nigeria • North Korea • North Yemen • Pakistan (J-7) • Poland • Romania • Slovakia • South Yemen • Sri Lanka • Sudan • Syria • Tanzania • Vietnam • Yugoslavia • Zambia • Zimbabwe

    MiG-21-93 bản nâng cấp của MiG-21
     

Chia sẻ trang này