Đang tải...

CLB Máy bay - Không quân nguyên lý thiết kế runway

Thảo luận trong 'Câu lạc bộ các ngành kỹ thuật' bắt đầu bởi bmt-hui, 22/10/09.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. bmt-hui
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    15/10/09
    Số km:
    531
    Được đổ xăng:
    32
    Mã lực:
    51
    Xăng dự trữ:
    41 lít xăng
    nguyên lý thiết kế runway

    Máy bay cả cất cánh và hạ cánh ngược chiều gió thì sẽ thuận lợi hơn. Khi cất cánh ngược hướng gió máy bay sẽ có lực nâng (lift) lớn nhất với khoảng chạy đà trên đường băng và thời gian cất cánh ngắn hơn.
    Khi hạ cánh ngược hướng gió tốc độ trên đường băng sẽ thấp hơn. Điều này cho phép phi công có những điều chính cần thiết để hạ cánh êm ái.



    Thời kỳ đầu của ngành hàng không, để máy bay cất cánh phải có người ở dưới mặt đất đưa máy bay về phía xuôi gió của đường băng và hướng nó về phía ngược gió. Các máy bay thế hệ đầu chỉ thiết kế để bay mà không thiết kế để di chuyển trên mặt đất, do đó càng máy bay lúc đó thực chất là một thanh trượt chứ không phải là những chiếc bánh như ngày nay

    Sau khi máy bay được kiểm tra để đảm bảo sẵn sàng bay, phi công sẽ khởi động động cơ máy bay. Một người dưới đất sẽ quay cánh quạt máy bay bằng tay và những người khác đẩy máy bay chạy. Sau khi động cơ đã khởi động được, mọi người ở dưới mặt đất sẽ để máy bay tự chạy và cất cánh.
    Bởi vì gió có tốc độ và hướng thay đổi, những sân bay lớn sẽ luôn cho phép máy bay cất cánh và hạ cánh ngược hướng gió. Cho đến những năm 1930 các máy bay mới được thiết kế để tự lăn trên đường lăn.



    Định danh sân bay


    Tất cả các sân bay đều có phải có mã tên sân bay - Mã ICAO. Mã tên thực chất là một cụm gồm 4 ký tự hoặc tổ hợp số và chữ. Ví dụ ở Việt Nam, tất cả các sân bay đều bắt đầu bằng chữ V.
    Đối với các kiện hành lý, mã tên sân bay đối với mọi quốc gia chỉ có 3 ký tự - Mã IATA​


    Ví dụ:​


    Sân bay Nội Bài: Mã IATA: HAN - Mã ICAO: VVNB
    Sân bay Đà Nẵng: Mã IATA: DAD - Mã ICAO: VVDN
    Sân bay Tân Sơn Nhất: Mã IATA: SGN - Mã ICAO: VVTS​



    A. Mã vạch chứa 4 ký tự là tên của sân bay đến


    B. Viết tắt tên hãng vận chuyển (Speedy Flight) và 6 ký tự đánh số cho kiện hàngh lý và sau đó là từ 3 ký tự viết tắt tên sân bay đến cuối cùng (FWA = Fort Wayne, Indiana).​


    C. Chuyến bay cuối cùng được đặt lên đầu, tên viết tắt nhà vận chuyển, số hiệu chuyến bay và ngày bay. Điểm đến đầu tiên được viết với chữ nhỏ hơn một chút (DTW = Detroit, Michigan).​


    Chọn hướng đường cất hạ cánh






    Để định hướng trong thực địa ta thường dùng la bàn. La bàn là một hình tròn 360° trong đó hướng Bắc là 0/360°, hướng Đông là 90°, hướng Nam là 180° và hướng tây là 270°. Hướng của đường băng được thể hiện bằng một con số sơn tại đầu đường CHC. Phía trước con số này là 8 vạch sơn trắng. Cách đầu đường CHC khoảng 150m là "vùng chạm bánh" được đánh dấu bằng 6 vạch sơn.​





    Số hiệu đường băng không được viết theo độ thực của nó, mà nó được viết dạng giản lược. Ví dụ đường băng "11" của Nội bài thì thực ra nó có hướng gần 110 độ. Theo quy ước, góc đo hướng thực của đường băng sẽ được làm tròn đến hàng chục sau đó chia cho 10 thì sẽ cho ta con số sơn ở cuối đường băng.


    Mỗi đầu đường băng có một số hiệu khác nhau. Hãy xem sơ đồ dưới đây. Một đầu đường băng hướng về phía tây trong khi đầu còn lại hướng về phía đông. Theo la bàn thì hướng tây là 270 độ ("27") và hướng đông là 90 độ ("90"). Tất cả các đường băng đều được đánh số theo cách này. Như đường băng này sẽ được gọi là "đường băng 9 -27".​



    Ví dụ khác:

    Có khoảng 20 cách bố trí đường băng khác nhau. Tuy nhiên có 4 kiểu bố trí cơ bản, phần còn lại được phát triển từ nhóm cơ bản này. Các bố trí đường băng cơ bản là:


    A) Đường băng đơn.​


    Đây là dạng đơn giản nhất trong 4 loại cơ bản. Đó là đường băng được tối ưu hóa về hướng thỏa mãn nhiều yếu tố như: Hướng gió thịnh hành, độ ồn, mặt bằng và các yếu tố khác tùy sân bay. Với quy tắc bay bằng mắt VFR , đường băng này có thể đáp ứng 99 máy bay loại nhẹ hoạt động trong một giờ. Còn với quy tắc bay bằng thiết bị IFR, đường băng có thể đáp ứng 42 đến 53 lượt cất hạ cánh trong một giờ tùy thuộc vào lưu lượng bay và thiết bị hộ trợ cất hạ cánh tại sân bay đó ​




    B) Đường băng song song


    Có 4 kiểu đường băng song song. Chúng được phân biệt theo khoảng cách giữa chúng. Lượt cất hạ cánh trong một giờ phụ thuộc nhiều vào số lượng đường băng và loại máy bay hoạt động. Với điều kiện bay bằng thiết bị IFR, lượt cất hạ cánh có thể từ 64 đến 128 lượt trong một giờ.​






    Các đường băng song song cách nhau dưới 730 m​








    Các đường băng song song cách nhau từ 730 đến 1300m​








    Các đường băng song song cách nhau trên 1300m​








    Các đường băng song song kép cách nhau trên 1300m​



    C) Đường băng kiểu chữ V


    Hai đường băng có hai hướng khác nhau nhưng không giao cắt nhau được gọi là đường băng kiểu chữ V. Bố trí đường băng kiểu này khi không có gió hoặc gió thổi nhẹ, cho phép cả hai đường băng cùng khai thác đồng thời. Khi gió thổi mạnh trên một đường băng, đường băng còn lại sẽ là đường băng duy nhất được dùng. Khi sử dụng phương án cất và hạ cánh theo hướng tiến ra xa "đỉnh nhọn của chữ V", khả năng khai thác đường băng sẽ tăng lên đáng kể. Khi cất và hạ cánh hướng về phía "đỉnh nhọn của chữ V", khả năng khai thác giảm 50 %. ​



    Kiểu khai thác ra xa "đỉnh V"​




    Kiểu khai thác hướng vào "đỉnh V"​



    D) Đường băng giao nhau


    Khi sân bay có từ hai đường băng trở lên cắt nhau thì được gọi là đường băng giao nhau. Kiểu bố trí này áp dụng cho các sân bay có gió thịnh hành thổi mạnh theo nhiều hướng khác nhau trong năm. Khi gió thổi mạnh theo một hướng, hoạt động bay chỉ hạn chế ở một đường băng. Khi gió thổi nhẹ, cả hai đường băng có thể dùng đồng thời. Ở dạng bố trí này thì kiểu số 1 ( hình minh họa dưới đây) sẽ cho hiệu suất cất hạ cánh là lớn nhất. ​






    Kiểu 1: Hai đường băng giao nhau ở gần thềm​







    Kiểu 2: Giao nhau ở gần điểm giữa của mỗi đường​







    Kiểu 3: Giao nhau ở gần điểm kết thúc của hai đường băng​




    Khả năng hoạt động bay phụ thuộc rất nhiều vào cách bố trí đường băng. Nó phụ thuộc rất nhiều vào vị trí điểm giao nhau của các đường băng và kiểu đường băng (bay bằng mắt, bằng thiết bị hoặc kiểu máy bay hoạt động). Kiểu bố trí này cũng tốn nhiều đất để xây dựng đường băng hơn kiểu song song.​
     

Chia sẻ trang này