Đang tải...

Nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng

Thảo luận trong 'Các thông tin thủ tục cần biết' bắt đầu bởi camelR1, 3/11/09.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. camelR1
    Offline

    <font color="red">HỘI TRƯỞNG ĐỘC THÂN HỘI</font><i
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    16/9/09
    Số km:
    596
    Được đổ xăng:
    11
    Mã lực:
    31
    Xăng dự trữ:
    135 lít xăng
    I. QUY ĐỊNH CHUNG
    1- Ô tô đã qua sử dụng là ôtô đã được sử dụng, được đăng ký với thời gian tối thiểu
    là 6 tháng và đã chạy được một quãng đường tối thiểu là 10.000 km (mười nghìn)
    tính đến thời điểm ôtô về đến cảng Việt Nam.
    2- Ô tô đã qua sử dụng nhập khẩu vào Việt Nam phải thỏa mãn quy định của Nghị
    định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ, các quy định
    của Thông tư này và quy định trong Quyết định số 35/2005/QĐ-BGTVT ngày 21
    tháng 7 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải về kiểm tra chất lượng, an
    toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường.
    3- Ôtô đã qua sử dụng nhập khẩu phải nộp thuế theo quy định tại Luật Thuế xuất
    khẩu, thuế nhập khẩu, Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt; Luật thuế Giá trị gia tăng và các
    văn bản pháp luật hiện hành.
    II. ĐIỀU KIỆN NHẬP KHẨU Ô TÔ ĐÃ QUA SỬ DỤNG
    1- Ô tô đã qua sử dụng được nhập khẩu phải đảm bảo điều kiện: không quá 05 năm
    tính từ năm sản xuất đến thời điểm ôtô về đến cảng Việt Nam, cụ thể là năm 2006
    chỉ được nhập ô tô loại sản xuất từ năm 2001 trở lại đây. Năm sản xuất của ô tô

    được xác định theo thứ tự ưu tiên sau đây:
    a) Theo số nhận dạng của ô tô;
    b) Theo số khung của ô tô;
    c) Theo các tài liệu kỹ thuật: Catalog, sổ tay thông số kỹ thuật, phần mềm nhận
    dạng, ê tơ két gắn trên xe hoặc các thông tin của nhà sản xuất;
    d) Theo năm sản xuất được ghi nhận trong bản chính của Giấy chứng nhận đăng ký
    xe hoặc Giấy hủy đăng ký xe đang lưu hành tại nước ngoài;
    đ) Đối với các trường hợp đặc biệt khác thì cơ quan kiểm tra chất lượng thành lập
    Hội đồng giám định trong đó có sự tham gia của các chuyên gia kỹ thuật chuyên
    ngành để quyết định.
    e) Trường hợp cơ quan kiểm tra chất lượng có nghi vấn về số khung và/hoặc số
    máy của chiếc xe nhập khẩu thì cơ quan kiểm tra sẽ trưng cầu giám định tại cơ quan
    Công an. Kết luận của cơ quan Công an về số khung và/hoặc số máy là cơ sở đề
    giải quyết các thủ tục kiểm tra chất lượng nhập khẩu theo quy định.
    2- Cấm nhập khẩu ô tô các loại có tay lái bên phải (tay lái nghịch kể cả dạng tháo rời
    và dạng đã được chuyển đổi tay lái trước khi nhập khẩu vào Việt Nam, trừ các loại
    phương tiện chuyên dùng có tay lái bên phải hoạt động trong phạm vi hẹp gồm: xe
    cần cẩu; máy đào kênh rãnh; xe quét đường, tưới đường, xe chở rác và chất thải
    sinh hoạt; xe thi công mặt đường; xe chở khách trong sân bay và xe nâng hàng trong
    kho, cảng; xe bơm bê tông; xe chỉ di chuyển trong sân gol, công viên
    3- Cấm nhập khâu ôtô cứu thương đã qua sử dụng
    4- Cấm tháo rời ôtô khi vận chuyển và khi nhập khẩu.
    5- Cấm nhập khâu ôtô các loại đã thay đổi kết cấu, chuyển đổi công năng so với thiết
    kế ban đầu, kể cả ôtô có công năng không phù hợp với số nhận dạng của ôtô hoặc
    số khung của nhà sản xuất đã công bố, bị đục sửa số khung, số máy trong mọi
    trường hợp và dưới mọi hình thức.
    III. THỦ TỤC NHẬP KHẨU VÀ ĐĂNG KÝ LƯU HÀNH
    1- Ôtô đã qua sử dụng nhập khẩu ngoài các hồ sơ hải quan theo quy định, người
    nhập khẩu phải nộp cho cơ quan Hải quan 01 bản chính và 01 bản sao (có xác nhận
    do giám đốc doanh nghiệp ký tên, đóng dấu) của một trong các loại giấy tờ sau:
    a) Giấy chứng nhận đăng ký.
    b) Giấy chứng nhận lưu hành;
    c) Giấy huỷ Giấy chứng nhận đăng ký hoặc Giấy hủy Giấy chứng nhận lưu hành.
    Giấy chứng nhận quy định tại điểm a, b, c nêu trên do cơ quan có thẩm quyền của
    nước nơi ôtô được đăng ký lưu hành cấp.
    2- Ô tô đã qua sử dụng chỉ được nhập khẩu về Việt Nam qua các cửa khẩu cảng
    biển quốc tế: Cái Lân Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh.
    Thủ tục hải quan được thực hiện lại của khẩu nhập.
    3- Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan Hải quan kiểm tra thực tế
    hàng hóa, người nhập khẩu phải nộp bộ hồ sơ xin đăng kiểm và thông báo địa điểm
    để cơ quan Đăng kiểm thực hiện kiểm tra chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi
    trường
    4- Chậm nhất 30 ngày, kể từ ngày nhận được bộ hồ sơ xin đăng kiểm hợp lệ, cơ
    quan Đăng kiểm phải thông báo kết quả đăng kiểm cho người nhập khẩu.
    5- Cơ quan Hải quan chỉ được phép giải phóng, thông quan hàng hoá khi có thông
    báo kết quả kiểm tra chất lượng của cơ quan Đăng kiểm xác nhận đủ điều kiện nhập
    khẩu theo quy định. Trường hợp quá 33 ngày, kể từ ngày cơ quan Hải quan kiểm tra
    thực tế hàng hóa mà người nhập khẩu không xuất trình được kết quả kiểm tra chất
    lượng hoặc kết quả kiểm tra chất lượng không đủ điều kiện nhập khẩu thì phải xử lý
    theo quy định của pháp luật.
    6- Trường hợp phải kéo dài thời hạn kiểm tra để trưng cầu giám định theo quy định
    tại điểm đ, e, mục 1 phần II của Thông tư này, cơ quan Đăng kiểm thông báo bằng
    văn bản cho cơ quan Hải quan và người nhập khẩu biết
    7- Cơ quan Cảnh sát Giao thông thực hiện kiểm tra hồ sơ của ôtô nhập khẩu trước
    khi làm thủ tục đăng ký. Trường hợp phát hiện xe không đủ điều kiện nhập khẩu thì
    không làm thủ tục đăng ký và thông báo bằng văn bản cho cơ quan Hải quan biết đề
    xử lý theo quy định
    V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
    1- Các Bộ theo thẩm quyền của mình tổ chức thực hiện các quy định của Thông tư
    này, Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 1 năm 2006 và các văn bản pháp
    luật liên quan. Trong quá trình thực hiện có khó khăn vướng mắc cần phản ánh về
    Bộ Thương mại, các Bộ liên quan để chỉ đạo, bàn biện pháp xử lý, phối hợp chỉnh
    sửa kịp thời.
    2- Bãi bỏ những quy định trước đây trái với những quy định tại Thông tư này.
    3- Thông tư này có hiệu lực thực hiện từ 01 tháng 5 năm 2006.
     

Chia sẻ trang này