Đang tải...

CLB Máy bay - Không quân Sơ đồ máy bay thế hệ 5 hạng

Thảo luận trong 'Câu lạc bộ các ngành kỹ thuật' bắt đầu bởi MTV, 30/10/09.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. MTV
    Offline

    MTV
    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    8/4/09
    Số km:
    1,597
    Được đổ xăng:
    11
    Mã lực:
    181
    Xăng dự trữ:
    91 lít xăng
    Việc chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm là một trong những nhiệm vụ phức tạp nhất của ngành công nghiệp hàng không quốc phòng Nga. Nó là vừa là “bộ mặt”, vừa là tương lai của nền công nghiệp hàng không vũ trụ Nga.

    Cho tới thời điểm hiện tại, chỉ có hai loại máy bay chiến đấu thế hệ 5 đã được sản xuất hàng loạt hoặc đang chuẩn bị sản xuất hàng loạt, đó là F22 Raptor và F35 Lightning (hãng Lockheed Martin) của Mỹ; trong đó F35 là loại “máy bay tiêm kích hợp nhất” - nằm trong chương trình phát triển hệ máy bay tiêm kích hợp nhất JSF Joint Strike Fighter của Bộ Quốc phòng Mỹ.

    F22 Raptor

    [​IMG]

    F35 Lightning

    [​IMG]

    Máy bay chiến đấu thế hệ 5 được coi là những mẫu máy bay có các đặc tính sau:
    • Có đặc tính siêu cơ động: máy bay thế hệ 5 có thể bay với các chế độ góc tấn từ cao đến cực cao với tải G lớn; có khả năng kiểm soát độ ổn định trên toàn dải vận tốc từ cực thấp đến cực cao (kể cả khi vận tốc bằng không).
    • Có khả năng cất cánh, hạ cánh thẳng đứng hoặc trên đường băng ngắn; dùng hệ thống lực đẩy dạng vecto có thể chuyển hướng được (thrust vectoring).
    • Có thể đạt tốc độ siêu âm bằng chế độ thông thường của động cơ (không cần chế độ tăng tốc - afterburner)
    • Tín hiệu phản xạ nhỏ (có khả năng tàng hình)
    • Có khả năng cao trong tìm diệt mục tiêu trên không và dưới đất.
    • Có các thông số tiên tiến tới cao cấp về các chế độ vận hành, bảo dưỡng.

    Xét trên mặt bằng tổng thể, do những điều kiện bất lợi về kinh tế xã hội những năm 90 thế kỷ trước mà hiện tại Nga đang tụt hậu so với Mỹ khoảng một thế hệ trong việc phát triển các mẫu máy bay chiến đấu thế hệ 5. Mãi cho tới năm 2000-2001 khi Mỹ đã bắt đầu triển khai sản xuất hàng loạt F22, Nga mới sản xuất hàng loạt sê-ri Su 30 MKK được liệt vào thế hệ 4+! Còn các loại khác như Su 35, Mig29SMT...mới qua giai đoạn thử nghiệm.

    Trong các cuộc họp báo, hội thảo hay hội nghị chính thức, việc phát triển máy bay chiến đấu thế hệ 5 được tất cả mọi giới của nước Nga ủng hộ như các nhà thiết kế, các tổ hợp công nghiệp, giới quân sự, quan chức chính phủ...Nhưng tại các buổi nói chuyện riêng không chính thức, các nhà lãnh đạo những giới này lại thừa nhận một thực tế đáng buồn là dường như nước Nga hiện nay không đủ sức để thực hiện một chương trình đầy tham vọng như thế.

    Những phân tích dưới đây hy vọng phần nào làm sáng tỏ những thách thức cũng như những cơ hội cho nền công nghiệp hàng không Nga khi bước vào nghiên cứu triển khai thế hệ máy bay chiến đấu thế hệ thứ Năm.

    2. Nhận dạng đối thủ chính cho máy bay chiến đấu của Nga thế hệ thứ năm

    Các chuyên gia đã rất thống nhất khi đánh giá rằng trong vòng một thập kỷ tới nước Nga hầu như không có cơ hội để đưa vào sản xuất hàng loạt một loại máy bay thế hệ thứ năm trên cơ sở hai mẫu thử nghiệm là S37 và 1.44 (do hai cơ sở thiết kế Su-khôi và Mig đưa ra) để có thể đối chọi với tiêm kích hạng nặng F22 Raptor của Mỹ.

    Mẫu máy bay thử nghiệm Mig 1.44

    [​IMG]

    Mẫu máy bay thử nghiệm Su-khôi S37 (hoặc còn gọi là Su-47)

    [​IMG]

    Và như vậy, mục tiêu của ngành công nghiệp hàng không Nga hiện tại dần dần chuyển sang một loại hình chiến đấu cơ khác: tiêm kích hạng nhẹ LFI - легкий фронтовой истребитель – ЛФИ.

    Điều này hoàn toàn có thể giải thích được, vì rằng sự ra đời của chiếc tiêm kích hợp nhất Joint Strik Fighter JSF - F35 là sự thách thức nguy hiểm đáng phải để ý hơn cho nền công nghiệp hàng không Nga so với việc chiếc tiêm kích siêu đẳng - siêu đắt F22 Raptor đang được sản xuất hàng loạt. Theo những tính toán mới nhất, một chiếc F22 có giá khoảng 200 triệu USD. Do vậy, F22 hầu như chỉ được sử dụng cho nhu cầu quốc phòng Mỹ nhằm tạo sức mạnh áp đảo trong không chiến mà không có xuất khẩu ra các thị trường thế giới. Ngược lại, dòng máy bay tiêm kích hợp nhất JSF với mẫu cơ sở là F35 sẽ được chế tạo với cả mục đích xuất khẩu. Theo dự báo của các chuyên gia quân sự, Mỹ trong tương lai có thể xuất khẩu ít nhất là 2000 chiếc.

    Theo đánh giá của Giám đốc Viện nghiên cứu quốc gia về các hệ thống hàng không (ГосНИИАС) Viện sỹ E. Fedosov, chương trình JSF được triển khai không chỉ cho trang bị mới hoặc tái trang bị các nước NATO mà còn với mục tiêu đẩy nước Nga ra khỏi thị trường xuất khẩu máy bay chiến đấu đầy béo bở này. Khi thực hiện chương trình JSF, người Mỹ đã giới hạn giá cho loại máy bay chiến đấu thế hệ 5 này là khoảng 30-38 triệu USD tuỳ thuộc vào thay đổi cấu hình để khi thiết kế chế tạo, các hãng phải tuân theo tiêu chí về giá đó.

    Nếu như người Mỹ thành công, các máy bay tiêm kích thế hệ 4 như Su27, Mig29 hoặc thế hệ 4+ như Su30, Mig29XXX, Mig 31 sẽ không thể cạnh tranh được trên thị trường vũ khí thế giới, và trong trường hợp các hợp đồng trong nước bị cắt giảm tối đa thì đó thực sự sẽ là thảm hoạ cho ngành công nghiệp hàng không Nga.

    Có một điều đáng ngạc nhiên là các chuyên gia Nga lại có những đánh giá khá mâu thuẫn về triết lý của chương trình JSF. Theo ý kiến của Tổng công trình sư Tổ hợp Su-khôi ông M. Simonov, khái niệm xây dựng một mẫu máy bay thống nhất (hợp nhất) cho tất cả các quân binh chủng, thống nhất cả các phương pháp bảo dưỡng, hậu cần, cất hạ cánh là không lô-gic. Ông cho rằng giá trị của việc cất hạ cánh thẳng đứng là không cao lắm vì các sân bay hiện đại hoặc trên các tàu sân bay đều có thể trang bị thiết bị móc hãm máy bay khi hạ cánh. Viện sỹ Fedosov cũng nhắc lại: “Người Mỹ đã sai lầm khi chú trọng vào khả năng cất hạ cánh thẳng đứng của máy bay, điều này làm phức tạp thêm hệ thống của máy bay. Từ đó làm giảm tải trọng chiến đấu, giảm tầm bay.v.v...Chúng ta đã biết rõ về vấn đề này, đã trả giá qua việc thiết kế chế tạo Yak-141”.

    Fedosov còn nói rằng đối với lực lượng lính thuỷ đánh bộ sẽ chế tạo một loại máy bay chuyên dụng có khả năng cất hạ cánh thẳng đứng. Ngoài ra, các đặc tính cất hạ cánh của máy bay chiến đấu cơ sở sẽ được nâng cao qua một loạt các biện pháp truyền thống.

    3. Những tiêu chí cho máy bay thế hệ 5



    Những tranh luận về các chi tiết như trên đã kéo dài tới gần chục năm trong khi đề án JSF của Bộ Quốc phòng Mỹ được ráo riết triển khai. Như vậy, có thể nhận định rằng trong khi Mỹ đang tăng hết tốc lực để chế tạo ra cả “một họ” máy bay chiến đấu thế hệ 5 (JSF) thì người Nga dường như vẫn chưa xác định được cho mình những tiêu chí cho việc phát triển rồi chế tạo loại máy bay như vậy. Dường như các nhà chế tạo Nga chưa thống nhất được định nghĩa thế nào là máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm. Những tranh luận dưới đây đã thể hiện khá rõ điều đó.



    Các chuyên gia Nga cho rằng về cơ bản, máy bay chiến đấu thế hệ 5 về cơ bản phải có các tinh năng như: khả năng tàng hình ở một mức độ nhất định, bay với tốc độ siêu âm không cần chế độ tăng tốc, siêu cơ động. Vẫn là Viện sỹ Viện trưởng Fedosov - Viện nghiên cứu quốc gia về các hệ thống hàng không (ГосНИИАС) - với nhận định hoàn toàn ngược lại: “Kỷ nguyên của định nghĩa về thế hệ máy bay theo những đặc tính bay - kỹ thuật đã chấm dứt. Sự khác biệt chính giữa máy bay thế hệ 4 với thế hệ thứ năm là nằm ở hệ thống khí tài trên buồng lái”. Ông cho rằng ba đặc tính mà các chuyên gia đưa ra để đặc trưng cho máy bay chiến đấu thế hệ 5 là không có tính nguyên tắc và không bắt buộc phải tuân thủ khi thiết kế máy bay thế hệ mới.



    Theo đánh giá của Fedosov, tiêu chí siêu cơ động đã thành hiện thực ở chiếc Su30. Trên chiếc máy bay này, động cơ đã được trang bị hệ thống tạo lực đẩy có khả năng chuyển hướng (thrust vectoring) tạo khả năng cất hạ cánh với đường băng ngắn và nâng cao sức cơ động của máy bay trong không chiến. Ông cũng cho rằng siêu cơ động trong không chiến chỉ tăng một cách không đáng kể phạm vi sử dụng vũ khí trên cự li gần. Và cũng theo ý kiến của ông, để có được một vài lợi thế trong cận chiến kiểu cổ điển với sử dụng súng máy và tên lửa tầm gần các nhà thiết kế sẽ phải trả một cái giá rất đắt. Đó là việc cần thiết phải đảm bảo chế độ làm việc ổn định cho động cơ máy bay ở tại những trạng thái cực kỳ phức tạp của siêu cơ động.



    Dựa trên những thành quả to lớn đạt được về công nghệ chế tạo động cơ, Fedosov đề xuất không phát triển máy bay thế hệ mới theo tiêu chí này nữa.



    Về tiêu chí vận tốc siêu âm ở chế độ bay hành trình, theo ý kiến của Fedosov, nó chỉ quan trọng khi cần phải giải quyết nhiệm vụ phòng không trên một lãnh thổ rộng lớn, khi mà các máy bay cần phải có một tốc độ bay đủ lớn để di chuyển và đánh chặn ở những vùng biên giới xa xôi của lãnh thổ. Đối với nước Nga, rõ ràng tiêu chí này là quan trọng, nhưng hiện tại, lực lượng không quân Nga đã được trang bị hai loại tiêm kích đánh chặn hạng nặng với tầm bay lớn là Su30 và Mig31. Nếu tính đến nhiệm vụ của lực lượng phòng không sẽ được giải quyết trong sự phối hợp chặt chẽ giữa không quân, tên lửa phòng không và chiến tranh điện tử thì dường như không cần thiết phải cấp tốc triển khai chế tạo một thế hệ máy bay mới. Đơn giản hơn là nâng cao hơn khả năng chiến đấu của những loại máy bay hiện có (chẳng hạn như chương trình cải tiến Mig31M).



    Fedosov cho rằng đối với những máy bay có trọng lượng nhỏ hơn 20 tấn không nhất thiết phải cố gắng thiết kế để đạt vận tốc siêu thanh. Và tất cả những luận điểm của Viện sỹ Fedosov đều là đúng đắn nếu xuất phát từ sự cần thiết ưu tiên chế tạo máy bay tiêm kích hạng nhẹ thế hệ thứ năm. Quyết định triển khai chế tạo máy bay tiêm kích hạng nhẹ LFI như trên được dựa trên ba yếu tố sau:



    - F22 Raptor của Mỹ sẽ chỉ dùng trong nội địa nước Mỹ, không phổ biến rộng rãi. Đối thủ chủ yếu của máy bay chiến đấu thế hệ 5 của Nga sẽ là dòng JSF (đại diện là mẫu cơ sở F35).

    - Giá thành của máy bay tỷ lệ thuận với trọng lượng của nó, mà nước Nga thì hiện tại chưa có nhiều tiền

    - Thị trường chính của thế hệ máy bay này trước tiên là các nước thuộc khối SNG.



    Thế nhưng ở đây, Tổng công trình sư của Tổ hợp Su-khôi ông M. Simonov lại có quan điểm ngược lại với Viện sỹ Fedosov. Ông cho rằng máy bay chiến đấu thế hệ 5 JSF một nửa là phục vụ cho thương mại, còn chính F22 mới thực sự là một chiếc tiêm kích để dành ưu thế trên không. Và nước Nga không được phép đánh giá thấp nó, ngược lại, nước Nga phải có nghĩa vụ triển khai những mẫu máy bay tương tự để đáp trả lại. Ông không phủ nhận sự cạnh tranh nguy hiểm trên thương trường của dòng JSF F35 và đề xuất chế tạo những máy bay chiến đấu hạng nhẹ thế hệ mới một động cơ tương tự (mà tổ hợp Su-khôi đang nghiên cứu chế tạo như S55, S56).



    Tiêu chí "tàng hình" sẽ được đề cập ở phần dưới đây.



    4. Cuộc rượt đuổi “bóng ma” tàng hình



    Về vấn đề này, cũng hơi thấy kỳ lạ là Viện sỹ Fedosov có quan điểm khá bảo thủ về kỹ thuật tàng hình – một trong những yêu cầu chính của máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm.



    Theo lời ông, kinh nghiệm trong các cuộc chiến tranh vùng Vịnh và Nam tư cho thấy với chiến thuật sử dụng thời nay để chọc thủng hàng phòng ngự đối phương, không phải máy bay chiến đấu mà chính là các tên lửa “không đối đất” sẽ trở thành mục tiêu chính cho các hệ thống phòng không phía phòng ngự. Viện sỹ Fedosov nói: ”Nếu như hệ thống phòng không để lọt tên lửa, hệ thống phòng ngự sẽ bị thủng và theo “chỗ thủng” đó, bất kỳ loại máy bay chiến đấu nào cũng thể thoát qua. Do vậy, đối với hệ thống phòng không hiện đại, tiêu chí đặt ra là phải tiêu diệt cho được mục tiêu điển hình là bất kỳ vật thể bay nào có bề mặt phản xạ hiệu dụng - эффективная поверхность рассеивания (ЭПР) từ 0.1m2 và nhỏ hơn”.



    Xuất phát từ quan điểm này, ông cho rằng về lý thuyết máy bay với bề mặt phản xạ hiệu dụng nhỏ như vậy có thể chế tạo được, nhưng công năng của máy bay sẽ bị hạn chế thậm chí tụt lùi đi rất nhiều. Ví dụ như chiếc máy bay tàng hình F117 Night Hawk của Mỹ, để có được tính năng tàng hình mạnh mẽ, nó đã phải hy sinh tốc độ, trọng lượng vũ khí mang theo, tính cơ động, khả năng điều khiển bay…Viện sỹ đã đưa ra giới hạn của tính năng tàng hình mà khả năng hiện tại về công nghệ có thể cho phép, đó là giá trị bề mặt phản xạ hiệu dụng - эффективная поверхность рассеивания (ЭПР) bằng 0.3m2. Nhưng đối với máy bay chiến đấu, giá trị này là giới hạn không thể với tới được bởi vì bản thân máy bay còn phải mang ăng-ten liên lạc, các loại thiết bị báo dẫn đường, cảnh báo, trinh sát.v.v…để rồi cuối cùng tổng giá trị bề mặt phản xạ hiệu dụng của tòan thể máy bay sẽ bằng khỏang 1m2.



    Theo Fedosov, “tàng hình” là một cái “mốt” hiện nay trong thiết kế máy bay chiến đấu thế hệ mới! Tất nhiên, cũng cần phải đạt được tính năng tàng hình thông qua thiết kế tạo dáng khí động học, qua việc ứng dụng các vật liệu hấp thụ sóng ra-đa ở những vị trí cần thiết và có thể lắp đặt được. Nhưng không thể vì chạy theo tính năng tàng hình mà phải hy sinh những tính năng quan trọng khác của một chiếc máy bay chiến đấu.



    Về tất cả những vấn đề trên, Tổng công trình sư tổ hợp Su-khôi M. Simonov không hòan toàn đồng ý với Viện sỹ Fedosov. Ông cho rằng, tất cả các máy bay chiến đấu thế hệ mới của các đối thủ tiềm năng đều áp dụng triệt để công nghệ tàng hình. Những máy bay với khả năng tàng hình thấp đương nhiên là sẽ bị bắn phá, tìm diệt ngay từ những cự li rất xa; phi công lái sẽ không thể hiểu được ai bắn họ và bắn từ đâu. Như vậy, tiêu chí về độ tàng hình cao là cần thiết với tất cả những máy bay chiến đấu hiện đại thế hệ năm.




    [​IMG]






    5. Vấn đề cốt lõi – hệ thống khí tài trên máy bay

    Một công trình sư chế tạo máy bay nổi tiếng đã nói rằng: “Từ nhu cầu phát hiện địch đã nảy sinh ra hệ thống theo dõi & ngắm bắn mục tiêu. Cần phải nhìn thấy đối phương. Cần phải có những hệ thống thiết bị với nguyên lý hoàn toàn mới trong dải định vị bằng ra-đa cũng như bằng hệ thống quang-điện tử”.

    Cách tiếp cận vấn đề của Viện sỹ Fedosov còn “cách mạng” hơn: “Điểm nhấn chính của máy bay thế hệ 5 chính là hệ thống thiết bị khí tài của chúng. Nếu nói về những kinh nghiệm của Mỹ (mà hiện tại họ vẫn đang đang dẫn đầu) thì đầu tiên cần phải chỉ rõ rằng trong phạm vi những tiêu chí của họ, người Mỹ về nguyên tắc đã bước sang một nguyên lý hoàn toàn mới, đó là việc điều khiển các hệ thống khí tài, vũ khí trên máy bay bằng hệ thống gọi là “không gian ảo” - виртуальное пространство – virtual space. Tôi cho rằng hệ thống điều khiển máy bay kiểu “không gian ảo” này cần phải là một tiêu chí quan trọng cho máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm”.

    Không gian nói trên được tạo ra trên nền của một số thành phần như:

    - Đối với mỗi chuyến bay, tất cả các thông số về tuyến bay, hình ảnh ba chiều (3D) của địa hình khu vực dự định tác chiến tại đó, tất cả các thông tin về mục tiêu, về phòng không đối phương.v.v...sẽ được nạp vào hệ thống qua thiết bị trung gian chẳng hạn như đĩa quang, đĩa từ, flash memory...
    - Trong quá trình bay, các thông tin thực nhận được từ các hệ thống theo dõi, định vị, đẫn đường.v.v...được cập nhật và so sánh với những thông đã nạp từ trước.
    - Các thông số chính về hình dạng các loại máy bay khác và thiết bị của chúng (đối với máy bay thế hệ 5).
    - Tất cả các quá trình phát hiện và theo dõi mục tiêu được xem xét tổng thể trong sự phối hành động của một nhóm. Xuất hiện các yếu tố điều khiển đường bay trong không chiến (ví dụ: một máy bay có thể đóng vai trò trung tâm chỉ huy, các máy bay khác hành động theo chế độ tắt các thiết bị vô tuyến).

    Một tập hợp tất cả các thành phần kể trên sẽ tạo thành không gian ảo cho phi công. Kết quả là người lái luôn luôn nhìn thấy trên một màn hình không gian ba chiều vị trí tương đối của mình đối với địa hình phía dưới và vị trí các điểm phòng không đối phương. Còn trên màn hình khác sẽ phản ánh hiện thực các thao tác chiến đấu. Nếu trong tình huống không chiến, phi công sẽ hình dung được một bức tranh tổng thể: vị trí của đối phương, đường bay của tên lửa.v.v...Sự kiện bắn rơi máy bay đối phương cũng sẽ được ghi lại trên hệ thống, một việc mà cho đến nay chưa có hệ thống nào làm được.

    Về tần công các mục tiêu mặt đất từ các máy bay thế hệ 5 sẽ được hình dung như sau: những quả bom (tên lửa) ném xuống trên thực tế sẽ lùi về sau máy bay và phi công sẽ không nhìn thấy chúng. Mặt khác, họ sẽ nhận được thông tin về đường bay của bom (tên lửa) và độ chính xác vào mục tiêu của chúng qua hệ thống định vị vệ tinh truyền vào máy bay.

    Ngoài ra, để có thể chế tạo máy bay thế hệ 5, một số công nghệ và kỹ thuật sau đây cần phải được áp dụng:

    - Công nghệ tính toán cao cấp nhằm đảm bảo cho máy bay một hệ thống tính toán điều khiển hoàn toàn mới có cấu trúc không gian phân bố đều trên máy bay. Với một cấu trúc như vậy, thời gian thao tác chỉ huy, nhận và thực hành các lệnh sẽ giảm đi đáng kể, và đó là tiền đề cho sự chiến thắng trong trận chiến.
    - Hệ thống vô tuyến định vị mới có khả năng quan sát bao quát xung quanh máy bay được xây dựng trên nguyên tắc tích hợp khẩu độ. Nguyên tắc này dựa trên ý tưởng tích hợp tất cả các ăng-ten và các thiết bị phát tần số cao vào một cấu trúc thồng nhất nhằm giảm thiểu sự phát xạ radio, đảm bảo độ tàng hình cho máy bay, đảm bảo tính đa năng của máy bay.

    6. Những thành tựu đã đạt được

    Những phân tích ở trên cho thấy để triển khai thành công dự án máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm người Nga cần phải có một sự liên kết các tổ hợp thiết kế - chế tạo lại với nhau (Sukhoi, Mikoyan, Yakovlev...) và gắn kết với các cơ quan chức năng của chính phủ để có thể huy động tối đa và tối ưu nguồn lực.

    Một số quan chức như Tổng Giám đốc tổ hợp Su-khôi M. Pogosyan và Viện sỹ E. Fedosov còn nhận định xa hơn khi nói tới vấn đề hợp tác quốc tế để chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ 5. Các ông nhận định rằng dự án máy bay thế hệ 5 JSF của Mỹ hiện cũng là một dự án “xuyên quốc gia” và nước Nga nếu muốn không bị đẩy ra khỏi thị trường mua bán vũ khí (ở đây là máy bay chiến đấu) thì vấn đề hợp tác quốc tế là không thể tránh khỏi.

    Fedosov cho rằng tiềm năng hợp tác không chỉ giới hạn ở Ấn độ và Trung quốc (đối với Tổ hợp Su-khôi) mà còn có thể là các hãng chế tạo máy bay châu Âu bởi chính quyền lợi của họ cũng bị chương trình JSF “uy hiếp”, nhất là người Pháp và người Đức bởi họ cũng đang có tham vọng chế tạo một loại máy bay chiến đấu châu Âu Eurofighter thế hệ 5. Như vậy, một sự hợp tác dạng “ lấy công nghệ từ châu Âu, lấy tiền từ châu Á” dường như là phương án không tồi cho người Nga để phát triển loại máy bay chiến đấu thế hệ 5 của mình.

    Còn hiện tại, nước Nga đã có những bước đi cụ thể nhằm thực hiện chương trình chế tạo máy bay thế 5 của mình. Vào tháng 2 năm 2006, theo sắc lệnh của Tổng thống V. Putin đã thành lập Liên hiệp Tập đoàn chế tạo máy bay United Aircraft Corporation (UAC) - Объединённая авиастроительная корпорация (OAK). Đó là tập đoàn nhà nước hiện lớn nhất nước Nga được lập trên cơ sở các tổ hợp thiết kế chế tạo máy bay thành viên như: Beriev, nhà máy Irkutsk Aviation, Russian Avionics Design Bureau, IRKUT AviaSTEP Design Bureau; BETA AIR; Mikoyan, Sukhoi, Ilyushin, Tupolev,Yakovlev, nhà máy TAPO-Tashkent, Uzbekistan.

    Tập đoàn có chức năng đa dạng trong đó có thiết kế chế tạo các loại máy bay dân dụng, quân sự, vận tải, không người lái. Chủ tịch Tập đoàn là ông Sergei Ivanov – Phó TT, Bộ trưởng Quốc phòng Nga.

    Sơ đồ máy bay thế hệ 5 hạng nặng - T50
    [​IMG]

    Thừa kế các nghiên cứu trước đây của các Tổ hợp Sukhôi, Mig, Yakovlev..., hiện nay tại Tập đoàn các chương trình nghiên cứu phát triển máy bay thế hệ 5 đang được tiến hành dưới một cái tên chung là “Hệ thống máy bay chiến đấu tiền tuyến tương lai – PAK FA” - Перспективный авиационный комплекс фронтовой авиации ПАК ФА. Nằm trong chương trình PAK FA là các dự án:

    - Dự án máy bay chiến đấu đa năng hạng nhẹ LFI với các mẫu S56, S57 (Sukhôi), Mig 1.27 (Hình như đã kết thúc)
    - Dự án máy bay chiến đấu đa năng MFI với các mẫu Su 47, Mig 1.44 (Đã kết thúc)
    - Dự án phối hợp cả Sukhoi và Mig vào để thiết kế mẫu tạm gọi là I21 (Истребитель – 21) - PAK FA: theo dự án này, Tổ hợp Sukhôi sẽ chủ trì việc chế tạo dòng máy bay hạng nặng có mã hiệu T50 (có trọng lượng tới 35 tấn) để đối với F22 Raptor, Tổ hợp Mig sẽ chủ trì đảm trách việc chế tạo dòng hạng nhẹ để đối với F35 Lightning. Vào ngày 6/4/2007 các tổ hợp đã bảo vệ thành công trước Bộ QP Nga mẫu máy bay thế hệ 5. Bộ trưởng QP nhận định các chuyến bay thử nghiệm sẽ bắt đầu vào năm 2009 trước khi sản xuất hàng loạt.

    So sánh T50 với F22 Raptor của Mỹ
    [​IMG]

    Tài liệu tham khảo:
    - http://aeronautics.ru/
    - С.Сокут - "Независимого военного обозрения" Авиация и космонавтика № 1 2000 г.

     

Chia sẻ trang này