Đang tải...

Sự ra đời của dây chuyền lắp ráp xe hơi

Thảo luận trong 'Hội chơi xe' bắt đầu bởi otohui, 20/10/09.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. otohui
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    24/3/09
    Số km:
    2,567
    Được đổ xăng:
    74
    Mã lực:
    381
    Xăng dự trữ:
    350 lít xăng
    Trong 90 năm qua, phương pháp sản xuất ôtô hầu như vẫn thế: khung gầm xe được chạy theo một dây chuyền và các công nhân tiến hành lắp ráp lần lượt các chi tiết vào chiếc xe tùy theo công việc đã được chuyên môn hóa.
    Ford đã sáng chế ra cách lắp xe theo dây chuyền, Toyota cải tiến lại phương pháp nhưng quy trình thì vẫn không thay đổi. Tại khâu cuối cùng của dây chuyền, chiếc xe được hoàn tất. Và phát minh này vẫn được coi là một trong những sáng chế có tầm quan trọng nhất của ngành công nghiệp hiện nay.
    Người ta vẫn coi Henry Ford là tác giả của dây chuyền lắp ráp xe ôtô, nhưng theo cộng sự thân tín của ông - Charles Sorensen - thì không phải như vậy. Sorensen, làm việc tại Công ty Ford Motor từ năm 1905 tới 1944, chính ông mới là người đưa ra ý tưởng trên.
    [​IMG]
    Model T của Ford sản xuất năm 1914.
    Henry Ford tỏ ra bàng quan trước những thử nghiệm của Sorensen và một đốc công trẻ tên là Charles Lewis. Trong cuốn sách của mình mang tên "40 năm với Ford", Sorensen viết: "Khi đó, tôi chợt nảy ra ý tưởng rằng công việc lắp ráp xe sẽ trở nên dễ dàng hơn, đơn giản hơn và nhanh hơn nếu để cho khung xe chạy theo một dây chuyền. Từ đầu này của nhà máy, chúng tôi sẽ lắp trục và bánh xe vào khung, cho nó di chuyển tới những chỗ ráp linh kiện, thay vì làm như trước đây là chuyển các chi tiết từ kho tới để lắp vào khung".
    Đó là năm 1908. Để biến ý tưởng thành hiện thực, Sorensen và trợ lý của ông đã làm việc suốt một tháng, kể cả chủ nhật, trong một căn phòng bí mật với một dây ngay trên sàn nhà. Cả hai bắt đầu với việc lắp bánh xe và một số chi tiết dưới gầm.
    Trong ngày đầu tiên giới thiệu mô hình sản xuất mới, Sorensen cho gắn một khung xe trên bánh trượt. Hai phụ tá giúp việc đẩy khung xe di chuyển từ từ trong khi Sorensen và Lewis vừa đi theo vừa lắp ráp các chi tiết. "Lewis và tôi có vài người giúp việc cùng lắp ráp chiếc xe đầu tiên. Chắc chắn chưa bao giờ có một chiếc xe nào được chế tạo theo cách này trước đó", Sorensen viết.
    Theo Sorensen, Henry Ford tỏ ra hoài nghi nhưng ủng hộ việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện dây chuyền ráp xe. Ngược lại, chuyên gia luyện kim của hãng khi đó - Harold Wills - người về sau thành lập công ty chế tạo ôtô Wills-St.Clair, phản đối kịch liệt. Wills cho rằng đây là một cách làm cho công ty phá sản.
    Được thai nghén từ năm 1908, phải 5 năm sau đó dây chuyền lắp ráp xe mới được hoàn tất. Năm 1908 chính là thời điểm Ford đang chuẩn bị chấm dứt sản xuất mẫu xe Model N và một phương pháp sản xuất mới có thể ảnh hưởng đến kế hoạch của họ. Tháng 10 năm đó, Model T ra mắt. Sản xuất được bắt đầu vào tháng 12 và theo Sorensen, chuyến hàng đầu tiên giao tới tay khách hàng vào tháng 2/1909. Model T là mẫu xe mà Henry Ford ấp ủ từ lâu, nó nhanh chóng trở nên nổi tiếng và đơn đặt hàng tới tấp bay về. Cả nhà máy tập trung vào sản xuất và dây chuyền lắp ráp của Sorensen bị xếp sang một bên.
    Henry Ford còn có một mối bận tâm nữa: một người tên là George Selden được cấp bằng sáng chế về một mẫu xe sử dụng động cơ. Dù Selden không chế tạo xe nhưng bằng sáng chế của ông được tôn trọng rộng rãi và phần lớn ngành công nghiệp ôtô non trẻ của Mỹ khi đó đều chấp nhận trả tiền bản quyền cho Selden. Nhưng Henry Ford, quá cứng đầu để có thể chấp nhận điều đó, đã quyết định vừa sản xuất xe vừa kiện lên tòa án. Ông tuyên bố bằng sáng chế của Selden không phải là một cái cơ bản cho mọi chiếc xe, và thề sẽ đưa vụ việc lên tòa áo tối cao nếu cần thiết.
    Cuối cùng, tháng 1/1911, tòa phúc thẩm xác nhận bằng sáng chế của Selden nhưng cũng khẳng định Ford và các nhà sản xuất xe hơi khác không cần phải xin phép để phát triển những chiếc xe của riêng họ. Sự nhượng bộ này giải phóng ngành công nghiệp xe hơi Mỹ và đó là một trong những thành công cá nhân vĩ đại nhất của Henry Ford.
    Cùng lúc đó, việc mẫu xe Model T trở nên phổ biến quá nhanh đã dẫn đến nhu cầu xây dựng một nhà máy mới trên một diện tích rộng một phần tư cây số vuông. Địa điểm mới cho phép Sorensen có cơ hội lắp đặt dây chuyền của mình.
    Tháng 8/1913, dây chuyền lắp ráp hoàn tất. Lần này khung xe được di chuyển bằng máy móc. Do thời gian lắp đặt các bộ phận của xe không giống nhau nên cần dây chuyền đã không vận hành trơn tru ngay lập tức. Tuy vậy, phương pháp này đã thành công một cách ấn tượng. Chỉ sau một năm, thời gian lắp một chiếc Model T đã giảm từ 12,5 giờ xuống còn 1,5 giờ. Phương pháp sản xuất mới lập tức trở thành chuẩn mực cho các ngành công nghiệp.
    Năm 1912, Ford đạt sản lượng 170.000 xe. Hai năm sau, con số này là 308.000 xe và tới năm 1916 là 735.000 xe. Cho tới lúc chấm dứt sản xuất năm 1927, đã có tổng cộng hơn 15 triệu chiếc được xuất xưởng. Phương pháp sản xuất hàng loạt là một nhân tố quan trọng thúc đẩy Bắc Mỹ vươn lên đứng đầu thế giới trong ngành ngành công nghiệp ôtô thế giới. Theo tính toán, vào đầu thập kỷ 20, 80% số xe hơi trên thế giới được chế tạo tại Mỹ, và một nửa số đó thuộc về Ford Motor.
     

Chia sẻ trang này