Đang tải...

Thảo luận tài liệu nhập môn xe gắn máy đây thấy hay vote cho phát nha

Thảo luận trong 'Gara Sửa chữa xe máy Cho Biker' bắt đầu bởi sdc1412ss, 4/7/09.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. sdc1412ss
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    22/6/09
    Số km:
    910
    Được đổ xăng:
    28
    Mã lực:
    51
    Xăng dự trữ:
    216 lít xăng
    I . NHỮNG SỰ CỐ THƯỜNG GẶP
    1. 5 Sự cố thường gặp khi khởi động xe máy
    Những trục trặc ở bộ đề thường xuyên xảy ra, do vậy, xe máy
    thường có thêm cần khởi động để sử dụng trong trường hợp này. Nếu phân
    tích chính xác hiện tượng thì việc sửa chữa các hư hỏng của hệ thống này sẽ
    nhanh chóng và tiết kiệm.

    Hình 1) Vị trí máy đề
    1. Khi bấm nút start máy đề không quay
    Nguyên nhân của pan này có thể do bình acquy hết điện, rơ le đề hỏng, nút
    start không tiếp xúc, đứt dây hoặc tuột giắc cắm trong hệ thống điện. Một lý
    do quan trọng là chổi than bị mòn, chiều dài tiêu chuẩn của chi tiết này là 12
    mm, nếu chỉ còn dưới 4 mm là phải thay mới.
    2. Đề yếu không kéo nổi vô-lăng
    Lỗi này do bình acquy quá yếu, đĩa tiếp điện trong rơ-le bị cháy rỗ, chổi than
    mòn hoặc rô-to của máy đề bị chập mạch.
    3. Động cơ máy đề không chịu ngừng khi đã buông nút start
    Nguyên nhân là rơ-le đề bị dính cứng, không cắt được điện. Phải tắt chìa
    khóa, tháo rời chi tiết để sửa chữa hoặc thay mới.
    4. Phần khởi động quay tốt nhưng vô-lăng không quay
    Hiện tượng này do khớp ly hợp một chiều bị trượt, có thể vì lõi hoặc bi đề bị
    mòn, lò xo ống đẩy yếu không bung ra được. Phải vam vô-lăng ra khỏi trục
    khuỷu, tháo bộ ly hợp để xem xét sửa chữa hoặc thay mới.
    5. Khi bấm nút start có tiếng va lớn trong máy đề
    Đây là trường hợp thường gặp ở xe Trung Quốc, do chất Những trục trặc ở bộ đề thường xuyên xảy ra, do vậy, xe máy thường có thêm cần khởi động để sử dụng trong trường hợp này. Nếu phân tích chính xác hiện tượng thì việc sửa chữa các hư hỏng của hệ thống này sẽ nhanh chóng và tiết kiệm.
    2 . Ắc quy cho xe máy
    Ắc qui là một thiết bị điện cần thiết trên một chiếc xe. Nó có khả năng tích trữ
    năng lượng điện dưới dạng hóa năng và phóng điện để cung cấp cho các
    thiết bị điện sử dụng điện trên xe (còi, xi nhan, đèn thắng, CDI-DC…) dưới
    dạng điện năng. Nguyên lý hoạt động của ắc quy là ứng dụng hiệu ứng hóa
    học của dòng điện. Trong quá trình xe hoạt động, ắc quy sẽ tích và phóng
    điện liên tục. Có hai loại ắc quy cơ bản: ắc quy kiểu hở - đây là loại có thể
    châm thêm nước khi dung dịch điện phân trong ắc quy bị cạn); và ắc quy khô
    (ắc quy F: maintenance free) - không được mở nắp để châm thêm nước.
    Trong bài viết này đề cập đến loại ắc quy kiểu hở.
    Cần hiểu rõ tính năng và cách bảo dưỡng ắc quy để ăc quy luôn hoạt động
    trong tình trạng tốt nhất, cũng như có thể sử dụng ắc quy được lâu dài.
    2.1.Cấu tạo và nguyên lý làm việc của ắc quy kiểu hở:

    Hình 2)Ắc quy kiểu hở
    Hầu hết các ắc quy sử dụng trên xe gắn máy đều là loại ắc quy điện cực chì.
    Các bản cực của ắc quy có dạng vỉ lưới, bản cực dương của ắc quy làm bằng
    ôxít chì (PbO2), còn các bản cực âm làm bằng chì (Pb); các bản cực dương và
    âm được bố trí xen kẽ nhau và giữa chúng có các vách ngăn. Các vách ngăn
    có dạng tấm mỏng, có tính thẩm thấu cao và không được dẫn điện. Một ắc
    quy thường có nhiều ngăn (hộc) nối tiếp nhau, tuỳ theo điện thế cần cung
    cấp ắc quy sẽ có số ngăn khác nhau. Mỗi ngăn của ắc quy chỉ có thể sinh ra
    điện áp 2.1 ~ 2.2V, như vậy nếu điện áp ắc quy là 6V thì có 3 ngăn; nếu điện
    áp khoảng 12V thì phải có 6 ngăn .

    Hình 3)Các tấm cực của AcQuy

    Hình 4)Các tâm vách ngăn trong AcQuy
    2.2.Quá trình hóa học diễn ra trong AcQuy khi phóng và nạp điện :


    Hình 4) Quá trình phóng nạp của AcQuy
    Quá trình nạp và phóng điện của ắc quy diễn ra liên tục khi xe vận hành.
    Trong đó việc nạp điện cho ắc quy thông qua hệ thống sạc (cục sạc) và ắc
    quy phóng điện để cung cấp cho các thiết bị sử dụng điện 1 chiều(DC) trên
    xe(còi, xinhan, đèn phanh, đèn báo số …)
    2.3. Sử dụng ắc quy mới:
    Các bước thực hiện khi đem một ắc qui mới ra sử dụng:
    a. Ắc quy mới thường có một tấm niêm phong mỏng trên nắp bình và nút đậy
    nơi lỗ thoát hơi, chỉ nên tháo ra khi đem ắc quy ra để sử dụng.
    b. Dùng dung dịch điện phân (dung dịch axít Sunfuarít H2SO4 loãng) có tỷ
    trọng 1.28 đổ vào các ngăn của ắc quy tới vạch UPPER trên vỏ bình và đợi
    khoảng 10~15 phút để dung dịch ngấm đều vào các tấm điện cực, nếu thấy
    mức dung dịch giảm xuống không đồng đều ở các ngăn thì phải bổ sung
    thêm cho đủ và đồng đều ở các ngăn. (Không nên sử dụng dung dịch có tỷ
    trọng cao quá hoặc thấp quá sẽ không tốt đến tuổi thọ của ắc quy).
    c. Nạp ắc quy bằng máy sạc bình với dòng nạp bằng 1/10 dung lượng ghi
    trên vỏ bình. Ví dụ: Bình 12V- 5Ah thì nạp với cường độ 0.5A; bình 12V-7Ah
    thì nạp với cường độ 0.7A. Thời gian nạp khoảng 30 phút.Cũng có thể sử
    dụng phương pháp nạp nhanh để rút ngắn thời gian nhưng chỉ nên nạp với
    cường độ gấp đôi so với mức nạp bình thường, tuy nhiên thời gian nạp phải
    giảm xuống (Ví dụ bình 12V-5Ah nạp với dòng 1A,thời gian khoảng 15~20
    phút). Lưu ý không được đậy nắp của các ngăn bình ắc quy trong lúc nạp.
    Cẩn thận lắp đúng các cực của ắc quy vào máy nạp, thông thường dây màu
    đỏ của máy nạp sẽ đấu vào cọc có dấu cộng(+) của ắc quy và dây màu đen
    của máy nạp đấu vào cọc có dấu trừ(-).

    Hình 5)Máy sạc
    d. Nhiệt độ ắc quy trong lúc nạp điện không được để cao hơn 500 C.
    e. Không nạp ắc quy nơi có những nguồn lửa để đề phòng cháy nổ do có khí
    H2 thoát ra sẽ kết hợp với Oxy trong không khí gây phản ứng cháy nổ.
    f. Sau khi nạp xong nếu thấy mức dung dịch giảm xuống thì bổ sung thêm
    nước cất cho đồng đều ở các ngăn (chú ý lên tới vạch UPPER).
    g. Đậy các nút bình, vệ sinh bên ngoài bình bằng nước, lau khô trước khi lắp
    lên xe.
    h. Lắp ắc quy lên xe theo thứ tự dây dương trước, âm sau. Bôi một lớp mỡ
    lên các cọc bình sau khi đã xiết chặt ốc vít để bảo vệ chúng không bị hơi axít
    ăn mòn. Gắn ống thoát hơi cần cẩn thận để không kẹp, gấp khúc.
    2.4. Bảo dưỡng ắc quy :
    Ắc quy gắn lên xe sử dụng một thời gian cần phải được bảo dưỡng đúng cách
    để có thể sử dụng được lâu dài. Cần phải kiểm tra định kỳ khoảng 2 tháng 1
    lần gồm các công việc: kiểm tra mức dung dịch ở các ngăn và bổ sung, kiểm
    tra vệ sinh các cọc bình, sạc lại ắcquy bằng máy sạc…
    a. Không để mức dung dịch trong các ngăn bình xuống thấp dưới vạch
    LOWER, chỉ được dùng nước cất để bổ sung.Trước khi tháo các nắp ra cần vệ
    sinh sạch bên ngoài ắcquy tránh lọt các chất bẩn vào trong các ngăn của bình
    b. Nạp điện lại ắcquy khi thấy bình yếu (ví dụ như không đề máy được…)
    hoặc sau khi bổ sung nước cất vào bình. Dòng nạp bằng 1/10 dung lượng
    bình(xem mục c phần 3 ở trên), tuy nhiên thời gian nạp lại phụ thuộc vào tỷ
    trọng dung dịch đo được thực tế (sử dụng ống đo tỷ trọng kế có bán trên thị
    trường). Cần tháo ắc quy ra khỏi xe khi nạp lại bình, tháo dây cọc âm(-)
    trước, dương(+) sau.
    Thời gian cần nạp lại ắc quy dựa trên tỷ trọng thực tế đo được của ắc quy đó
    và được áp dụng theo cách tính sau:

    Hệ số 1,2 ~ 1,5 thêm vào để bảo đảm ắc quy được nạp no so với thời gian
    qui định.
    Ví dụ một bình ắcquy 12V-5Ah có tỷ trọng thực tế đo được 1.20, như
    vậy: Lượng điện xả là: 5Ah.(1.280-1.200): 0.2 = 1.5A
    Thời gian cần thiết nạp lại là : 1.5x1.2: 0.5 = 3.6 (giờ)
    Chú ý: Không đậy các nắp của các ngăn (hộc) ắc quy khi đang nạp điện.
    Khi lắp ắc quy lên xe, lắp dây cọc dương trước, âm sau. Bôi một ít mỡ lên các
    cọc bình để bảo vệ.
    2.5. Bảo quản ắc quy :
    Nếu ắc quy sẽ không sử dụng trong một thời gian dài, cần chú ý một số điểm
    sau:
    - Trước khi cất giữ phải nạp điện no.
    - Bảo quản ắc quy nơi thoáng mát, khô ráo.
    - Do hiện tượng tự phóng điện của ắc quy, cần nạp bổ sung mỗi tháng 1
    lần khi lưu kho.
    -Trước khi sử dụng lại, cũng cần nạp bổ sung lại điện cho ắc quy.
    3.Bắt bệnh cho Bugi
    Bugi là thiết bị cung cấp tia lửa điện để đốt cháy hòa khí nhiên liệu - không
    khí. Những dấu hiệu như màu sắc, độ mòn của nó có thể cho biết về tình
    trạng động cơ. Nếu bugi có màu vàng nâu, động cơ hoạt động tốt, còn nếu
    đen ướt, chứng tỏ dầu bôi trơn đã lọt vào xi-lanh.
    Trong hệ thống đánh lửa ôtô và xe máy, bugi là thiết bị cuối cùng trong sơ
    đồ. Nó có vai trò cung cấp tia hồ quang điện đốt cháy hỗn hợp nhiên liệu
    không khí đã được nén ở áp suất cao. Cấu tạo của bugi bao gồm cực mát
    (cực uốn cong) và cực tâm có tác dụng đánh lửa. Giữa cực tâm và cực mát là
    khe đánh lửa có độ rộng 0,9 mm (đối với đánh lửa tiếp điểm) và 2,03 mm
    (đánh lửa điện tử).
    3.1.Bugi có màu vàng nâu

    Hình 6)Bugi có màu vàng nâu
    Bugi có màu vàng nâu chứng tỏ động cơ hoạt động bình thường, tỷ lệ không
    khí - nhiên liệu đúng theo tiêu chuẩn kỹ thuật và các thành phần cơ học ổn
    định. Nếu thay bugi mới, bạn nên thay bugi có cùng khoảng nhiệt (cho biết
    tốc độ bugi truyền nhiệt từ buồng đốt đến các đầu xi-lanh, được xác định
    bằng chiều dài lớp cách điện phía dưới). Đường dẫn nhiệt dài hơn, bugi làm
    việc nóng hơn còn khi ngắn hơn, nó sẽ làm việc mát hơn.
    3.2.Bugi có màu đen và khô

    Hình 7)Bugi có màu đen khô
    Thông thường, khi bugi có màu này có nghĩa chế hòa khí gặp sự cố nên cung
    cấp hỗn hợp giàu (nhiều nhiên liệu) hoặc chạy cầm chừng quá mức. Kết hợp
    với khói đen thoát ra từ ống pô bạn có thể kết luận xe chạy ở chế độ giàu.
    Trước khi thay bugi, cần chỉnh lại tỷ lệ nhiên/không khí cho phù hợp. Các
    nguyên nhân phổ biến gây ra hiện tượng thừa nhiên liệu có thể là lọc khí bẩn
    (cung cấp ít không khí), chế hòa khí hỏng, bướm gió kẹt.
    3.3.Bugi đen và ướt

    Hình 8)Bugi đen ướt
    Đây là dấu hiệu cho biết dầu đã lọt vào xi-lanh, bị đốt và sinh ra muội bám
    trên bugi. Sự rỉ dầu bôi trơn vào buống đốt có thể do hở van, hở séc-măng
    hay do thành xi-lanh bị mài mòn. Nếu xe có thêm hiện tượng có khói xanh,
    mùi khét, có nghĩa động cơ cần phải được sửa càng sớm càng tốt. Động cơ
    hai thì nếu có hiện tượng trên có thể do dầu dẫn động bị lọt từ các-te.
    3.4.Bugi có màu trắng

    hình 9)Bugi có màu trắng
    Chứng tỏ động cơ hoạt động quá nhiệt, gây nên do các nguyên nhân như
    bugi không phù hợp (có khoảng nhiệt quả lớn), chỉ số Octan quá thấp, thời
    gian đánh lửa không tối ưu, hệ thống làm mát hỏng, chế hòa khí cấp quá
    nhiều không khí và cuối cùng có thể do trục lót khuỷu hay các-te bị hở (trên
    các xe hai thì).
    3.5.Bugi bị mòn cực tâm

    Hình 10)Bugi bị mòn cực tâm
    Nguyên nhân do bugi có khoảng nhiệt không phù hợp, thời gian đánh lửa quá
    sớm, thiếu hòa khí nhiên liệu-không khí, hệ thống làm mát hỏng hoặc do
    thiếu dầu bôi trơn.
    3.6.Bugi có khoảng đánh lửa lớn

    hình 11)Bgi có khoảng đánh lửa lớn
    Trườnghợp này xảy ra khi sử dụng bugi trong thời gian quá dài mà không
    thay. Khoảng cách lớn có thể làm cho động cơ hoạt động yếu do bugi cần
    điện thế cao hơn để đánh lửa.
    4.Kiểm tra bảo dưỡng Bugi
    Bugi là bộ phận tạo ra tia lửa điện trong buồng đốt, môi trường làm việc của
    nó rất khắc nghiệt, tần suất làm việc cao, chi phối rất nhiều đến hiệu suất của
    động cơ. Sau mỗi 4.000 km, cần phải tháo bugi ra để kiểm tra định kỳ, chỉnh
    khe hở giữa chấu mát và điện cực (+).

    Hình 12)Cấu tạo Bugi
    1 - Điện cực chính.
    2, 8, 9 - Keo chèn.
    3 - Long đen.
    4, 7 - Sứ cách điện.
    5 - Khe hở chấu mát - cực (+).
    6 - Đầu tiếp nguồn cao áp.
    10, 11 - Vỏ kim loại.
    12 - Chấu mát.
    4.1.Kiểm tra chung thường kỳ
    Khi xe của bạn chạy được một thời gian (trên 2.000 km), tháo bugi ra để
    quan sát, ta có thể đoán biết được tình trạng động cơ:
    1. Sứ cách điện (bao quanh cực + ở giữa vành tròn đầu bugi) có màu đỏ
    gạch nung, chấu và nồi bugi khô sạch, chứng tỏ động cơ hoàn toàn tốt.
    2. Sứ cách điện và chấu bị bao phủ một lớp muội đen, khô, nghĩa là nhiên
    liệu không được đốt cháy hết, do các nguyên nhân sau:
    - Vít lửa rơ, rỗ.
    - Điện thứ cấp yếu.
    - Bugi đang dùng sai tiêu chuẩn (loại quá nguội).
    - Chế hoà khí chỉnh sai tỷ lệ hỗn hợp, bị thừa xăng.
    - Áp lực nén trong buồng đốt thấp, xú páp bị xì.
    3. Sứ cách điện, chấu mát bẩn, bám đầy muội than ướt, như vậy là dầu nhờn
    bị lọt vào buồng đốt, do séc măng và xi lanh mòn.
    4.2.Bảo dưỡng căn chỉnh theo định kỳ
    Trình tự thao tác như sau:
    1. Dựng xe trên chân chống giữa, rút nắp dây cao áp khỏi bugi.
    2. Làm sạch khu vực quanh chân bugi trên nắp quy lát.
    3. Dùng tuýp bugi tháo nó ra khỏi đầu quy lát.
    4. Ngâm đầu chấu vào xăng, dùng que gỗ moi sạch muội bẩn bên trong nồi
    bugi, tránh làm sứt vỡ sứ cách điện. Rửa lại với xăng thật sạch và thổi khô.


    a)Chấu mòn, khe hở K rộng.b) K đúng = 0,6-0,7 mm.
    hình 13)Điều chỉnh khe hở bugi
    5. Dùng một vật chuẩn phẳng dẹt dày 0,7 mm để kiểm tra khe hở giữa chấu
    mát với điện cực (+) ở trung tâm. Khe này rộng quá thì tia lửa khó phóng
    qua, mất lửa ở tốc độ thấp, chóng hỏng bôbin sườn. Nhưng nếu nó hẹp quá
    thì tia lửa lại không đủ lớn để hỗn hợp bắt cháy, xe không bốc, tốn xăng.
    Chỉnh lại khe hở bằng cách gõ vào hoặc nạy ra mỏ chấu mát một cách nhẹ
    nhàng.
    6. Sau khi đã làm sạch, quan sát xem sứ cách điện có nứt, mẻ không, điện
    cực có mòn quá không. Nếu có một trong các dấu hiệu trên thì phải thay bugi
    mới.
    7. Bugi vẫn đang ở ngoài, cắm nắp tiếp điện vào, kề vỏ sắt của nó lên thân
    máy, đạp cần khởi động rồi quan sát tia lửa, chúng phải phóng đều, mạnh,
    tập trung giữa chấu và cực (+). Nếu lửa nhỏ, phóng lung tung ra xung
    quanh, chứng tỏ bugi yếu phải thay mới.
    8. Khi lắp lại bugi vào quy lát, giỏ vài giọt dầu vào gien rồi dùng tay xoáy nhẹ
    cho đến khi vào hết, dùng tuýp siết thêm 1/4 vòng.
    9. Nếu điện cao áp bị mất qua dây và chụp bugi, xe thường chết máy khi đi
    mưa hoặc sau khi rửa. Kiểm tra kỹ, nếu thấy lỗi thì phải thay mới, thao tác
    cuối cùng là lắp lại nguồn điện này và nổ thử máy.
    5.Kiểm tra tụ điện và Bugi
    Xe khó nổ có thể do bugi.
    Thông thường tụ điện hỏng là do bị chạm mát hoặc bị rò rỉ khiến điện thứ
    cấp bị mất hay chập chờn lúc mạnh lúc yếu, động cơ hoạt động không ổn
    định. Bugi cũng rất quan trọng đối với hoạt động của động cơ, cần kiểm tra
    liên tục để đặt nó ở chế độ chuẩn.
    Để tháo tụ điện ra khỏi mâm lửa, cần nhả mối dây hàn ở tụ điện, tháo vít bắt
    tụ ra khỏi mâm lửa.
    Kiểm tra tụ điện
    Kiểm tra bằng cách đấu một cực đèn 110V vào cực dương của tụ và một cực
    đèn vào cực âm, đèn không sáng là được. Muốn biết khả năng tích điện của
    tụ, thử chạm dây giữa của tụ vào vỏ của nó, nếu tia lửa mầu xanh phóng ra
    mạnh và giòn thì tụ còn tốt. Nếu tia lửa phóng ra yếu, chứng tỏ tụ bị rò rỉ,
    phải thay mới.
    Thay tụ điện cần chú ý mấy yếu tố: Điện dung của tụ điện trong khoảng 0,17
    đến 0,25 MF (micrô fara), gắn tụ vào một nơi càng gần bộ vít lửa càng tốt, vỏ
    của tụ điện phải tiếp mát thật tốt...
    Kiểm tra và chỉnh sửa bugi
    Bugi nhận nguồn điện cao thế của mô bin sườn và biến thành tia lửa điện,
    đốt cháy hỗn hợp khí trong xi lanh. Tuỳ theo trị số nhiệt người ta chia bugi
    thành bugi nóng và nguội. Bugi nóng được dùng cho honda vận tốc thấp,
    hoạt động trong môi trường nhiệt độ thấp. Bugi nguội dùng cho honda chạy
    tốc độ cao, nhiệt độ hoạt động cao.
    Cứ 4.000 km, chủ xe nên tháo bugi, kiểm tra và điều chỉnh khe hở của chấu.
    Trước khi tháo bugi ra khỏi nắp quy lát, cần thổi sạch bụi quanh chân bugi.
    Sau khi tháo, cần ngâm đầu bugi trong xăng, sau đó dùng que gỗ cứng vót
    nhọn hoặc lõi dây phanh moi sạch muội than trong nồi bugi, tiếp đó rửa sạch
    bằng xăng. Phần bugi nằm trong máy có mầu trắng xoá là xe đã bị thiếu
    xăng, mầu đen và ướt có nghĩa là thừa xăng. Cả hai trường hợp đều phải
    chỉnh lại chế hoà khí, chấu bugi để xe "ăn" đủ xăng. Bugi đẹp (xe đủ xăng)
    có mầu gạch cua.
    Khe hở của chấu bugi khoảng 0,6-0,7 mm là vừa. Nếu khe hở hẹp hơn quy
    định, năng lượng tia lửa sẽ kém. Ngược lại, nếu rộng hơn, tia lửa sẽ cháy
    khó, bugi sẽ mất lửa ở tốc độ thấp và chóng làm hỏng mô bin sườn.
    6.Cách phân biệt Bugi thật hay giả
    Các loại bu-gi "nhái" theo những thương hiệu nổi tiếng như Denso,
    NGK, xuất hiện khá phổ biến tại Việt Nam và gây không ít phiền toái
    cho khách hàng. Tuy nhiên, mỗi sản phẩm có đặc điểm riêng để nhận
    dạng như bu-gi Denso có rãnh cực mát hình chữ U trong khi bu-gi
    NGK có vòng lót rất chắc
    Hiện tại, thị trường thiết bị phụ tùng cho cả xe hơi và xe máy bị làm giả với
    công nghệ khá tinh vi. Tháng 5, đội quản lý thị trường số 4, huyện Long
    Thành, Đồng Nai đã phải tiến hành tiêu hủy hơn 2.000 chiếc bu-gi giả nhãn
    hiệu của NGK. Bên cạnh đó, những thương hiệu nổi tiếng thế giới như Denso
    cũng bị làm giả và nguồn hàng nhập chủ yếu từ Trung Quốc theo con đường
    tiểu ngạch.
    Trên thực tế, nếu không có những chi tiết đặc trưng, người tiêu dùng rất khó
    nhận ra đâu là bu-gi thật, đâu là bu-gi giả. Trong khi đó, bu-gi giả có thể gây
    nên nhiều tác hại như xe khó khởi động, hoạt động không hiệu quả, tiêu hao
    nhiên liệu, xe không bốc. Thậm chí, đầu bọp có thể bị mòn, thủng nếu sử
    dụng trong một thời gian dài.

    Hình 14)Đầu bu-gi Denso thật (trái) không bóng như bu-gi giả
    Theo tài liệu do nhà phân phối chính thức của Denso tại Việt Nam, Xí nghiệp
    Vận tải và Du lịch JAC, thuộc công ty Cổ phần Ford Thăng Long, sản phẩm
    bu-gi Denso có những đặt điểm bề ngoài rất dễ nhận biết: Đầu điện cực
    (phần bằng sắt nối với đầu bọp) của bu-gi giả sáng loáng chứ không xỉn như
    của Denso thật. Tiếp đến là phần sứ cách điện, bu-gi Denso thật có 5 gân, in
    hình thương hiệu Denso và các ký hiệu sản phẩm một cách đồng đều, rất khó
    cạo, trong khi bu-gi giả có độ nghiêng không đều, nhòe mờ và dễ phai màu
    khi gặp nước. Phần ren trên bu-gi giả có đỉnh không được sắc nét và ảnh
    hưởng rất nhiều tới chất lượng cũng như hoạt động của động cơ.

    Hình 15)Các ký hiệu trên bu-gi Denso thật (trái) sắc nét hơn bu-gi giả.
    Một đặc điểm nữa trên bu-gi Denso là nhà sản xuất này khoét một rãnh chữ
    U trên điện cực mát để tăng cường khả năng đánh lửa. Đây là công nghệ rất
    phức tạp nên gần như các sản phẩm nhái không thể bắt chước. Các loại bu-gi
    "nhái" theo Denso chỉ có rãnh hình chữ V chứ không có hình chữ U.

    Hình 16)Đầu cực mát có rãnh chữ U rất đặc trưng của bugi Denso thật
    Những dấu hiện cấu tạo bên trong cũng cho biết nhiều thông tin về sản
    phẩm. bu-gi Denso dùng loại sứ cách điện chất lượng cao nên mịn và đồng
    nhất, trong khi đó bu-gi giả dùng loại sứ chất lượng thấp nên thường có lỗ
    bọt khí. Bên cạnh đó, phần điện cực dương bu-gi Denso thật làm bằng đồng,
    có khả năng thoát nhiệt tốt trong khi hàng nhái được làm bằng sắt nên tốc độ
    giải nhiệt chậm, khi đập vỡ thường có màu đen chứ không có màu đỏ như
    bu-gi chính hiệu.
    Một sản phẩm khác có mặt trên thị trường Việt Nam khá lâu là bu-gi NGK.
    Những thông tin trợ giúp và cảnh báo khách hàng về nạn bu-gi giả vẫn được
    NGK Spark Plug gửi tới khách hàng thường xuyên. Theo tài liệu chính thức,
    đặc điểm đầu tiên để nhận ra bu-gi NGK thật là chữ "NGK" viết chính giữa
    thân sứ trong khi các loại hàng nhái thường viết lệch lên phía trên với nét chữ
    không sắc. Số lô hàng của NGK được viết trên hình lục giác với 4 chữ số,
    trong khi bu-gi giả là hình thang vuông.

    Hình 17)Dấu hiệu nhận biết bu-gi giả.
    Đặc điểm nổi bật mà các thợ máy lâu năm dùng để nhận biết bu-gi NGK và
    được nhà sản xuất này khuyến cáo là vòng lót (long-đờn theo tiếng Nam Bộ
    hay gioăng ở ngoài Bắc) trên sản phẩm thật rất chắc, dù sử dụng một thời
    gian dài. Trong khi đó, ở bu-gi giả, chi tiết này chỉ cần dùng tay cũng có thể
    vặn ra dễ dàng

    Hình 18)Dấu hiệu bu-gi NGK giả
    Ngoài những dấu hiệu trên, các nhà sản xuất cũng khuyên người tiêu dùng
    nên bảo dưỡng thường xuyên để có thể phát hiện kịp thời bu-gi giả. Các sản
    phẩm nhái thường có độ bền kém, có thời gian đánh lửa sớm nên dễ bám
    muội cũng như mòn nhanh hơn sản phẩm chính hãng.
    7.Khắc phục xe bị sặc xăng

    Hình 19) Vị trí bugi
    Bugi thường nằm ở vị trí rất dễ tháo lắp.
    Nếu hỗn hợp xăng và khí đưa vào buồng đốt có tỷ lệ xăng quá cao thì sẽ
    không cháy được, mặc dù vẫn có tia lửa điện từ bugi. Hiện tượng này gọi là
    sặc xăng, nó làm cho buồng đốt và bugi bị ướt, máy không nổ được.
    7.1.Nguyên nhân
    Thông thường, các lỗi phát sinh từ bộ chế hòa khí. Chẳng hạn như mức xăng
    trong bình điều tiết quá cao, gic-lơ chính có cỡ lớn hơn tiêu chuẩn, bướm gió
    bị kẹt đóng, các vít chỉnh tỷ lệ hỗn hợp đặt sai vị trí...
    Ngoài ra, còn có nguyên nhân xăng không bắt cháy, tích tụ lại sau vài lần
    khởi động, bugi đánh lửa yếu hoặc bị ướt dầu, sức nén của piston yếu (sécmăng
    mòn hoặc xu-páp bị xì)...
    Trong các trường hợp trên, bạn càng cố khởi động xe, xăng càng xuống
    nhiều hơn và động cơ không thể nổ được.
    7.2.Khắc phục
    Khi bạn đã khởi động 5-6 lần không được, hãy ngừng ngay việc đó và thực
    hiện các bước sau:
    - Khóa xăng lại, vặn hết tay ga lên và tiếp tục bấm start thêm vài lần nữa,
    thường là máy nổ được ngay. Khi bắt đầu nổ, tiếng máy sẽ không đều trong
    khoảng 5 đến 10 giây, sau đó mới ổn định. Bây giờ, bạn đã có thể mở khoá
    xăng để vận hành xe bình thường.


    Hình 20)Làm sạch bugi bằng xăng và bàn chải.
    - Nếu sau các bước trên, xe vẫn không nổ, bạn hãy tháo bugi ra, rửa sạch
    bằng xăng và bàn chải, thổi cho khô. Tiếp theo, hãy tắt công tắc điện, bịt
    ngón tay vào lỗ lắp bugi rồi đạp cần khởi động vài chục lần để xăng trong
    buồng đốt thoát bớt ra ngoài. Cuối cùng, lắp bugi vào và khởi động bình
    thường.
    Đây chỉ là giải pháp tình thế để có thể đi xe được ngay. Về lâu dài, bạn nên
    điều chỉnh lại các chế độ trên bộ chế hòa khí. Nếu cần, hãy kiểm tra tổng thể,
    tìm ra nguyên nhân của tình trạng sặc xăng để sửa chữa một cách căn bản.

    8.Vệ sinh bộ chế hòa khí

    Hình 21)Thao tác chỉnh ốc gió
    Ngoài chuyện bugi yếu điện hoặc tắc xăng thì gió là yếu tố quan trọng để cho
    xe dễ nổ máy và chạy êm, lượng gió cần điều chỉnh vừa đủ vào bộ chế hoà
    khí, vì nó cũng là tác nhân làm cho xe máy dư hay thiếu nhiên liệu.
    Điều gió vào trong máy
    Ở bình xăng con có hai ốc chỉnh, một nằm ngay hướng dây ga, thường gọi là
    ốc gió, dùng chỉnh ga lăng ti, tức chỉnh lượng gió vào trực tiếp vừa đủ cho xe
    nổ êm, nhẹ lúc không tải, và một con ốc nữa nằm kề bên, gọi là ốc xăng,
    nhưng thực chất nó cũng dùng để chỉnh gió. Muốn cho xăng xuống buồng
    đốt nhiều hay ít thì chỉnh ốc này làm lượng gió vào nhiều sẽ hút xăng xuống
    và ngược lại.
    Lượng xăng, gió căn chỉnh không đúng sẽ khó nổ. Hoặc nổ rồi, lên ga lại bị
    tắt máy hay xe chạy lề rề, không hoạt động như bình thường. Gặp tình huống
    đó nhiều khi phải kéo le gió (air) phía trái của tay lái. Hoặc cho xe nổ chừng
    5-7 phút, nóng máy lên mới có thể chạy được. Đó là tình trạng thiếu xăng,
    chạy trong trường hợp này động cơ rất nóng, các thiết bị trong máy có độ
    giãn nở, tạo ma sát cao, làm giảm tuổi thọ của máy.
    Điều gió từ bên ngoài
    Bộ lọc gió cũng nằm trong hệ thống đưa gió vào máy. Nếu bị bẩn, nhất là xe
    hoạt động thường xuyên trong môi trường bụi bặm, cần phải vệ sinh định kỳ
    bộ lọc gió này. Thông thường từ 5 tháng đến 1 năm, cần rửa miếng xốp lọc
    bụi trong hộp gió một lần. Nếu là loại bằng giấy, bẩn quá, phải thay mới.
    Không nên chải bụi rồi lấy kim châm thêm lỗ cho thông như nhiều nơi vẫn
    thường phục hồi. Vì bụi bặm bị cuốn vào nhiều dễ gây hư pít tông, bạc và làm
    hao xăng, xe chạy thường bị "hẫng".
    Để giữ cho bình lọc gió không bẩn, người sử dụng cũng cần giữ cho xe sạch.
    Ngoài ra, bùn đất bám nhiều ở các phiến tản nhiệt sẽ làm giảm khả năng giải
    nhiệt cho máy khi vận hành.
    9.Sửa chữa Xi-lanh và cụm Pit-tông, Xéc-măng (bạc)
    Nếu xe phải khởi động nhiều lần mới nổ,pô phả ra nhiều khói trắng
    xanh, là do lòng xi lanh có thể bị mòn khuyết ô van píttông bị lỏng
    hoặc xước (lúp pê).
    Để phục hồi, trước hết phải tháo dàn đầu quy lát, tháo con vít 10 của bánh
    lòng xích cam ở hông xi lanh, tháo vít giữ xi lanh vào các te máy, kéo xi lanh
    ra, dùng giẻ sạch bịt lỗ các te tránh vật lạ rơi vào.
    9.1.Kiểm tra xi lanh(nòng) :

    Hình 22)Nòng xe Exciter
    Rửa sạch, quan sát lòng xi lanh, nếu có vết xước dọc từ trên xuống hoặc nơi
    miệng và vùng điểm chết ở xi lanh có gờ, chứng tỏ nó đã bị mòn, phải làm lại
    ngay.
    9.2.Làm lại xi lanh :
    Để có thể tiếp tục sử dụng được xi lanh này, cần mang đến cửa hiệu xoáy
    nòng để lên cốt (code) vì đa số các tiệm sửa xe đều không thể làm được mà
    phải đưa đến các tiệm chuyên nghiệp . Xoáy xi lanh lần 1 gọi là cốt 1, đường
    kính sẽ lớn thêm 0,25 ly. Lòng xi lanh xe Honda có thể xoáy được 4 lần, mỗi
    lần xoáy phải thay pít tông, xéc-măng mới. Trên đỉnh pít-tông có ghi số 0,25
    là cốt 1, 0,50 là cốt 2, 0,75 là cốt 3 và 1,00 là cốt 4. Khi đưa xi lanh đến cửa
    hàng xoáy phải mang theo píttông mới hoặc mua luôn ở tiệm là nòng vì đa số
    các tiệm làm nòng hiện nay đều có bán sẵn. Sau khi xoáy nòng xong, kiểm
    tra bằng cách đưa lên ánh sáng quan sát, nòng phải bóng nhẵn, khít với
    píttông. Píttông phải được đẩy qua lòng xi lanh không quá nặng và cũng
    không quá nhẹ
    9.3.Kiểm tra píttông, bạc
    Quanh đầu pít tông có 3 vòng xéc măng, hai vòng hơi và một vòng dầu. Vòng
    hơi trên cùng là xéc măng lửa, được mạ kền. Vòng thứ hai màu đen xám.
    Vòng xéc măng dầu rộng hơn vòng hơi.
    Cách làm: Tháo vòng xéc măng số 1 ra khỏi đầu pít tông với loại kìm chuyên
    dùng hay bằng tay, phải thao tác khéo léo tránh làm gãy, tiếp theo tháo các
    bạc xéc măng còn lại.
    Tháo pít tông ra khỏi tay biên và kiểm tra. Pít tông không được có vết nứt ở
    đầu và các rãnh, đuôi không được chầy xước.
    Các vòng xéc măng có thể tái sử dụng nếu chúng không bị mòn khuyết, biến
    dạng, sứt mẻ, lớp kền mạ mặt ngoài còn nguyên.
    Tiếp đó, kiểm tra khe hở miệng rãnh xéc măng bằng cách đặt từng vòng xéc
    măng vào lòng xi lanh, dùng pít tông đẩy xéc măng xuống 10 ly, nếu khe hở
    giữa 2 đầu vượt quá 0,5 ly là phải thay.
    Kiểm tra rãnh xéc măng bằng cách xoay trong rãnh của nó. Xéc măng không
    được chặt quá hay lỏng quá. Nếu đã thay xéc măng mới nhưng khe hở này
    vẫn lớn, chứng tỏ các rãnh đã bị mòn, phải thay mới pít tông. Lưu ý, khi đặt
    xéc măng phải lọt sâu vào trong rãnh của nó, không được nhô lên khỏi mặt
    rãnh.
    9.4.Lắp ráp và rà máy
    Bôi dầu nhờn vào trục và lỗ pít tông... Đặt pít tông vào đầu tay biên đúng vị
    trí chữ "IN" hoặc phần vát lớn ở đỉnh pít tông hướng lên trên hoặc mũi nhọn
    hình tam giác chỉ xuống dưới. Khi lắp ráp các vòng xéc măng vào pít tông cần
    lưu ý các yếu tố kỹ thuật: mặt trên gần miệng xéc măng có ghi chữ "T" (chỉ
    số kích thước lên cốt). Các dấu hiệu này phải hướng lên trên, đồng thời phải
    bố trí miệng hở các vòng xéc măng cách nhau và tránh 2 bên vùng lỗ trục.
    Tiếp đó, lắp xéc măng dầu vào trước, rồi đến vòng hơi và cuối cùng là vòng
    lửa.
    Sau khi lắp nắp quy lát, việc rà máy rất quan trọng. Cho động cơ nổ cầm
    chừng làm máy chạy trơn tru. Thông thường rà máy 4 tiếng đồng hồ là đủ,
    sau đó cho tải nhẹ tránh bó máy.
    10.Chỉnh Garanti giúp bạn
    Xe của bạn còn rất mới và thuộc loại tốt nhưng không nổ garanti
    được, do kim xăng trong quả ga chưa được đặt đúng. Để đặt lại vị trí
    kim xăng và căn chỉnh xăng gió, bạn chỉ cần một chiếc tô vít nhỏ.
    10.1.Nguyên lý bộ chế hòa khí
    Luồng không khí do piston hút qua bầu lọc gió tới đầu ống phun xăng sẽ kéo
    xăng vọt ra, tạo thành hỗn hợp cháy. Cánh le nằm sau bầu lọc gió, hỗ trợ
    khởi động khi trời lạnh. Quả ga được nối với tay ga bằng cáp, giúp người lái
    xe điều tiết lượng hỗn hợp cháy đi vào buồng đốt.

    Hình 23) Cấu tạo chế hòa khí
    A: Bình giữ mực xăng.
    B: Đường dẫn khí từ bầu lọc gió vào.
    C: Đường dẫn xăng lên lỗ phun.
    1. Phao, 2. Giclơ, 3. Đường xăng vào, 4. Le gió, 5. Quả ga cùng kim
    xăng, 6. Hỗn hợp nhiên liệu đi vào buồng đốt.
    10.2.Điều chỉnh tỷ lệ xăng - khí
    - Kiểm tra làm sạch bầu lọc gió, xử lý nếu cánh le gió bị kẹt ở vị trí đóng.
    - Tháo quả ga, rút kim xăng ra để chỉnh khoen chặn lên phía đầu nhọn của
    nó thêm 1 hoặc 2 nấc.

    Hình 24) Điều chỉnh khoen chặn trên kim xăng
    - Sau khi lắp lại hệ thống, chỉnh lại garanti theo các bước sau:
    • Nới ốc chỉnh dây ga cho lỏng ra khoảng 1 mm.
    • Vặn vít xăng (thường nằm chìm đầu trong hốc thân bộ chế hòa khí,
    đầu vặn bằng tô vít bẹt) vào tận cùng rồi lại nới ra 1-1,5 vòng.
    • Khởi động máy rồi giữ nổ vài phút cho nóng lên.
    • Chỉnh vít gió (nằm ngay chân trụ lắp quả ga của bộ chế hòa khí) sao
    cho có thể buông hết tay ga mà máy vẫn nổ nhỏ đều và êm. Việc thêmxăng hoặc gió bằng cách chỉnh 2 vít nói trên có thể phải làm vài lần
    mới đạt mức garanti chuẩn.
    II. NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI MUA XE TRUNG QUỐC
    Khi chuẩn bị đi mua xe Trung Quốc, bạn cần chú ý
    đến xuất xứ, điều kiện bảo hành, hồ sơ xe và thủ
    tục đăng ký xe. Về chất lượng xe, chỉ có thể trông
    chờ vào tay nghề của thợ "xe" nếu bạn có thể dẫn theo hoặc có thể
    tự kiểm tra trong điều kiện cửa hàng cho nổ máy.
    1.Xe nào là IKD? Không thể quá tin tưởng vào lời nói của người bán vì đương
    nhiên họ sẽ nói theo hướng có lợi cho việc kinh doanh, có khi không đúng sự
    thật. Thông thường xe được nhập theo dạng IKD thì họ lại nói nhập theo
    dạng CKD, là dạng trao đổi hàng. Lúc này chỉ cần yêu cầu chủ cửa hàng cho
    xem tờ khai hải quan bạn sẽ biết rõ xuất xứ và dạng linh kiện nhập khẩu. Giá
    bán xe IKD và CKD chênh lệch khoảng vài triệu đồng nên phải chú ý. Hiện
    nay, có thể nói là 95% xe máy Trung Quốc được nhập về Việt Nam theo dạng
    IKD. Ngoại trừ một vài trường hợp trao đổi nông sản lấy xe máy Trung Quốc
    ở dạng CKD.
    2.Kiểm tra nguồn gốc
    Đối với các loại xe máy Nhật trước kia, tại blốc máy sẽ đóng dấu nhà sản xuất
    và nơi lắp ráp. Còn xe Trung Quốc lại thiếu địa chỉ nơi lắp ráp. Một vài đơn vị
    trong nước đang tranh chấp với nhau việc độc quyền nhãn hiệu xe.Trên thị
    trường hiện nay nhiều xe kiểu dáng tuy khác nhau nhưng phụ tùng lại như
    nhau, đơn vị lắp ráp đã thay đổi hình thức bên ngoài cho dễ bán. Bởi vậy, chỉ
    có thể nhìn vào blốc máy để phân định nguồn gốc. Nhưng cũng phải đối
    chiếu với hồ sơ xe vì có những đơn vị chỉ mua blốc máy chứ không mua toàn
    bộ linh kiện.
    3.Một bộ giấy tờ xe đầy đủ Không thể nói chính xác cho tất cả các nhãn hiệu
    xe máy
    đang bán trên thị trường nhưng có một số loại giấy cơ bản. Một là tờ khai báo
    nguồn gốc nhập khẩu cho hải quan, hai là hoá đơn xuất xưởng của đơn vị lắp
    ráp, ba là giấy xác nhận chất lượng lắp ráp lô xe, bốn là danh sách lô xe nhập
    khẩu với đầy đủ số sườn, số máy. Ngoài ra, còn một vài giấy tờ không quan
    trọng khác để chứng nhận giao dịch thương mại qua các khâu trung gian.
    Điều cần làm khi mua xe là nhờ cửa hàng bán xe phôtô lại bộ hồ sơ xe.
    4.Nghe tiếng máy như thế nào?
    Theo nghiệm của thợ sửa xe, khi nổ máy thử xe, cần giữ tay ga ở nhiều tốc
    độ. Có thể nổ máy ở tốc độ cầm chừng garanti và lên ga lớn, sau đó đột ngột
    giảm ga. Nếu xe máy không ổn định, tiếng máy sẽ không đều mà bị nấc cục
    và có thể bị tắt máy. Chú ý các tiếng kêu xuất phát từ "đầu bò" tức vị trí của
    cốt cam và xú páp. Nên trả tới trả lui càng số khi nổ máy để kiểm tra độ ổn
    định khi có tải, đồng thời kiểm tra bộ ly hợp luôn.
    Chú ý gía chưa cộng thuế
    Để thu hút khách hàng, các cửa hàng thường niêm yết giá bán xe
    trước thuế để người mua cho rằng giá xe quá rẻ. Nhưng thực ra, khibắt đầu thanh toán tiền, họ lại cộng thuế gia tăng vào làm giá bán xe
    tăng lên. Cần phải hỏi thật kỹ về giá, liệu cửa hàng đã tính luôn chi
    phí sang tên xe chưa, có tính thuế giá trị gia tăng không? Ngoài ra,
    phải hỏi thêm, nếu bảo sang tên, khách hàng sẽ lấy bảng sổ và giấy
    lưu hành xe tại cửa hàng hay điểm đăng ký xe.
    bắt đầu thanh toán tiền, họ lại cộng thuế gia tăng vào làm giá bán xe
    tăng lên. Cần phải hỏi thật kỹ về giá, liệu cửa hàng đã tính luôn chi
    phí sang tên xe chưa, có tính thuế giá trị gia tăng không? Ngoài ra,
    phải hỏi thêm, nếu bảo sang tên, khách hàng sẽ lấy bảng sổ và giấy
    lưu hành xe tại cửa hàng hay điểm đăng ký xe.
    5.Sửa chữa xe máy Trung Quốc

    Hình 25)Điều chỉnh bộ chế hoà khí.
    Cứ chạy một quãng, chiếc xe chết máy, nhưng nghỉ chừng 5 phút lại chạy
    được. Nguyên nhân hiện tượng khó hiểu này là nắp bình xăng không có lỗ
    thông hơi, đây là một lỗi thường gặp do chế tạo. Chỉ cần khoan lỗ thông hơi
    trên nắp bình xăng là ổn.
    5.1.Hư hỏng tại động cơ
    Tăng ga mà động cơ không bốc, phát ra tiếng nổ lép, nguyên nhân thường
    gặp là bugi bị hỏng, cần thay mới.
    Xe nhanh bị nóng máy trên mức bình thường, máy nổ rung mạnh chỗ để
    chân. Đây là hiện tượng buồng đốt bị thu nhỏ, áp lực nén tăng cao. Phải xử lý
    bằng cách thay đệm quy lát mới dày hơn hoặc tiện bớt một phần kim loại trên
    mặt đầu piston.
    Nổ máy sau 5 phút thì xuất hiện tiếng gõ lớn, liên tục từ động cơ. Lỗi này do
    thanh truyền bị cong, va chạm với má trục khuỷu. Phải tháo rời động cơ, thay
    thanh truyền và ép biên lại.
    Xe chạy ổn định sau 5 phút thì bắt đầu xả nhiều khói trắng xanh. Đây là hiện
    tượng dầu sục vào buồng đốt từ những vết nứt hoặc lỗ mọt trên nắp quy lát.
    Phải tháo rời nắp này ra, quan sát thật chính xác điểm lỗi để xử lý bằng keo
    chuyên dụng hoặc thay mới.
    5.2.Hỏng tại hệ thống đánh lửa
    Xe đột ngột chết máy, không khởi động lại được. Nguyên nhân do hỏng cục
    IC, phải thay mới bằng loại của Nhật.
    Xe đang chạy bị chết máy, để nguội khoảng 10 phút sau thì nổ lại được. Hư
    hỏng này phát sinh từ cuộn tín hiệu đánh lửa, còn gọi là cục kích, phải thay
    mới.
    Động cơ không nổ, mặc dù máy đề quay mạnh, kiểm tra thấy mất lửa ở bugi.
    Như vậy là cuộn lửa nguồn đã hỏng, cần thay.
    Máy chạy ậm ạch, khó nổ, hao xăng, kiểm tra thấy tia lửa bugi kém hoặc
    không có. Phải kiểm tra cuộn sơ và thứ cấp trong bộ điện, sau đến bôbin
    sườn, hỏng phần nào thay phần đó.
    5.3.Hỏng tại giảm xóc (phuộc nhún)

    Hình 26) Cấu tạo nhún trước
    1: càng giảm xóc.
    2: may- ơ.
    3: ống đệm.
    Tháo rời hai giảm xóc trước, kiểm tra thấy nhún tốt, nhưng hễ lắp vào xe thì
    lại bị cứng ngắc, thật khó hiểu. Lỗi này do ống đệm nhỏ trên trục trước, nằm
    giữa may-ơ và đầu giảm xóc, bị dài hoặc ngắn. Nó làm cho hai càng phuộc
    nhún không thẳng tâm và bị kẹt, mài ống đệm đi vài mm, hãy thêm long-đen
    vào là xong.
    5.5.Hỏng điện đèn, hệ thống khởi động
    Đèn trước không đủ sáng hoặc dễ bị cháy bóng khi đi nhanh, mặc dù ắc quy
    tốt. Nguyên nhân do bộ chỉnh lưu không đúng quy cách, bên trong bộ này có
    điện trở tiết chế dòng điện máy phát, vì trị số điện trở cao hay thấp quá làm
    cho đèn không đủ sáng hoặc dễ cháy bóng. Nên thay mới bộ tiết lưu loại tốt,
    đúng công suất.
    Bình ắc quy tốt, nhưng ấn nút khởi động lúc được lúc không. Đây là hiện
    tượng hỏng rơ le hoặc các chổi than bên trong mô bin khởi động, các chi tiết
    này rẻ tiền dễ kiếm và thay thế dễ dàng.
    Bấm nút start mà đề không quay, thử còi, đèn tốt. Như vậy là mô bin khởi
    động hỏng, các nam châm nằm trong thân máy đề bị bong khỏi vỏ. Tháo rời
    mô bin này ra kiểm tra, nếu bạc và thân rôto chưa bị sát cốt hư hỏng thì chỉ
    ép lại nam châm là được.
    5.6.Các trục trặc ở bộ ly hợp

    Hình 27)Bộ ly hợp xe Trung Quốc.
    1. Nồi ly hợp 3 càng ly tâm
    2. Bộ côn đĩa
    3. Cam cắt khớp ly hợp
    4. Cơ cấu hãm vỏ nồi 3 càng
    Lúc khởi động, có tiếng kêu rào rào trong môbin nhưng trục máy không quay,
    động cơ không nổ được. Khớp ly hợp một chiều phía sau vô lăng bị hỏng,
    thông thường do các viên bi đề bị mòn nhỏ đi. Nên thay bi mới, sau đó kiểm
    tra 3 lò xo ống đẩy và mặt ngoài của lõi dẫn động, nếu mòn cũng nên thay
    mới.
    Xe đang nổ không tải, cài số là chết máy, nguyên nhân là nồi ly hợp ba càng
    ly tâm không cắt khớp. Kiểm tra các lò xo hồi và các khuyên giữ càng của má
    ly hợp.
    Cài số nặng là do lò xo cần số không đúng quy cách, thay chiếc khác có áp
    lực nhẹ hơn.

    Hình 28)Vít chỉnh côn bên chân phải.
    Xe bị dính côn, vào số rất khó, xe bị giật khi chuyển các nấc tốc độ, chỉ cần
    chỉnh lại vít ly hợp theo hướng cắt khớp là được.
    Trượt côn là hiện tượng kéo ga mà xe không vọt mặc dù vào số hợp lý (ví dụ
    vào số 3, 20 km/h) và xe không tải nặng. Nếu chỉnh vít ly hợp không có kết
    quả, bạn phải dán hoặc thay đĩa côn mới.
    6.Những vấn đề về ly hợp xe máy
    Một lúc nào đó, bạn chợt nhận thấy chiếc xe máy của mình "uống
    xăng" nhiều hơn bình thường, thậm chí mức tiêu hao tăng tới 30-
    40%. Đồng thời, khả năng tăng tốc giảm đi rõ rệt. Có thể còn do
    nhiều yếu tố khác, nhưng về cơ bản, đó là dấu hiệu cho thấy ly hợp
    đã bị mòn.

    Hình 29)Bố và lá ly hợp
    Ly hợp xe máy, cũng như ly hợp của ôtô, được dùng để cắt và truyền mômen
    dẫn động đến hộp số một cách nhanh chóng, dứt khoát. Yêu cầu của ly
    hợp là truyền hết mô-men động cơ mà không bị trượt, tách, cắt truyền lực
    một cách nhanh chóng, dứt khoát để giảm va đập của bánh răng hộp số.
    Ly hợp của xe máy đều là loại ly hợp ma sát với các đĩa ly hợp chủ động và bị
    động đều được ngâm trong dầu. Đĩa chủ động là đĩa thép và đĩa bị động nằm
    giữa 2 đĩa chủ động cũng là đĩa thép có dán các tấm vật liệu ma sát.
    Ở trên chỉ là những dấu hiệu mòn ly hợp mà bạn có thể thấy một cách dễ
    dàng nhất. Ngoài việc "uống" nhiều xăng hơn nhưng độ bốc của máy lại
    giảm, một chiếc xe với bộ ly hợp bị mòn nhiều còn bộc lộ một số hiện tượng
    khác như tiếng máy nổ to hơn, thậm chí kêu rít và xe bị rung cả khi chạy ở
    tốc độ thấp lẫn tốc độ cao. Trong trường hợp vận hành trên một chặng
    đường dài với tốc độ cao, chân của bạn thậm chí có thể bị tê vì giá để chân
    rung mạnh. Tay lái bị rung ít hơn nhưng cũng có thể làm tay bạn bị mỏi, ảnh
    hưởng đến việc điều khiển xe.
    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc ly hợp bị mòn. Nếu bạn là người sử dụng
    xe đúng kỹ thuật và bảo dưỡng thường xuyên thì ly hợp của xe sẽ có tuổi thọ
    rất lâu và độ mòn phụ thuộc chủ yếu vào quãng đường chạy. Không ít xe
    chạy được 6-8 vạn km mà ly hợp vẫn còn tốt. Ngược lại, việc sử dụng số
    không đúng kỹ thuật sẽ làm giảm tuổi thọ của ly hợp rất nhanh, chẳng hạn
    như không về số trước khi tăng tốc.
    Đĩa bị động còn có thể bị chai hoặc cháy do người điều khiển xe hay "vê côn".
    Nguyên nhân khác dẫn đến việc ly hợp bị mòn là xe thường xuyên bị tải
    nặng. Nếu xe quá tải, một điều rõ ràng là không những ly hợp bị mòn mà còn
    ảnh hưởng đến nhiều chi tiết khác của xe (vành, săm lốp, nhông, xích, ...) và
    quang trọng hơn là tính mạng của chủ xe.

    Hình 30) Bố ly hợp
    Khi xuất hiện những triệu chứng cho thấy ly hợp bị mòn, bạn sẽ cảm thấy
    chiếc xe tỏ ra "mệt mỏi" và "khó tính". Nó không chịu tăng tốc khi bạn tăng
    ga mà còn gào lên, thậm chí nhiều lúc bạn có cảm giác như nó chẳng thèm
    chạy. Bộ phận chịu ảnh hưởng trực tiếp của việc ly hợp mòn là động cơ. Ly
    hợp mòn sẽ bị trượt và chà xát mạnh khi vận hành ở tốc độ thấp hoặc trong
    quá trình xe tăng tốc. Vì vậy, để đạt được tốc độ quay mong muốn, số vòng
    quay của động cơ sẽ phải tăng lên. Do phải làm việc vất vả hơn, cộng với
    nhiệt sinh ra do chà xát, động cơ sẽ nóng hơn bình thường nên tuổi thọ bị
    giảm đi.
    Khi các dấu hiệu mòn ly hợp bộc lộ ở mức độ nặng, bạn chỉ còn một cách duy
    nhất là thay thế bộ ly hợp. Đó có thể là một khoản tiền không nhỏ nhưng bù
    lại, bạn và chiếc xe sẽ được lợi rất nhiều. Chỉ riêng mức xăng tiêu hao tăng
    lên là đủ giúp bạn nhận ra điều đó chứ chưa kể những tổn hại khác.
    Chiếc xe là vật thường xuyên gắn bó với bạn. Hãy tránh cho nó phải thường
    xuyên chở quá tải. Để bảo vệ ly hợp xe, chỉ cần tăng giảm ga đều đặn khi
    điều khiển xe, kết hợp với việc vào số nhịp nhàng, phù hợp với tốc độ
    7.Đi Vespa có cái thú riêng nhưng hay cũng gặp trở ngại. Nếu xe bị
    hỏng phải chọn đúng thợ, tiệm mới đáp ứng được việc sửa chữa.

    Hình 31) Xe Vespa
    7.1.Hỏng bộ côn: Vespa đời cũ hay đời mới đều chạy bằng nhông nên bền hơn
    các loại xe khác vận hành bằng xích. Tuy nhiên, loại này cũng có khuyết tật là
    thường hỏng, cháy bộ côn, khi đạp cần khởi động thấy trơn tuột, có hai
    trường hợp: Một là côn đã bị cháy, thứ hai là nhông bị mòn. Nếu thấy khói xe
    ra nhiều, đậm đặc là phớt bên côn bị hỏng, cần phải thay. Xe khó nổ: Tình
    trạng đạp khó nổ chủ yếu có ba nguyên nhân: hơi nén xy lanh kém, pít tông
    bạc hở, lửa và xăng chỉnh không hợp lý. Ngoài ra, khó nổ thường do bị ngợp
    xăng, khi dừng xe nên khoá xăng lại để tránh tình trạng ngợp này. Nếu đã
    làm kỹ như vậy mà vẫn khó nổ, có thể do hỏng kim xăng hoặc phải nghiêng
    xe đạp mạnh mới nổ thì cần chỉnh lại gió.
    7.2.Hao xăng: Các loại Vespa đời cũ đều có thể chuyển vít lửa sang sử dụng IC
    như những loại đời mới. Chuyển sang IC có lợi là ít hao xăng, xe chạy êm
    máy hơn và dễ nổ.
    7.3.Giảm xóc bị chai: Giảm xóc bị hỏng, liệt lúc xe khi chạy sẽ bị nẩy, chạy
    không được đằm, có thể mang đi phục hồi hoặc thay mới vì giá giảm xóc
    không đắt lắm.
    7.4.Đèn không sáng: Những loại Vespa đời cũ đèn không được sáng vì điện ra
    chỉ 6V thay vì 12V. Nhưng nhiều nơi sửa xe có bí quyết riêng để làm tăng độ
    sáng, có nơi làm cho đèn sáng thêm bằng cách gắn thêm một bộ bin nhưng
    thường chạy quá 60 km/giờ thì dễ bị cháy bóng.
    7.5.Chú ý chuyện xăng, dầu nhờn: Vespa chạy xăng pha dầu nhờn, tại các
    cây xăng thường pha tỷ lệ 2%, tuy nhiên có thể pha từ 2- 4% dầu nhờn dùng
    chạy trong thành phố, 6% dầu nhờn chạy đường trường, nhưng cũng không
    nên quá lạm dụng pha nhiều quá vì sẽ làm đen và bẩn bugi dẫn đến khó nổ
    hay chết máy. Để bảo quản tốt xe, đi được chừng 1500 - 2000km nên thay
    dầu nhờn cho máy.
    8.Thay lốp xe loại không xăm

    Hình 32) 1 loại lốp không săm

    Khi chọn lốp để thay thế, cần đọc ký hiệu của loại tương thích được ghi trên
    vành xe, tránh lắp sai chỉ số. Không nên lắp loại lốp đặc biệt này vào vành
    thông thường, bánh xe sẽ xuống hơi rất nhanh hoặc văng ra khi xe chạy, gây
    nguy hiểm.
    Hầu hết các xe mô tô loại 500-700 cc và các xe gắn máy đời mới đều dùng
    loại lốp xe không chứa săm, lắp trên loại vành được thiết kế riêng. Loại vành
    này ở trong được phủ thép nhưng phần bên ngoài bằng hợp kim nhôm, rất
    dễ hư hỏng.
    Khi thay lốp xe, phải dùng dụng cụ bẩy một cách cẩn thận, tránh để mặt
    vành bị cày xước hoặc biến dạng. Tốt nhất nên đặt một tấm đệm lót vào giữa
    dụng cụ bẩy và vành. Hãng Honda có bán một loại đệm bảo vệ (ký hiệu
    No.7772-0020200), tiện dụng cho việc tháo lốp không săm.
    8.1.Thao tác tháo
    1. Xả hết hơi trong bánh xe.
    2. Ép hai mép lốp vào giữa tâm vành, bôi trơn chúng bằng xà phòng.
    3. Đặt tấm đệm (nếu có) và thanh bẩy vào mép lốp gần vị trí van, bẩy cho
    một phần của nó vượt ra khỏi vành.
    4. Thêm một thanh bẩy thứ 2 vào cạnh thanh thứ 1, để giữ mép ở ngoài
    không bật trở lại vành. Tiếp tục thực hiện bước 3 xung quanh vành để lấy
    trọn một vòng mép lốp ra.
    5. Giữ bánh xe đứng thẳng, cài một thanh bẩy vào giữa mép lốp còn lại với
    vành, cùng phía với mép tự do. Thao tác như bước 3, tháo nốt phần còn lại.
    8.2.Thao tác lắp
    1. Kiểm tra cẩn thận tình trạng chiếc lốp sắp được lắp, làm sạch vành.
    2. Nếu là lốp mới, trong lòng có gắn sẵn những khối cao su cân bằng động,
    không được cắt bỏ. Điểm nhẹ nhất của lốp được nhà sản xuất đánh dấu bằng
    một ký hiệu màu ở gần mép, đặt nó ở gần lỗ chân van.
    3. Bôi trơn hai mép lốp mới bằng xà phòng.
    4. Đặt nửa bên dưới của một mép lốp vào vành rồi ép nửa trên vào sau. Chỉ
    sử dụng thanh bẩy ở đoạn cuối cùng cần nhiều lực mà thôi.
    5. Với mép lốp còn lại, nhét phía đối diện với van vào vành, bẩy dần từng
    đoạn ngắn dồn phần cuối tới chân van là vào hết trong vành. Xoay vài vòng
    kiểm tra dải tiếp xúc giữa lốp với vành.
    6. Vừa bơm vừa xoay và động bánh xe xuống đất để các mép lốp tiếp xúc với
    vành tốt hơn. Bơm hơi vào với áp lực lớn hơn quy định một chút để mép lốp
    bị ép chặt với lòng vành, sau đó xả bớt cho tới mức quy định.
    Lưu ý
    - Mỗi khi tháo rời lốp ra khỏi vành là phải thay van hơi mới.
    - Nếu hơi bị thoát ra trong khi bơm thì phải bôi keo vá lốp vào 2 mép, ép chặt
    chúng vào vành và bơm lại.
    III.MÀU CỦA HỆ THỐNG DÂY ĐIỆN XE GẮN MÁY ( áp dụng cho các đời xe WAVE & DREAM)
    1) Xanh lá cây : dây mass của toàn hệ thống
    2) Xanh dương :dây đèn pha chạy từ công tắc cốt pha ra bóng trước
    3) Xanh dương sọc trắng : dây báo xuống của đồng hồ báo xăng chạy từ phao xăng lên đồng hồ
    4) Xanh đọt chuối : dây kèn chạy từ công tắc xuống thẳng kèn
    5) Xanh đọt chuối sọc đỏ : dây báo đèn mo chạy từ chốt báo số lên đồng hồ
    6) Xanh nhạt : dây xinhan phải chạy từ công tắc xi nhan ra bóng xinhan trước và sau + bóng báo đồng hồ
    7) Xanh dương sọc vàng : dây git chạy từ mâm lửa vào thẳng IC
    8) Hồng : dây báo đèn số 4 , chạy từ chốt báo số lên đồng hố
    9) Cam : dây xinhan trái , hạy từ công tắc xinhan đến bóng xinhan trước và sau + bóng báo đồng hồ
    10) Đỏ : dây lửa chạy từ bình lên ổ khóa
    11) Đỏ dây lớn : chạy từ dương acquy đến dương rờ le đề
    12) Đỏ lớn sọc trắng : chạy từ role đến motor đề
    13) Vàng : dây đèn từ cuộn đèn lên công tắc + cục xạc để ổn định đèn pha
    14) Vàng sọc đỏ : dây điều khiển role đề , chạy từ nút đề xuống role đề
    15) Vàng sọc trắng : dây báo lên của đồng hồ báo xăng , chạy từ phao báo xăng lên thẳng đồng hồ
    16) Trắng : dây xạc bình, chạy từ cuộn đèn vào cục xạc
    17) Đen : Dây lửa bình đã qua ổ khóa , chạy hết vào các bộ phận
    18) Đen sọc đỏ : dây lửa chạy thẳng từ cuộn lửa vào thẳng IC
    19) Đen sọc trắng :dây tắt máy chạy từ ổ khóa xuống IC
    20) Đen sọc vàng :dây lửa chạy từ IC ra bobine sườn
    21) Nâu : dây đèn sau, chạy từ công tắc đèn xuống đèn sau + bóng trên đồng hồ taplo
    22) Nâu sọc trắng : dây đèn sương mù, chạy từ công tắc đèn ra bóng sương mù
    23) Xám : Dây nguồn của xinhan , chạy từ cục nháy lên công tắc xinhan
    24) Xanh lá sọc vàng :dây chạy từ công tắc đèn thắng đến đèn thắng
    IV. VẤN NẠN MÙA MƯA
    Khi mùa mưa đến chúng ta thường hay gặp cảnh đường sá lụt lội. Trong điều kiện đó xe của chúng ta (cả xe cũ lẫn mới) có thể sẽ gặp phải tình trang chết máy do nước vào bugi hay vào máy qua ống bô hoặc vào bình xăng con qua lọc gió. Thông thường để giải quyết tình trạng này, moi người thường chọn giải pháp nhanh nhất là đưa xe vào tiệm sửa xe.Nhưng nếu nơi chúng ta đang đúng là 1 vùng hoang vắng thì sao, chẳng lẽ chịu bó tay.Hãy tự mình sửa chữa nhé.Nếu hiện tượng đó xảy ra:
    -Bước 1: Bạn nên dẫn xe của mình lên 1 vị trí khô ráo tránh ngập
    -Bước 2: dùng típ bugi mở bugi theo ngược chiêu kim đồng hồ.
    -Bước 3:lấy bugi ra khỏi thân máy dùng dẻ khô lau sạch, có thể dùng lửa hong khô.
    -Bước 4;lắp bu gi vào dây cao áp, để 1 đầu còn lại lên thân máy sau đó đạp thử lửa, nếu có lửa mạnh là tốt ( nếu ko tin tưởng có thể dùng tay rờ đầu bugi rồi đạp, nếu bi giật mạnh tức lửa tốt…Hà hà)
    -Bước 5:Dùng tay bịt lỗ gắn bugi trên thân máy rồi đạp mạnh vài cái sau đó bỏ tay ra đap tiếp để nhồi máy và đẩy nước ra.
    -Bước 6:lắp bugi lên thân máy bằng cách xiết theo chiều kim đồng hồ cho tới khi thấy cứng tay là được.
    Nếu đã làm vậy mà xe vẫn không nổ thì tiếp tục làm như sau:
    -Dùng vít bake mở cổ gió nối giữa lọc gió và bình xăng ra
    -Dùng vít dẹp mở con ốc xả xăng nằm trên đường ống xả xăng để xả xăng
    Khi xả xăng dùng tay hứng thấy trong xăng có nổi bọt đó là do xăng có lẫn nước.Xả cho tới khi nào xăng hết bọt tức là hết nước.Khóa ốc xả lại rồi đạp nhồi liên tục cho tới khi máy nổ rồi lắp cổ gió lại.Như vậy là chạy tiếp được…Nếu ko chạy được thì bạn nên dắt bộ mà tìm tiệm sửa xe.Chú ý khi xe bị vô nước ở máy thì bạn nên thay nhớt ngay khi về nhà vì nhớt xe lúc này có màu cà phê sữa.
    V.HỆ THỐNG ĐÁNH LỬA CDI TRÊN XE MÁY


    Hình 33)Hệ thống đánh lửa CDI
    Cơ cấu này không sử dụng bộ má vít mà làm việc theo nguyên lý đánh lửa điện dung. Mạch của nó có nhiều linh kiện bán dẫn như điôt, SCR, tụ, điện trở... Trong đó, chi tiết quan trọng nhất là CDI - điều khiển toàn bộ hoạt động của hệ thống.
    Thiết bị trong sơ đồ mạch điện này bao gồm: các cuộn dây đèn, nguồn, tín hiệu đánh lửa, cụm CDI, công tắc máy, bôbin và bugi.

    1.Bảo trì hệ thống đánh lửa CDI
    1. Khi động cơ đang nổ, tuyệt đối không tháo gỡ bất kỳ mối dây nào của CDI ra khỏi mạch.
    2. Duy trì các tiếp điểm, giắc cắm sạch, tiếp xúc tốt và khô ráo, đặc biệt là CDI.
    3. Sử dụng bôbin sườn (biến áp đánh lửa) đúng loại.
    4. Cụm CDI phải được gắn đúng vị trí trên sườn xe, nơi khô ráo và đồ gá cao su chuyên dùng làm giảm chấn động.
    5. Không cắm ngược đầu dây âm, dương trên các cọc bình ăcquy.
    Các hư hỏng thông thường và cách kiểm tra
    1.1. Mất điện thứ cấp, vì một trong các nguyên nhân sau:
    - Giắc cắm tiếp xúc không tốt.
    - Hỏng công tắc điện.
    - Hỏng cuộn tín hiệu.
    - Tiếp mát kém hoặc bôbin sườn hỏng.
    - Cụm CDI hỏng.
    1.2. Khi gặp sự cố trên, trình tự kiểm tra như sau:
    a. Xem kỹ và làm sạch các giắc cắm.
    b. Kiểm tra công tắc điện bằng cách rút đầu đây màu đen sọc trắng dẫn vào nó và thử lửa lại.
    c. Rút ổ cắm từ mâm lửa ra, dùng Ohm kế ở nấc Rx1, đo như sau:
    - Điện trở cuộn nguồn phải trong khoảng 150-700 Ohm, đo trên đầu dây đen sọc đỏ và mát.
    - Cuộn kích phải cho trị số 50-170 Ohm trên hai đầu dây xanh lá cây và xanh nước biển sọc trắng.
    - Đo bôbin sườn theo trị số Ohm ghi trên vỏ (vì thông số này khác nhau trên các loại xe). Với cuộn sơ cấp thì đo trên đầu dây vào và lõi, cuộn thứ cấp được đo giữa lõi và đầu dây bugi.
    d. Khi đã kiểm tra hết các bước nêu trên mà vẫn chưa tìm thấy pan, thay một cụm IC khác đang hoạt động tốt vào thử, để rút ra kết luận về tình trạng của cụm đang dùng.
    VI.CÁCH VÁ LỖ THỦNG CHO LỐP KHÔNG SĂM
    Lốp không săm là công nghệ mới được chế tạo với độ chính xác cao. Mép ghép cực kỳ căng và chính xác của vành với lốp sẽ rất dễ bị sai, hỏng khi tháo lắp thủ công. Do vậy, việc vá những vết thủng trên bánh xe cũng thay đổi theo cách mới.
    Với những lỗ thủng đường kính không quá 6 mm nằm trên mặt đáy lốp, có 2 cách thông dụng để khắc phục như sau:


    Hình 34)Lồng cao su non vào lỗ thủng
    1.Phương pháp thứ nhất có tên gọi là vá dùi, dụng cụ gồm dùi nong lỗ thủng, dùi xâu dây cao su, keo và dây cao su non. Đầu tiên, kiểm tra kỹ mặt ngoài lốp xe để phát hiện hết các lỗ và tác nhân gây thủng (đinh, thuỷ tinh...), rút chúng ra khỏi lốp. Chấm dùi nong vào keo cho trơn rồi làm gọn mép vết thủng, rộng thêm một chút nếu lỗ quá nhỏ so với tiết diện dây cao su non. Bước tiếp theo, nhúng keo và lồng dây vào dùi xâu, gập đôi qua đầu dùi rồi đút ngập dây qua lỗ. Khi rút dùi ra để đầu dây gấp ở lại trong lòng lốp, cắt 2 đầu thừa phía ngoài. Sau vài phút bắt đầu bơm hơi từ từ vào lốp cho đến áp suất chuẩn cho loại lốp đó.

    Hình 35)Bộ dụng cụ vá dùi Singapor

    Các hiệu sửa xe thường thu của khách khoảng 10.000 đồng một nốt vá dùi, còn giá của một bộ dụng cụ dùng cho lái xe tự vá là 70.000 đồng. Có thể áp dụng phương pháp này để vá lốp không săm ngay ở trên xe.
    2.Cách thứ hai là bơm keo chống thủng lốp, áp dụng với loại không săm hoặc bộ săm lốp mới thông thường. Đây là dạng crếp ngâm trong dung môi dễ bay hơi, ở trong lòng lốp xe kín chất này có dạng lỏng và liên tục bị văng bám vào thành lốp bởi lực ly tâm khi bánh xe quay. Khi xuất hiện lỗ thủng trên mặt lốp, keo theo đó tràn ra ngoài và lập tức bay hơi rồi đặc quánh lại vá kín lỗ thoát khí. Ngoài tác dụng vá lỗ thủng, keo còn điền đầy các mép tiếp xúc giữa vành và lốp, giữ kín hơi và bảo vệ lốp lâu dài.
    hình 36)Keo chống thủng Seastar sản xuất tại Hải Phòng

    Một lọ keo 200 ml đủ cho một lốp xe máy có săm, loại không săm thì cần bơm 2 lọ, còn lốp xe du lịch dùng hết 3 lọ loại này. Keo được bơm trực tiếp vào lốp bằng cách tháo ty van hơi ra và bơm keo vào trong.Sau đó, lắp lõi ty trở lại và quay đều lốp vài vòng, nếu là bánh chủ động thì nổ máy gài số cho bánh xe quay, láng đều keo trong lòng lốp. Dân thợ chuyên vá lốp không săm thường khuyên khách hàng dùng hàng nội vì chúng có chất lượng đảm bảo và giá rẻ
    Một lọ Seastar giá khoảng 15.000 đồng, được bán tại những cửa hàng chuyên về lốp không săm, giá dịch vụ bơm keo một lốp là 2.000 với xe máy và 5.000 đồng với ôtô. Các nhà sản xuất keo thường quảng cáo tác dụng của chúng kéo dài đến hết tuổi thọ lốp xe. Nhưng giới thợ khuyên cánh lái xe nên đổ keo mới sau mỗi 4 tháng hoặc 10.000 km, vì thực tế keo sẽ bị khô hoặc lão hóa trong thời h Trên thị trường hiện có cả keo chống thủng lốp của Trung Quốc với giá bán rẻ hơn hàng nội nhưng hầu như không có tác dụng. Còn loại của Thái có dung tích 400 ml, đủ cho 1 lốp xe máy không săm, giá bán khoảng 80.000 đồng. Hầu hết các doanh nghiệp cao su trong nước đều sản xuất sản phẩm này với chất lượng khá đảm bảo, giá bán khoảng 12.000-15.000 đồng/ 200 ml, tại các đại lý hoặc cửa hàng giới thiệu sản phẩm của họ.
    VII.DẦU NHỚT XE GẮN MÁY & NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT








    hình 37)2 loại dầu nhớt thường được sử dụng ở Việt Nam



    1.TIÊU CHUẨN DẦU NHỚT
    Chúng ta cần biết rằng tất cả các hãng sản xuất, kinh doanh dầu nhớt đều phải tuân thủ một tiêu chuẩn kỹ thuật chung rất ngặt nghèo từ Hiệp hội dầu nhờn quốc tế và cũng vì lẽ đó mà tất cả các hãng dầu nhớt trên thế giới đều có tiêu chuẩn chuyển đổi tương đương cho dầu nhờn động cơ thông dụng. Có nghĩa là các loại dầu nhờn đều có tiêu chuẩn giống nhau.
    Ví dụ: chúng ta thấy một số dầu nhờn có hệ chuyển đổi tương đương của dầu động cơ của các hãng dầu có tiếng: Mobil Delvac 11 40/50 tương đương với BP Energol HD 40/50, Total Rubia B40/50, Shell Rotella sx 40/50, Caltex Delo 110 Sea40/50, Castrol Hd 40/50,...
    Vậy dầu nhờn nào dùng cho xe máy và loại nào dùng cho ô tô?
    Thông thường người ta phân loại nhớt theo cấp độ (tính năng của nhớt) và độ nhớt (khả năng bôi trơn) chứ không phân biệt loại nhớt nào dùng cho xe máy, loại nào dùng cho ô tô. Để phân biệt tính năng của nhớt, Viện Dầu mỏ Hoa Kỳ (API) chia nhớt thành nhiều cấp độ từ thấp đến cao, dùng cho động cơ 4 thì, 2 thì, hoặc động cơ diesel, không nên dùng chung một loại nhớt cho tất cả các loại động cơ.
    Với động cơ 4 thì như xe gắn máy, ô tô du lịch
    API phân theo cấp độ từ SA, SB, SC… theo tính năng từ thấp đến cao, phù hợp với đòi hỏi của động cơ tùy theo đời chế tạo. Để phân biệt độ nhớt, người ta dựa trên chỉ số độ nhớt SAE như 5, 10, 15… Viêc phân cấp dầu nhớt nhằm xác định chất lượng lượng dầu và người tiêu dùng có thể căn cứ theo đó để chọn loại dầu đảm bảo chất lượng cho xe của mình.

    - Trong dầu nhớt có chứa những phụ gia tẩy rửa và phân tán. Chúng có nhiệm vụ làm sạch động cơ và giữ các cặn bẩn lơ lửng trong nhớt, không cho chúng lắng xuống các chi tiết máy. Trong quá trình sử dụng, nhớt sẽ dần bị lão hóa và biến tính, do đó sau một thời gian nhất định cần phải thay nhớt mới. Nếu tiết kiệm chỉ châm nhớt mới vào nhớt cũ đang sử dụng sẽ không đảm bảo được các tính năng của nhớt và không phát huy tốt hiệu quả bảo vệ máy móc, động cơ. Vì vậy, chúng ta nên thay nhớt định kỳ đúng theo hướng dẫn của nhà sản xuất quy định.
    - Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của động cơ 4 thì và 2 thì hoàn toàn khác nhau. Trên cơ sở này, các nhà sản xuất dầu nhớt đã nghiên cứu và pha chế các loại dầu nhớt có những tính chất khác nhau phù hợp với từng loại động cơ. Vì vậy không thể sử dụng nhớt 2 thì cho xe 4 thì và ngược lại. Và hiển nhiên ta phải xác định rõ dầu 2 thì chỉ dùng cho việc pha vào xăng cho xe 2 thì, việc pha trộn vào xăng sẽ giúp cho việc bôi trơn pít tông và bạc séc măng của động cơ 2 thì. Còn dầu nhờn cho động cơ thì ta lại phải dùng cho bôi trơn động cơ gồm cả động cơ 4 thì và 2 thì.
    - Màu sắc của dầu hoàn toàn không phản ánh chất lượng của dầu nhớt. Các nhà sản xuất dầu nhớt muốn có màu sắc đặc trưng cho sản phẩm của mình nên đã sử dụng các loại màu sắc khác nhau mà thôi.
    Dầu nhớt đa cấp:
    Về sau, để cải thiện hơn nữa khả năng bôi trơn và bảo vệ động cơ, người ta còn pha chế các loại nhớt có độ nhớt thay đổi theo nhiệt độ còn gọi là nhớt đa cấp (phân biệt với nhớt đơn cấp) thường được ký hiệu thêm chữ W (weather - thời tiết). Ví dụ: 5W50, 15W40,… và thông thường, loại nhớt này được quảng cáo là có khả năng bảo vệ động cơ ngay khi khởi động, do khi động cơ còn nguội, độ nhớt của nhớt rất thấp, dễ dàng bơm đến các nơi cần bôi trơn của động cơ ngay khi động cơ khởi động. Hơn nữa tại các xứ lạnh, nhiệt độ thường rất thấp, nếu dùng nhớt đơn cấp, có khả năng nhớt dễ đông khi xe để qua đêm khiến động cơ không thể khởi động.
    Để chọn đúng loại nhớt thích hợp cho xe máy lẫn ô tô, điều cốt yếu người sử dụng phải xem động cơ đó thích hợp dùng loại nhớt gì, độ nhớt ra sao. Thông thường với các xe mới, nên chọn nhớt loãng đa cấp (10W40 hay 15W40), với các xe mà động cơ đã sử dụng qua thời gian dài nên chọn nhớt đặc đa cấp (20W50, 15W50). Đối với ô tô, thông thường nên chọn nhớt loãng đa cấp (10W40, hay 5W40).
    Theo TS. Lê Kim Diên, Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ lọc hóa dầu, thuộc Viện Hóa học Công nghiệp thì "người sử dụng xe máy tại Việt Nam có thể tìm hiểu các loại dầu nhớt bằng cách xem kỹ nhãn hiệu để chọn loại dầu nhớt có điều kiện phẩm cấp SG, SH, SJ. Không nên dùng dầu phẩm cấp SC, SD nay đã lỗi thời. Với miền Nam thì có thể dùng dầu nhớt có nhiệt độ đông ở 10°C vì thời tiết nóng quanh năm. Còn ở miền Bắc và những vùng có khí hậu lạnh nên dùng dầu nhớt có nhiệt độ đông khoảng 0-5°C".
    Với các loại xe đã cũ như Cub, 82... cũng nên sử dụng dầu chất lượng cao để duy trì sức vận hành tốt, duy trì tuổi thọ động cơ. Bình thường xe mới thay dầu 1.500 đến 2.000km mỗi lần, nhưng với xe cũ thì nên thay khi xe đã đi được 1.000km.

    Cách phân loại dầu động cơ
    Độ nhớt đóng vai trò quan trọng trong tính chất của một loại dầu động cơ. Nếu đánh giá theo độ nhớt của SAE, dầu có chữ "W" là loại đa cấp, dùng trong tất cả các mùa. Khi phân loại theo tính năng API, các ký tự sau chữ "S" hay "C" có thứ tự càng lớn trong bảng chữ cái càng tốt.
    Thay dầu là một trong những thói quen cần có đối với hầu hết những người đi ôtô, xe máy. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều hiểu cặn kẽ về những tính năng, cũng như thông số ghi trên sản phẩm này. Điển hình như chữ “W” trong ký hiệu SEA 10W40 ghi trên các loại dầu nhớt thường được nghĩ là “Weight”, trong khi thực tế nó dùng để chỉ từ “Winter
    Tác dụng và tính chất của dầu nhờn
    Trong động cơ, dầu nhờn có nhiều tác dụng như giảm ma sát giữa hai bộ phận tiếp xúc trực tiếp với nhau, giải nhiệt làm mát, làm kín, chống ăn mòn. Tuy nhiên, tác dụng cơ bản nhất của nó vẫn là giảm ma sát nên độ nhớt là chỉ tiêu có ảnh hưởng quan trọng nhất đến chất lượng của một sản phẩm dầu nhờn thương mại.
    Độ nhớt của dầu thay đổi theo nhiệt độ. Khi ở nhiệt độ cao, độ nhớt giảm và ngược lại. Dầu có độ nhớt thấp dễ di chuyển hơn so với dầu có độ nhớt cao. Ngoài ra, do trọng lượng của các phân tử cấu thành nên dầu nhờn có liên quan trực tiếp đến độ nhớt của nó nên người ta thường gọi thành dầu nặng hay dầu nhẹ. Dầu nhẹ dùng để chỉ loại có độ nhớt thấp, dầu nặng chỉ dầu có độ nhớt cao.
    Trên thực tế, dầu nhẹ dễ bơm và luân chuyển qua động cơ nhanh hơn. Ngược lại, dầu nặng thường có độ nhớt cao, di chuyển chậm hơn nên có áp suất cao hơn nhưng lưu lượng dầu qua bơm lại thấp hơn.
    Phân loại dầu nhờn theo độ nhớt
    Ở phương pháp phân loại theo độ nhớt, các nhà sản xuất dầu nhớt thống nhất dùng cách phân loại của Hiệp hội kỹ sư ôtô Mỹ SAE (Society of Automotive Engineers). Các phân loại của SAE
    tùy thuộc vào sản phẩm dầu đó là đơn cấp hay đa cấp. Dầu đa cấp có độ nhớt thỏa mãn ở nhiều điều kiện nhiệt độ khác nhau còn dầu đơn cấp chỉ đáp ứng ở một nhiệt độ nào đó.
    Hệ thống phân loại của SAE khá phức tạp, nó liên quan tới nhiều khái niệm khác nhau. Tuy nhiên, có thể chỉ ra những yếu tố chính. Đối với dầu đa cấp, sau chữ SAE là tiền tố như 5W, 10W hay 15W, 20W. Những số đứng trước chữ "W" dùng để chỉ khoảng nhiệt độ mà loại dầu động cơ đó có độ nhớt đủ để khởi động xe lúc lạnh. Để xác định nhiệt độ khởi động theo ký tự này, bạn chỉ cần lấy 30 trừ đi các số đó nhưng theo nhiệt độ âm. Ví dụ, dầu 10W sẽ khởi động tốt ở âm 20 độ C, dầu 15W khởi động tốt ở âm 15 độ C.
    Các loại dầu động cơ ở các nước hàn đới thường là loại 5W, 10W, 15W nhưng đa số các sản phẩm ở Việt Nam chỉ là loại 15W hay 20W. Mặc dù không có ý nghĩa quan trọng khi khởi động vì thời tiết ở Việt Nam thường không quá lạnh, nhưng để đạt được các yêu cầu khởi động lạnh, các nhà sản xuất phải thêm vào các chất phụ gia nên dầu có số càng nhỏ thì càng đắt. Loại 15W và 20W có mức giá trung bình nên được các hãng dầu nhờn nhập về hoặc sản xuất ở Việt Nam.
    Đứng sau chữ "W" ở loại dầu đa cấp có thể là chữ 40, 50 hoặc 60. Đây là ký tự dùng để chỉ khoảng độ nhớt ở 100 độ C của các loại dầu nhờn. Thông thường, số càng to thì độ nhớt càng lớn và ngược lại. Ví dụ, với xe hoạt động không quá khắc nghiệt như động cơ ôtô chẳng hạn, chỉ số này ở khoảng 30, 40 hoặc 50 là đủ. Với những động cơ hoạt động ở vùng nhiệt độ cao, chỉ số này phải cao hơn, khoảng trên 60. Do sự thay đổi nhiệt độ nên tùy thuộc mùa mà người ta dùng loại 40 hoặc 50. Trong mùa đông, trời lạnh, nhiệt độ động cơ thấp nên chỉ cần dùng loại nhỏ như 30, 40. Ở mùa hè, nhiệt độ động cơ cao nên có thể dùng loại 50.
    Do đặc tính của dầu đa cấp nên người ta thường gọi nó là "dầu bốn mùa". Khi có chữ "W", khách hàng có thể hiểu nó dùng được cho cả mùa đông và mùa hè.
    Ngoài loại đa cấp, nhiều nhà sản xuất cho ra cả loại dầu đơn cấp và chỉ có ký hiệu như SAE 40, SEA 50. Loại dầu này thường được dùng cho các loại động cơ 2 kỳ, máy nông nghiệp, công nghiệp...
    Phân loại dầu theo tính năng
    Khi phân loại theo tiêu chuẩn này, các nhà sản xuất lại thống nhất phân theo tiêu chuẩn của Viện dầu mỏ Mỹ API (American Petroleum Institute).
    API phân ra theo cấp S (Service) dùng để dành cho dầu đổ vào động cơ xăng và C (Commercial) cho các động cơ diesel. Hiện tại, với động cơ xăng, API phân ra nhiều loại với thứ tự tiến dần từ SA, SB, SC tới mới nhất là SM. Đối với động cơ diesel, API chia thành CA, CD, CC tới CG, CH và CI. Càng về sau, chất lượng sản phẩm càng tốt do các nhà sản xuất phải thêm vào những chất phụ gia đặc biệt để thích nghi với những công nghệ động cơ mới.
    Trên các sản phẩm dầu động cơ thương mại, các nhà sản xuất thường ghi đầy đủ 2 cách phân loại này. Tùy thuộc vào đặc điểm động cơ mà những hãng xe hơi khuyến cáo người tiêu dùng sử dụng loại dầu nào. Bạn có thể tự đánh giá hay lựa chọn cho mình, nhưng tốt hơn cả hãy hỏi ý kiến của các chuyên gia hay nhờ kỹ thuật viên của hãng tư vấn
    BIỂN SỐ XE VIỆT NAM
    Biển dân sự chỉ bắt đầu từ 11


    Theo số thứ tự:

    11. Cao Bằng
    12. Lạng Sơn
    13 + 98. Bắc Giang (cái này để dễ mời các nhà đầu tư vì họ ko chịu đi xe biển 13)
    14. Quảng Ninh
    15,16. Hải Phòng
    17. Thái Bình
    18. Nam định
    19. Phú Thọ
    20. Thái Nguyên
    21. Yên Bái
    22. Tuyên Quảng
    23. Hà Giang
    24. Lào Cai
    25. Lai Châu
    26. Sơn La
    27. Điện Biên
    28. Hoà Bình
    29, 30, 31, 32. Hà Nội
    33. Hà Tây
    34. Hải Dương
    35. Ninh Bình
    36. Thanh Hoá
    37. Nghệ An
    38. Hà Tĩnh
    43. Đà Nẵng
    47. Đak Lak
    48. Đak Nông
    49. Lâm Đồng
    50 -> 59. Tp.HCM
    60. Đồng Nai
    61. Bình Dương
    62. Long An
    63. Tiền Giang
    64. Vĩnh Long
    65. Cần thơ
    66. Đồng Tháp
    67. An Giang
    68. Kiên Giang
    69. Cà Mau
    70. Tây Ninh
    71. Bến Tre
    72. Bà Rịa Vũng Tàu
    73.Quãng bình
    74. Quãng Trị
    75. Huế
    76. Quãng Ngãi
    77. Bình Định
    78. Phú Yên
    79. Khánh Hoà
    81. Gia Lai
    82. Kon Tum
    83.Sóc Trăng
    84. Trà Vinh
    85. Ninh Thuận
    86. Bình Thuận
    88. Vĩnh Phúc
    89. Hưng yên
    90. Hà nam
    92. Quãng Nam
    93. Bình Phước
    94. Bạc Liêu
    95. Hậu Giang
    97. Bắc Kạn
    99. Bắc Ninh.



    Biển đỏ của Bộ Quốc Phòng


    AT ... Binh đoàn 12
    AD ... Quân Đoàn 4 , Binh đoàn cửu long
    BB ... bộ binh
    BC ... Binh chủng Công Binh
    BH ... Binh chủng hoá học
    BS ... binh đoàn Trường Sơn
    BT ... Binh chủng thông tin liên lạc
    BP .... Bộ tư lệnh biên phòng
    HB ... Học viện lục quân
    HH ...Học viện quân y
    KA .. Quân khu 1
    KB ... Quân khu 2
    KC ... Quân khu 3
    KD ... Quân khu 4
    KV ... Quân khu 5
    KP ... Quân khu 7
    KK ... Quân khu 9
    PP... các quân y viện
    QH ... Quân chủng hải quân
    QK , QP ... Quân chủng phòng không không quân
    TC ... Tổng cục chính trị
    TH ... tổng cục hậu cần
    TK .... Tổng cục công nghiệp quốc phòng
    TT ... Tổng cục kỹ thuật
    TM ... Bộ tổng tham mưu
    VT ... Viettel


    Những xe mang biển 80 gồm có:



    Các Ban của Trung ương Đảng
    Văn phòng Chủ tịch nước;
    Văn phòng Quốc hội;
    Văn phòng Chính phủ;
    Bộ Công an;
    Xe phục vụ các đồng chí uỷ viên Trung ương Đảng công tác tại Hà Nội và
    các thành viên Chính phủ;
    Bộ ngoại giao;
    Viện kiểm soát nhân dân tối cao;
    Toà án nhân dân tối cao;
    Đài truyền hình Việt Nam;
    Đài tiếng nói Việt Nam;
    Thông tấn xã Việt Nam;
    Báo nhân dân;
    Thanh tra Nhà nước;
    Học viện Chính trị quốc gia;
    Ban quản lý Lăng, Bảo tàng,
    khu Di tích lịch sử Hồ Chí Minh;
    Trung tâm lưu trữ quốc gia;
    Uỷ ban Dân số kế hoạch hoá gia đình;
    Tổng công ty Dầu khí Việt Nam;
    Các đại sứ quán, tổ chức quốc tế và nhân viên;
    Người nước ngoài;
    Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước;

    Cục Hàng không dân dụng Việt Nam;
    Kiểm toán nhà nước

    Một số biển đặc biệt:




    NN = nước ngoài: gồm có số có 2 chữ số: địa điểm (tỉnh) đăng ký
    số có 3 chữ số: mã nước (quốc tịch người đăng ký)
    3 số khác ở bên dưới: số thứ tự đăng ký

    NG = Ngoại Giao = xe bất khả xâm phạm (tất nhiên xâm phạm được, nhưng phải có sự đồng ý của các cán bộ cao cấp nhất VN và được sự đồng ý của Đại Sứ Quán nước đó.

    các biển A: xe của Công An - Cảnh Sát tương ứng với các tỉnh
    ví dụ: 31A = xe của Công An - Cảnh Sát thành phố Hà Nội
     
  2. 0110
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    18/8/09
    Số km:
    67
    Được đổ xăng:
    2
    Mã lực:
    21
    Xăng dự trữ:
    308 lít xăng
    có thấy hình đâu bác n!
     
  3. sdc1412ss
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    22/6/09
    Số km:
    910
    Được đổ xăng:
    28
    Mã lực:
    51
    Xăng dự trữ:
    216 lít xăng
    cái này vốn dĩ ko có hình nên up lên ko có hình là phải thui,nhưng mình đã hướng dẫn cụ thể rùi,bác đọc kĩ là làm dc thui,cần gì hình
     
  4. hunghung
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    13/4/10
    Số km:
    22
    Được đổ xăng:
    1
    Mã lực:
    0
    Xăng dự trữ:
    54 lít xăng
    thank bc gi do nha, rat hay do.xe xe
     
  5. nali8687
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    18/8/10
    Số km:
    18
    Được đổ xăng:
    0
    Mã lực:
    1
    Xăng dự trữ:
    309 lít xăng
    khong thay hinh dau ca bac oi
     
  6. nali8687
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    18/8/10
    Số km:
    18
    Được đổ xăng:
    0
    Mã lực:
    1
    Xăng dự trữ:
    309 lít xăng
    co hinh van de hinh dung hon bac ah
     
  7. vipro_hy
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    13/7/09
    Số km:
    11
    Được đổ xăng:
    0
    Mã lực:
    1
    Xăng dự trữ:
    106 lít xăng
    oh rat tuyet may a
     
  8. vt05c1b
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    24/10/10
    Số km:
    7
    Được đổ xăng:
    0
    Mã lực:
    1
    Xăng dự trữ:
    354 lít xăng
    Thanks ban nhe
     
  9. gravita 3399
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    13/9/10
    Số km:
    61
    Được đổ xăng:
    0
    Mã lực:
    21
    Xăng dự trữ:
    314 lít xăng
    neu co hinh thi se de hieu hon.cam on bac
     
  10. phanvancan96
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    23/2/16
    Số km:
    176
    Được đổ xăng:
    6
    Mã lực:
    36
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    36 lít xăng
    có cái hình minh họa nữa thì tuyệt .
     
  11. davidmrbin
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    27/12/09
    Số km:
    119
    Được đổ xăng:
    4
    Mã lực:
    31
    Giới tính:
    Nam
    Xăng dự trữ:
    19 lít xăng
    Cho mấy bác nhập môn. Đổ xăng cho bác
     

Chia sẻ trang này