Đang tải...

Cơ bản Tạo hỗn hợp khí đốt trong xi lanh động cơ xăng

Thảo luận trong 'Động cơ' bắt đầu bởi bkhn, 26/5/10.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. bkhn
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    9/7/09
    Số km:
    585
    Được đổ xăng:
    21
    Mã lực:
    36
    Xăng dự trữ:
    -38 lít xăng
    - Nhiên liệu của loại động cơ này là xăng, nó được tạo điều kiện bay hơi và hoà trộn với không khí trong một bộ phận đặc biệt của hệ thống nhiên liệu gọi là bộ chế hoà khí (carburetor), do vậy mà loại động cơ này còn có tên gọi là động cơ carburetor.
    [​IMG]
    - Xăng là loại nhiên liệu lỏng dễ bay hơi có nguồn gốc từ dầu mỏ, được sản xuất bằng một trong hai phương pháp: chưng cất hoặc cracking. Phương pháp chưng cất dầu mỏ để lấy xăng tuy đơn giản nhưng lại cho hiệu suất rất thấp (khoảng 15%) do vậy, hiện nay xăng được sản xuất chủ yếu bằng phương pháp Cracking (hiệu suất 70 %).
    - Xăng được đặc trưng bởi những tính chất cơ bản như: khối lượng riêng, khả năng sinh nhiệt, khả năng bay hơi, khả năng chống kích nổ (trị số Octan).
    - Xăng là thành phần nhẹ nhất trong các sản phẩm chế từ dầu mỏ, khối lượng riêng của xăng nằm trong khoảng 0,6 - 0,78 g/cm3.
    - Khả năng sinh nhiệt của xăng được đặc trưng lượng nhiệt thu được khi đốt cháy hoàn toàn 1 kg nhiên liệu. Các loại xăng ôtô thường có khả năng sinh nhiệt trong khoảng 44100 đến 46200 kJ/kg.
    - Hiện tượng kích nổ có thể xảy ra khi xử dụng loại xăng không thích hợp. Bản chất của hiện tượng này như sau : Trong điều kiện bình thường, tốc độ cháy của của hỗn hợp trong xi lanh vào khoảng 25 - 30 m/s và áp suất trong xylanh tăng tửứ tửứ. Nếu sử dụng xăng không thích hợp thì một phần nhỏ của hỗn hợp khí cháy sẽ bắt lửa và lan truyền với vận tốc rất lớn (tới 200 m/s), lúc này áp suất trong xi lanh tăng đột ngột, tác động lên píttông làm phát ra tiếng gõ đặc trưng và tạo nên độ rung mạnh trong động cơ. Đây chính là hiện tượng kích nổ, hiện tượng này làm động cơ hoạt động mất ổn định, giảm hiệu suất, tăng độ ồn, tăng nhiệt độ, gây mài mòn nhanh các chi tiết (thậm chí làm hỏng các chi tiết), đặc biệt là các chi tiết trong cơ cấu trục khuỷu thanh truyền.
    - Cần phân biệt hiện tượng kích nổ với trường hợp bắt lửa cục bộ trong buồng đốt trước khi bu gi phát tia lửa điện do động cơ quá nóng: lúc này, tại một số điểm trong buồng đốt, muội than bị đốt nóng đỏ trở thành nguồn đốt cháy nhiên liệu thay cho bu gi. Hiện tượng này có thể nhận thấy theo dấu hiệu: sau khi tắt khoá điện, động cơ vẫn còn hoạt động thêm một thời gian ngắn nữa. Hiện tượng này còn có tên gọi là hiện tượng "dieseling" bởi vì động cơ có thể nổ mà không cần đánh lửa giống như trong động cơ diezel.
    - Để đánh giá khả năng chống kích nổ của động cơ xăng, người ta sử dụng trị số Octan. Trị số này càng lớn thì khả năng chống kích nổ càng cao. Đối với các loại xăng ôtô trị số Octan nằm trong khoảng từ 68 đến 98. Động cơ có tỷ số nén càng cao thì đòi hỏi phải sử dụng xăng có trị số Octan càng cao.
    - Có 2 phương pháp đo trị số Octan: phương pháp nghiên cứu và phương pháp mô tơ. Hiện nay, phương pháp nghiên cứu được sử dụng phổ biến và trị số Octan đo được theo phương pháp này được ký hiệu là RON (Research Octane Number).
    - Các loại xăng có trị số Octan xấp xỉ 90 gọi là xăng thường, còn các loại xăng có trị số Octan lớn hơn 95 được gọi là xăng cao cấp (xăng "Super").
    - Để tăng khả năng chống kích nổ của xăng, người ta thường pha thêm các chất phụ gia đặc biệt. Trong suốt một thời gian dài, chì đã là chất phụ gia chống kích nổ chủ yếu cho các loại xăng ôtô. Tuy nhiên, chì là một chất có tính độc hại cao nên ngày nay hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã cấm sử dụng xăng pha chì.
    - Công suất và hiệu suất của động cơ xăng phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của hỗn hợp khí cháy tạo được trong buồng đốt. Đảm bảo chất lượng của hỗn hợp là một viêc khó khăn, bởi lẽ trong động cơ đốt trong, một kỳ làm việc xảy ra rất nhanh. Chẳng hạn, nếu động cơ hoạt động ở tốc độ 2000v/ph thì mỗi kỳ chỉ kéo dài 0,015s, trong khi đó thì nhiên liệu lỏng có tốc độ cháy tương đối chậm. Để có thể tăng tốc độ cháy của nhiên liệu, đáp ứng được yêu cầu làm việc của động cơ thì nó phải được đưa vào trong xi lanh dưới dạng hơi đã được hoà trộn kỹ lưỡng với không khí và đó chính là hỗn hợp khí cháy.
    - Sau khi được hút vào trong xi lanh, hỗn hợp khí cháy bị trộn lẫn với lượng khí đã cháy còn sót lại trong đó tạo thành hỗn hợp làm việc. Tỷ lệ khí sót càng cao thì tốc độ cháy của hỗn hợp càng thấp và việc bắt cháy cũng càng khó khăn hơn. Điều này thường xảy ra khi động cơ hoạt động ở tốc độ thấp, chẳng hạn ở chế độ không tải lượng khí sót rất lớn nên để động cơ có thể hoạt động được bình thường thì hỗn hợp khí cháy phải đậm đặc hơn (hệ số dư lượng không khí a < 1). Nếu tỷ lệ khí sót trong hỗn hợp khí cháy vượt quá 50% thì khả năng bắt cháy không còn nữa và động cơ sẽ bị dừng. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân hạn chế số vòng quay làm việc tối thiểu của động cơ.
    - Hiện nay trên các động cơ xăng, người ta sử dụng 2 phương pháp tạo hỗn hợp khí cháy: bộ chế hoà khí hoặc hệ thống phun xăng.
     

Chia sẻ trang này