Đang tải...

Công nghệ vật liệu ý nghĩa chữ số VIN

Thảo luận trong 'Công nghệ mới' bắt đầu bởi wing, 23/4/09.

Thành viên đang xem bài viết (Users: 0, Guests: 0)

  1. wing
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    26/3/09
    Số km:
    1,174
    Được đổ xăng:
    3
    Mã lực:
    181
    Xăng dự trữ:
    364 lít xăng
    VIN (Vehicle Identification Numbers)
    Là mã số nhận dạng xe, gồm một chuỗi 17 ký tự gồm cả chữ và số, hiện diện trên tất cả các xe lưu thông ở Mỹ và nhiều nước khác. VIN cũng giống như "vân tay" của một chiếc xe. VIN giúp theo dõi các trục trặc, sự thay đổi quyền sở hữu và chống trộm. VIN được gắn chắc chắn vào những xe du lịch, xe tải, và rơ-moóc được sản xuất tại Mỹ sau năm 1981. Khả năng trùng lắp số VIN của hai chiếc xe được sản xuất trong vòng 30 năm là không thể xảy ra. Cơ sở dữ liệu của Motor Vehicle Records sẽ theo dõi các thông tin trên số VIN, như là chiếc xe được kiểm định khi nào, nó được đổi chủ khi nào và liệu nó có dính vụ va chạm nghiêm trọng, bị lật hay bị ngâm nước lụt không.

    Vào năm 1987, Tiêu Chuẩn Phòng Chống Trộm Cắp Xe Cơ Giới của Bộ Giao Thông Vận Tải Mỹ đã buộc các nhà sản xuất gắn số VIN lên các bộ phận chính (như máy, nắp capô, cản trước, sau) của một số dòng xe có nguy cơ bị "đá" cao.

    Trên hầu hết các xe, số VIN hiện diện ở táp lô phía tài, có thể nhìn từ phía ngoài qua kính lái. Thông thường VIN được khắc trên một tấm nhãn gắn trên cửa hoặc bệ cửa bên tài. Đôi khi số VIN còn được in phía bên trong hộc găng tay, và nó hay xuất hiện trên các chứng từ sở hữu hoặc bảo hiểm của xe.

    Chiếc xe này có số VIN bên vách cửa, dễ dàng nhìn thấy từ bên ngoài.

    Bộ Giao Thông Vận Tải Mỹ đã thống nhất qui cách đánh số VIN từ năm 1981. Điều đặc biệt là nó bao gồm cả hệ thống VIN qui định tại Luật Liên Bang, Khoản 565, Chương V, Điều 49. Trước năm 1981, các nhà sản xuất ô tô sử dụng hệ thống số của riêng mình để đóng lên xe bằng các con số riêng biệt. Hệ thống VIN chiếu theo một tiêu chuẩn do Tổ Chức Tiêu Chuẩn Quốc Tế (ISO) phát triển năm 1977: ISO 3779. Các nhà sản xuất sử dụng tất cả các chữ cái và số, ngoại trừ các chứ I, O và Q.

    Cấu trúc của một số VIN


    Mỗi ký tự trong dãy số VIN đều có ý nghĩa cụ thể, và số VIN được chia thành vài đoạn. Đoạn đầu tiên cho biết tên nhà sản xuất chiếc xe đó, đoạn này gồm 3 chữ số:

    Ký tự đầu tiên là chỉ xuất xứ. Nếu chiếc xe đó được lắp ráp từ nhiều bộ phận có xuất xứ từ nhiều nước khác nhau thì chữ số đầu tiên đó sẽ là nước lắp ráp hoàn thiện chiếc xe. Những quốc gia lớn thì được chia thành nhiều vùng. Ví dụ: xe được sản xuất tại Nhật Bản thì sẽ có chữ đầu tiên là "J". Nhưng xe sản xuất tại Mỹ thì có thể là 1, 4 hoặc 5 tùy thuộc vào chiếc xe đó được lắp ráp ở vùng nào.

    Ký tự thứ hai xác định tên hãng xe. Ở Mỹ, mã nhà sản xuất sẽ do hiệp hội SAE (Society for Automotive Engineers) qui định. Ký tự thứ ba dùng để xác định chủng loại xe trong các dòng xe của nhà sản xuất hoặc bộ phận sản xuất chiếc xe đó. Ví dụ: mã số cho những chiếc xe Ford được sản xuất tại Mỹ là 1F và tùy thuộc vào loại xe mà nó có thể là 1FA, 1FB vân vân và vân vân...Xe của GM tại Mỹ sẽ là 1G. Chevrolet là một bộ phận của GM nên sẽ có mã số là 1GC.

    Năm chữ số tiếp theo, từ ký tự thứ tư đến ký tự thứ tám dùng để mô tả chiếc xe. Mỗi hãng xe có cách sử dụng năm ký tự này khác nhau. Dưới đây là ví dụ về cách dùng chung của các ký tự này:

    Ký tự thứ tư có thể là mã số về thông số trọng lượng xe, công suất hoặc cả hai thông số đó.
    Ký tự thứ năm là mã số về loại xe (platform) như là: xe tải mui kín, bán tải (pịk-up), rơ-moóc, vân..vân..
    Ký tự thứ sáu có thể là một mã số đặc biệt của nhà sản xuất, hoặc có thể dùng để xác định một model cụ thể nào đó, như Corvette, Durango hoặc Mustang.
    Ký tự thứ bảy có thể được dùng để xác định thể loại thân xe (body), như là 2 cửa, 4 cửa, hatchback hay mui xếp.
    Ký tự thứ tám sẽ chưa đựng các thông số về động cơ, như số xy-lanh, dung tích.
    Các ký tự từ bốn đến tám cũng có thể được chưa đựng thông tin về loại hộp số, thứ hạng của chiếc xe (ví dụ như Accord LX, DX, Si) hoặc các tính năng khác như dây đai an toàn, túi khí.

    Ba ký tự tiếp theo (từ ký tự thứ chín đến mười một) được các nhà sản xuất thống nhất cách sử dụng:

    Ký tự thứ chín luôn luôn là ký tự để kiểm tra. Các ký tự khác trong dãy số VIN sẽ trải qua một chuỗi các phép tính để cho ra ký tự kiểm tra chính xác. Điều đó cho phép máy tính xác định ngay lập tức là số VIN này đúng hay sai, việc này thường hay xảy ra khi ai đó sao chép bằng tay một số VIN và nhập số đó vào máy tính. Ký tự thứ mười để xác định năm sản xuất. Mỗi năm có một mã số. Từ năm 1980 đến năm 2000, mã số của những năm này là chữ cái, năm 2000 có chữ cái là "Y". Từ năm 2001 thì mã số là chữ số, 2001 là số 1, 2002 là số 2 và tiếp tục như thế cho các năm tiếp theo.

    Sáu ký tự cuối cùng, từ 12 đến 17, là các số sản phẩm liên tục, tuy nhiên các nhà sản xuất cỡ nhỏ có qui mô sản xuất dưới 500 xe mỗi năm sẽ dùng các ký tự thứ 12, 13 và 14 như là các mã số bổ sung của mã nhà sản xuất. Các sô sản phẩm dùng để xác định bản thân chiếc xe đó, nó cũng giống như số sê-ri.

    Bởi vì mỗi nhà sản xuất có mã số khác nhau, và mỗi xe được sản xuất tại cùng một nhà máy có số sê-ri riêng, nên mỗi chiếc xe được sản xuất từ năm 1981 đến nay đều có số VIN độc nhất.

    Liên minh châu Âu (EU) cũng có qui định tương tự về số VIN, nhưng không chặt chẽ bằng qui định ở Bắc Mỹ. Số VIN của châu Âu không bắt buộc bao gồm năm, nhà máy hay thông số thuộc tính của xe. Tuy nhiên, hai hệ thống này lại tương thích với nhau. Trong khi hầu hết các quốc gia đều có một dạng số VIN tương thích với hệ thống VIN Bắc Mỹ, các xe được nhập khẩu vào Mỹ phải khai báo số VIN với cơ sở dữ liệu MRV cùng với đầy đủ thông tin giải thích về các mã số nếu như số VIN đó khác với chuẩn ISO 3779.

    Cách tính toán với mã số kiểm tra (check digit)
    Mã số kiểm tra của số VIN là kết quả của một lô thuật toán. Mỗi chữ cái sử dụng trong số VIN có một giá trị phản hồi, trong khi các con số lại không có gì. Vì thế, số VIN là một chuỗi 17 chữ số (với một khoảng trống ở vị trí thứ chín là chỗ bắt đầu của ký tự kiểm tra. Mỗi vị trí trong số VIN có một trọng lượng -- tích số của con số đó.
    Ví dụ, trọng lượng của một vị trí là tám. Máy tính sẽ nhân chữ số ở vị trí đó với 8. Rồi nó nhân tất cả 16 số còn lại với tích số thích hợp của vị trí của các số đó trong dãy số VIN, cộng các kết quả lại và chia kết quả đó cho 11. Thừa số sẽ là số kiểm tra. Nếu thừa số là 10 thì số kiểm tra sẽ là X.

    Bạn có thể làm gì với một số VIN?

    Muốn biết chiếc xe nào đó đã bị "thuốc" hay chưa?
    Hãy gõ số VIN vào đây để tìm ngay tiểu sử của nó.


    Số VIN không chỉ là một cách dùng để đánh dấu và nhận dạng xe. Bạn có thể có nhiều cách sử dụng nó. Đa số người ta nghĩ ngay đến số VIN khi có ý định mua xe cũ. Nếu chịu trả một khỏan phí nào đó, một số dịch vụ sẽ kiểm tra dùm bạn về tiểu sử của chiếc xe trong các cơ sở dữ liệu của MVR có số VIN mà bạn cung cấp. Bạn sẽ biết được rằng chiếc xe đó đã qua bao nhiêu đời chủ, lần kiểm định gần nhất là khi nào, nó đã bị bao giờ bị "bùa" hoặc đã bị đánh cắp lần nào chưa hay là đã bị lâm nạn nghiêm trọng như bị lật, hoặc bị chìm lần nào chưa. Những dấu hiệu kết quả của tai nạn như thế cũng có thể được phát hiện bởi một người thợ cơ khí lành nghề. Việc kiểm tra số VIN cũng có thể giúp phát hiện xem liệu công tơ mét của xe đã bị quay ngược hoặc bị qua tua chưa (đồng hồ trở về số không sau khi đã quay được hết chu kỳ số của nó)

    Số VIN cũng giúp ngăn cản trộm cắp, bởi vì nó làm cho việc tiêu thụ chiếc xe bị đánh cắp trở nên khó khăn hơn. Nếu ai đó kiểm tra số VIN, người ta sẽ biết ngay là chiếc xe bị "thổi", trừ khi bọn trộm đạo thay bằng cách nào đó làm thay đổi số VIN. Cũng không có gì là cực kỳ khó khăn đối với đám đạo tặc khi chúng thay đổi số VIN, chúng có thể thay số VIN của xe bị chôm với số VIN của xe mà chúng mua hợp pháp. Cảnh sát luôn kiểm tra số VIN để tìm những chiếc xe bị đánh cắp, nhưng bọn đạo tặc thường che đi số VIN trên táp-lô trong khi nhân viên cảnh sát lại không có quyền vào xe để kiểm tra số VIN trên bệ cửa nếu như không có lệnh của tòa án.

    Ảnh: Ed Grabianowski
    Hầu hết các xe đều có miếng nhãn ghi số VIN đính chết vào bệ cửa,
    nhưng cảnh sát chỉ có thể kiểm tra khi có lệnh của tòa án.


    Việc khắc số VIN lên thân xe là một biện pháp làm tăng khả năng ngăn ngừa trộm đạo. Người ta dùng dung dịch a xít loãng để khắc số VIN lên kính lái và các kính cửa sổ. Việc đó làm nản lòng đạo tặc vì một số lý do. Đám trộm không thể gỡ được số VIN nếu không thay kính lái, mà việc này thì quá tốn kém cho nên tiền bán xe còn lại không đáng kể. Việc che chắn hết tất cả các số VIN trên xe cũng khó khăn hơn nhiều, như thế nếu chiếc xe bị ăn cắp, cảnh sát có thể đọc số VIN được khắc trên kính. Một số công ty bán những bộ dụng cụ với mẫu VIN theo xe của bạn cùng với a xít với giá 20 đô. Các đại lý xe và gara cũng chào mời dịch vụ khắc số VIN của xe bạn lên kính, nhưng dĩ nhiên là đắt hơn tự mua về làm.

    Một số cách gian lận số VIN.
    Bọn đạo tặc thường có rất nhiều chiêu để múc số VIN khi chúng chôm và tiêu thụ xe ăn cắp. Bằng cách lấy toàn bộ các phụ tùng rồi vứt bỏ chiếc xe đi. Đợi đến khi công ty bảo hiểm xóa sổ chiếc xe, và đem bán đấu giá. Bọn đạo tặc sẽ mua lại chiếc xe với giá rất rẻ, sau đó nhanh chóng tái lập lại tình trạng chiếc xe như lúc mới bị đánh cắp bằng cách lắp tất cả những phụ tùng chúng đã gỡ trước đó rồi đăng ký một cách hợp pháp, kể cả số VIN.

    Có những tên trộm lại chôm các tấm nhãn chứa số VIN ở các xe hợp pháp. Chủ xe thường không để ý vì có mấy ai kiểm tra mấy tấm VIN đó hàng ngày? Rồi bọn trộm đem tấm VIN mới lấy đó lắp lên chiếc xe chúng trộm được. Còn có một cách khác là mua xác xe ở mấy bãi hủy và dùng số VIN của cái xác xe đó. Nhưng đa số trường hợp như thế là số VIN không phù hợp với đời xe, năm sản xuất nếu như ai đó kiểm tra, nhưng bọn trộm thường thì tìm các số VIN gần trùng với loại xe để luộc lại số VIN. Chính vì hầu hết người mua xe không kiểm tra số VIN, cho nên bọn trộm thường bán xe xong và lặn mất tăm khá lâu trước khi ai đó nhận thấy có dấu hiệu đáng ngờ về chiếc xe.

    bạn nào thích có hình thì load file này về đọc nhé:http://www.mediafire.com/?sharekey=d9ab58ec68462d881bee9a6e9edd9c76c9d12b75de782cfcce018c8114394287
     
  2. smsvietnam
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    7/8/09
    Số km:
    12
    Được đổ xăng:
    0
    Mã lực:
    1
    Xăng dự trữ:
    114 lít xăng
    Tra cứu nguồn gốc, lịch sử của xe ô tô qua số VIN

    Để tra cứu nguồn gốc, lịch sử của xe ô tô qua số VIN bằng tin nhắn SMS:

    Soạn tin: VIN <Số-VIN> gửi 8779

    Ví dụ: VIN WBAEC8419J3267441 gửi 8779

    [​IMG]
     
  3. fliffper
    Offline

    DÂN CHƠI XA LỘ
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    11/4/09
    Số km:
    250
    Được đổ xăng:
    52
    Mã lực:
    51
    Xăng dự trữ:
    438 lít xăng
    cái số vin quan trọng cho dân sửa xe lắm đó nha .... xài máy check mà không hiểu số vin là không check đc đâu
     
  4. smsvietnam
    Offline

    Tài xế O-H
    Expand Collapse

    Tham gia ngày:
    7/8/09
    Số km:
    12
    Được đổ xăng:
    0
    Mã lực:
    1
    Xăng dự trữ:
    114 lít xăng
    Đúng thế đấy, mã VIN phải chính xác thì check mới có kết quả
     

Chia sẻ trang này